gioithieu
Trang chủ Tin tức

Tin tức

Trung Đông – “mỏ vàng” chưa khai phá cho hàng hóa Việt chất lượng cao

 Thị trường Trung Đông có tính thanh khoản cao, đòi hỏi chất lượng hàng hóa nghiêm ngặt có thể thành “mỏ vàng” cho hàng hóa chất lượng cao của Việt Nam.

Trung Đông là khu vực có vị trí địa lý chiến lược quan trọng, tiếp giáp với cả ba châu lục châu Á, châu Âu và châu Phi, là địa bàn trung chuyển hàng hóa đi các khu vực xung quanh, đặc biệt Dubai hiện trở thành thị trường trung chuyển hàng hóa lớn thứ ba trên thế giới.

trung dong - "mo vang" chua khai pha cho hang hoa viet chat luong cao hinh 1
Nông sản là thế mạnh của doanh nghiệp Việt Nam đối với thị trường Trung Đông – châu Phi.

Những mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam sang Trung Đông hiện nay là rau, củ quả, thủy sản, điện thoại di động, giày dép, dệt may, xơ sợi dệt, gạo, hạt tiêu, gỗ và sản phẩm gỗ, hạt điều, cà phê…

Trong những năm qua, thương mại Việt Nam – Trung Đông liên tục tăng trưởng cao, năm 2016, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 12 tỉ USD; đến năm 2018 con số này là gần 14 tỉ USD, trong đó, Việt Nam xuất khẩu đạt hơn 8,7 tỉ USD và nhập khẩu gần 3 tỉ USD.

Theo bà Phan Thị Thanh Nhàn, Giám đốc Trung tâm tác nghiệp tài trợ thương mại Ngân hàng BIDV, Trung Đông là một trong những thị trường có tính thanh khoản cao và đáng tin cậy. Vấn đề duy nhất là thị trường này đòi hỏi chất lượng hàng hóa rất cao với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt.

Đại diện Bộ Công Thương cho biết, điểm khác của thị trường Trung Đông là yêu cầu chứng nhận hàng hóa, sản phẩm từ bên thứ ba có uy tín chứ không chấp nhận tự chứng nhận của doanh nghiệp đưa ra. Đây là một trong những điểm doanh nghiệp cần chú ý nếu muốn xuất khẩu sản phẩm vào thị trường này.

Bà Dương Thị Bích Diệp, Phó Tổng Giám đốc Lavigroup, một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, rau củ quả, chia sẻ, thị trường xuất khẩu truyền thống của công ty tập trung ở khu vực Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Trung Quốc. Hiện, LaviGroup đang đặc biệt quan tâm thị trường khu vực Trung Đông – châu Phi và xác định đây sẽ là thị trường mang tới sự phát triển đột phá cho doanh nghiệp.

“Trung Đông – châu Phi, nhất là khu vực Trung Đông đối với chúng tôi là một điểm đến mới rất hấp dẫn vì Việt Nam hiện đã có quan hệ ngoại giao với 69/70 quốc gia tại đây. Trước hết phải nói đến nhu cầu, vì nhu cầu là yếu tố quyết định thị trường đối với các doanh nghiệp. Trung Đông – châu Phi có nhu cầu rất lớn đối với nông sản Việt Nam”, bà Diệp cho hay.

“Các quốc gia có thu nhập cao như ở Trung Đông đòi hỏi rất khắt khe không chỉ về khẩu vị, chủng loại, mẫu mã mà đặc biệt kiểm soát tiêu chuẩn chất lượng,  an toàn vệ sinh thực phẩm, nguồn gốc xuất xứ sản phẩm cũng như nguyên liệu đầu vào chặt chẽ. Đây cũng là một lợi thế của Lavigroup”, bà Diệp cho biết thêm.

Theo ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tiềm năng của thị trường Trung Đông-châu Phi là rất lớn và phù hợp, tương thích với các sản phẩm có thế mạnh của Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn duy trì hợp tác lâu dài với các nước khu vực Trung Đông, ngoài giải bài toán về đảm bảo ổn định về chất lượng sản phẩm, sự khác biệt về hệ thống pháp luật hay truyền thống văn hóa cũng là những rào cản không nhỏ với doanh nghiệp Việt.

Do đó, các cấp, ngành chức năng giữa Việt Nam và Trung Đông – châu Phi cần tiếp tục có thêm những hành động mạnh mẽ, quyết liệt và cụ thể hơn để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Ông Phòng khẳng định: “Với sự nỗ lực thực sự của các bên, tôi tin rằng, kết quả kinh tế, thương mại và hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác chắc chắn sẽ còn gia tăng”.

Ông Phòng cũng cho rằng: “Các cơ quan quản lý Nhà nước cần nỗ lực nhiều hơn, quyết liệt hơn trong việc tìm kiếm các giải pháp và phương thức chung bằng những thỏa thuận hay quy chế phối hợp mang tính ràng buộc, hướng dẫn để hỗ trợ và củng cố niềm tin trong doanh nghiệp. Có như vậy hoạt động đầu tư, hợp tác trao đổi thương mại giữa doanh nghiệp Việt Nam-Trung Đông và châu Phi mới có cơ hội được thúc đẩy”.

