Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm nhẹ do các nhà đầu tư lo ngại cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung chưa kết thúc sẽ tiếp tục tác động tiêu cực tới kinh tế Mỹ.
Kết thúc phiên, dầu Brent trên sàn London giảm 61 US cent xuống 58,74 USD/thùng, trong khi dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 78 US cent xuống còn 52,81 USD/thùng. Đầu phiên, có lúc giá dầu Brent giảm hơn 1 USD sau khi có báo cáo cho hay chỉ số sản xuất của Trung Quốc trong tháng 9/2019 giảm mạnh nhất trong vòng hơn 3 năm và nhập khẩu vào thị trường này trong tháng 9/2019 giảm tháng thứ 5 liên tiếp.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cảnh báo những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung sẽ khiến kinh tế thế giới trong năm 2019 tăng trưởng ở mức thấp nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Tuy nhiên, IMF cho rằng sản lượng dầu thế giới sẽ hồi phục sau khi Mỹ và Trung Quốc dỡ bỏ các mức thuế áp dụng đối với hàng hóa của nhau.
Lượng dầu dự trữ của Mỹ dự kiến tăng trong tuần này cũng tạo sức ép đối với giá dầu. Theo kế hoạch, Viện Dầu mỏ Mỹ và Cơ quan Thông tin Năng lượng nước này sẽ lần lượt công bố các báo cáo về lượng dầu dự trữ của Mỹ trong ngày 16/10 và 17/10.
Tổng Thư ký Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) Mohammad Barkindo cho biết OPEC và các nước liên minh sản xuất dầu sẽ nỗ lực tối đa để duy trì sự ổn định của thị trường dầu mỏ sau năm 2020.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm khi giới đầu tư lại hướng tới những tài sản có độ rủi ro cao như chứng khoán.
Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay giảm 0,8% xuống còn 1.481,40 USD/ounce; vàng giao sau giảm 0,9% xuống 1.483,50 USD/ounce.
Theo các chuyên gia, thị trường chứng khoán Mỹ đã tăng điểm mạnh mẽ trước những báo cáo lợi nhuận tích cực của các doanh nghiệp nước này, trong khi Mỹ và Trung Quốc đã đạt được một phần thỏa thuận thương mại, làm dấy lên hy vọng về khả năng kết thúc cuộc chiến thương mại kéo dài hơn một năm qua. Chiến lược gia thị trường kỳ cựu Bob Haberkorn của RJO Futures nhận định, hiện tại sự đi lên của thị trường chứng khoán đang thu hút giới đầu tư, qua đó khiến giá vàng giảm nhẹ. Chỉ số công nghiệp Dow Jones trong phiên này tăng 0,9% lên 27.024,80 điểm, S&P 500 tăng 1% lên 2.995,68 điểm và Nasdaq tăng 1,2% lên 8.148,71 điểm.
Về những kim loại quý khác, giá palađi tiếp tục đà đi lên với mức tăng 1,1% lên 1.733,06 USD/ounce, sau khi có lúc đã đạt tới mức cao kỷ lục 1.739,93 USD/ounce. Như vậy, kể từ đầu tháng 8/2019 đến nay, giá palađi đã tăng hơn 300 USD. Trong khi đó, giá bạc giảm 1,4% xuống còn 17,40 USD/ounce còn giá bạch kim giảm 1,2% xuống 882,08 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nickel đảo chiều tăng sau khi giảm ở phiên trước, trong khi đồng bị áp lực giảm bởi lo lắng về tăng trưởng kinh tế yếu.
Trên sàn London, kết thúc phiên, giá nickel tăng 2,4% lên 16.995 USD/tấn. Lượng nickel lưu kho ở sàn LME tăng lần đầu tiên trong hơn 2 tuần sau khi giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 7 năm.
Trong khi đó, giá đồng giảm 0,8% xuống 5,773 USD/tấn do lo ngại về tăng trưởng kinh tế sau khi số liệu kinh tế của Trung Quốc không khả quan.
Sắt và thép cũng giảm trong phiên vừa qua. Tại Trung Quốc, nước nhập khẩu quặng lớn nhất thế giới, giá quặng sắt xuống mức thấp nhất gần 3 tuần sau khi công ty khai mỏ Vale SA của Brazil báo cáo sản lượng tăng trong quý 3/2019.
Hợp đồng quặng sắt được giao dịch nhiều nhất trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên đóng cửa giảm 1,2% xuống 644 CNY (91,05 USD)/tấn, sau khi giảm khoảng 3,3% lúc đầu phiên xuống mức thấp nhất kể từ ngày 26/9/2019.
Vale, nhà xuất khẩu quặng sắt hàng đầu thế giới và là nguồn cung quặng cao cấp chủ chốt của Trung Quốc, thông báo sản lượng tăng 35,4% trong quý 3/2019 so với quý trước đó, lên 86,7 triệu tấn. Nguồn cung quặng sắt đang cải thiện từ Brazil và Australia đã thúc đẩy dự trữ ở Trung Quốc lên mức cao nhất 5 tháng, là 129,95 triệu tấn. Vale cũng dự kiến nâng sản lượng tại Vargem Grande lên khoảng 50 triệu tấn vào cuối năm 2021.
Nhà đầu tư đang dấy lên lo ngại nhu cầu quặng sắt tại Trung Quốc (nơi chiếm khoảng một nửa sản lượng thép thế giới) sẽ chậm lại do những nỗ lực mới để hạn chế ô nhiễm môi trường bằng cách giảm hoạt động của các nhà máy thép tại một số khu vực.
Giá thép tiếp tục sụt giảm sau khi số liệu cho thấy doanh số bán ô tô tại Trung Quốc giảm tháng thứ 15 liên tiếp trong tháng 9/2019, làm giảm hy vọng về sự đảo ngược xu hướng trong 6 tháng cuối năm.
Thép cây giao dịch trên sàn Thượng Hải giảm 1,7% xuống 3.346 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 30/8/2019; thép cuộn cán nóng giảm 1,3% xuống 3.331 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 3/4/2019; thép không gỉ giảm 2,1% xuống 15.440 CNY/tấn, theo xu hướng giá nickel trên sàn Thượng Hải.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2019 giảm 0,4 US cent, tương đương 0,4%, xuống 94,45 US cent/lb. Triển vọng sản lượng năm tới ở Brazil sẽ tăng đang ảnh hưởng tới xu hướng giá hiện tại. Robusta kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn London giảm 12 USD tương đương 0,9% xuống 1.264 USD/tấn.
Trái với cà phê, giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2020 lúc đóng cửa tăng 0,07 US cent hay 0,56% lên 12,59 US cent/lb. Đường trắng kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn London tăng 2,4 USD hay 0,7% lên 347,6 USD/tấn. Chênh lệch giá đường trắng kỳ hạn tháng 12/2019 so với tháng 3/2020 hiện đạt 4,2 USD, cho thấy nguồn cung trong ngắn hạn bị thắt chặt.
Đồng real của Brazil mạnh so với USD nên không khuyến khích các nhà xuất khẩu tại Brazil, quốc gia sản xuất đường hàng đầu thế giới, bán các hàng hóa định giá bằng USD như đường và cà phê.
Tuy nhiên, đà tăng của giá đường bị hạn chế bởi các nhà sản xuất hiện còn lượng tồn trữ nhiều nhất trong vòng 2 năm qua và sẽ tranh thủ bán ra mỗi khi giá tăng.
Đối với mặt hàng cao su, giá tại Tokyo tăng nhẹ trong khi tại Thượng Hải giảm. Cao su kỳ hạn tháng 3/2020 trên sàn TOCOM đóng cửa tăng 0,1 JPY lên 163,5 JPY/kg; hợp đồng kỳ hạn tháng 1/2029 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 135 CNY (19,08 USD) xuống 11.530 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới
ĐVTGiá+/-+/- (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng52,81-0,78
Dầu BrentUSD/thùng58,74-0,61 
Dầu thô TOCOMJPY/kl37.130,00-220,00-0,59%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu2,35+0,01+0,26%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon161,79+0,35+0,22%
Dầu đốtUS cent/gallon191,61+0,61+0,32%
Dầu khíUSD/tấn581,50-2,00-0,34%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl54.280,00-140,00-0,26%
Vàng New YorkUSD/ounce1.483,50-0,9%
Vàng TOCOMJPY/g5.170,00-15,00-0,29%
Bạc New YorkUSD/ounce17,47+0,08+0,47%
Bạc TOCOMJPY/g60,90-0,70-1,14%
Bạch kimUSD/ounce885,77+0,41+0,05%
PalađiUSD/ounce1.738,23+1,38+0,08%
Đồng New YorkUS cent/lb260,20-1,20-0,46%
Đồng LMEUSD/tấn5.773,00-45,00-0,77%
Nhôm LMEUSD/tấn1.728,00+8,00+0,47%
Kẽm LMEUSD/tấn2.438,00+18,00+0,74%
Thiếc LMEUSD/tấn16.680,00+160,00+0,97%
NgôUS cent/bushel390,75-2,50-0,64%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel506,25-0,75-0,15%
Lúa mạchUS cent/bushel298,00+1,50+0,51%
Gạo thôUSD/cwt11,880,00-0,04%
Đậu tươngUS cent/bushel933,25-0,75-0,08%
Khô đậu tươngUSD/tấn307,800,000,00%
Dầu đậu tươngUS cent/lb30,33-0,06-0,20%
Hạt cải WCECAD/tấn461,00-0,40-0,09%
Cacao MỹUSD/tấn2.522,00+73,00+2,98%
Cà phê MỹUS cent/lb94,45-0,40-0,42%
Đường thôUS cent/lb12,59+0,07+0,56%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb100,15+0,75+0,75%
BôngUS cent/lb63,23-0,30-0,47%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet372,70-7,80-2,05%
Cao su TOCOMJPY/kg163,10-0,40-0,24%
Ethanol CMEUSD/gallon1,46+0,03+2,03%

Nguồn: VITIC/ Reuters, Bloomberg