Đa phần doanh nghiệp Việt Nam đều ở quy mô nhỏ và vừa, không thể tự mình bươn chải, nhất là ở khu vực cách trở về địa lý như Trung Đông – châu Phi. Chính vì lẽ đó, rất cần sự phối hợp hơn nữa và quyết liệt hơn của các cơ quan quản lý, cũng như các hiệp hội doanh nghiệp… Có như vậy, các doanh nghiệp Việt mới đủ niềm tin và điều kiện để khai phá thị trường rất tiềm năng như Trung Đông-châu Phi./.

Vận tải hàng hóa tháng 8-2019 đạt 140,1 triệu tấn

Trong tháng 8 vừa qua, vận tải hàng hóa của Việt Nam đã tăng 0,4% so với tháng trước và duy trì đà tăng trưởng tốt kể từ đầu năm.

van tai hang hoa thang 8 2019 dat 1401 trieu tan

Cụ thể, trong tháng 8-2019, vận tải hàng hóa đã đạt 140,1 triệu tấn, tăng 0,4% so với tháng trước và 27,1 tỷ tấn.km, tăng 1,3%.

Tính chung 8 tháng của năm 2019, vận tải hàng hóa đạt 1.102,7 triệu tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước và 210,5 tỷ tấn.km, tăng 7,4%.

Trong đó, vận tải trong nước đạt 1.080,5 triệu tấn, tăng 8,9% và 118 tỷ tấn.km, tăng 10,6%, vận tải ngoài nước đạt 22,2 triệu tấn, tăng 3,2% và 92,5 tỷ tấn.km, tăng 3,6%.

Nếu xét theo ngành thì đường bộ đứng đầu với 847,1 triệu tấn, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước và 56,7 tỷ tấn.km, tăng 10,2% sau đó là đường thủy nội địa đạt 198,4 triệu tấn, tăng 5,3% và 41,5 tỷ tấn.km, tăng 6%.

Tiếp theo là đường biển đạt 53,6 triệu tấn, tăng 5,1% và 109,3 tỷ tấn.km, tăng 6,9%, đường hàng không đạt 285,7 nghìn tấn, tăng 12,2% và 730,7 triệu tấn.km, tăng 12,8%.

Còn riêng với ngành đường sắt, trong 8 tháng vừa qua, vận tải hàng hóa qua đây chỉ đạt 3,3 triệu tấn, giảm 11,3% và 2,4 tỷ tấn.km, giảm 9,3%.

CK

Xuất khẩu giày dép đang tập trung ở 5 thị trường lớn

Theo Sở Công thương, các doanh nghiệp trên địa bàn Đồng Nai hiện đã xuất khẩu giày dép vào hơn 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới  và tại hầu hết các thị trường tiêu thụ giữ được mức tăng trưởng khá từ đầu năm đến nay. Trong đó có 5 thị trường xuất khẩu chính là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Bỉ, Đức, Anh.

Sản xuất giày dép xuất khẩu tại Công ty cổ phần giày dép cao su màu (TP.Biên Hòa)
Sản xuất giày dép xuất khẩu tại Công ty cổ phần giày dép cao su màu (TP.Biên Hòa)

Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu giày dép trong 8 tháng của năm 2019 đạt trên 2,76 tỷ USD, chiếm gần 22% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Đây cũng là nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của tỉnh. Thị trường chiếm thị phần cao nhất trong xuất khẩu giày dép của Đồng Nai từ đầu năm đến nay là Hoa Kỳ với kim ngạch trên 1 tỷ USD, tiếp đến là Trung Quốc với 405 triệu USD, Bỉ xếp thứ 3 với 358 triệu USD, Đức xếp thứ 4 với 108 triệu USD và Anh xếp thứ 5 với 106 triệu USD. Ở những thị trường trên, kim ngạch xuất khẩu qua các năm đều giữ được mức tăng trưởng từ 11,4-24,8%/năm.

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế và cơ quan quản lý, sản xuất, xuất khẩu giày dép từ đầu năm đến nay tiếp tục tăng trưởng cao là nhờ doanh nghiệp trong ngành đã có sự chuẩn bị chu đáo và tận dụng khá tốt các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do mang lại.

Tin, ảnh: Hương Giang

Giá vàng hôm nay 12/9: Vàng sẵn sàng lấy lại mốc 42 triệu đồng/lượng

Vàng thế giới quay trở lại mốc 1.500 USD/ounce để chờ đợi độn thái từ ECB. Vàng trong nước giao dịch dưới 42 triệu đồng/lượng.

Thị trường thế giới
Đến thứ 4, vàng đã có dấu hiệu thoát khỏi chuỗi giảm giá bốn ngày liên tiếp. Tuy nhiên, các nhà giao dịch đã quay trở lại với kim loại màu vàng với kỳ vọng rằng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ cắt giảm lãi suất và những động thái tương tự đến từ Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) .
Hợp đồng tương lai vàng của Mỹ đã trở lại trên mức 1.500 USD/ounce. Vàng giao hàng kỳ hạn tháng 12 tăng 4 USD, tương đương 0,3% ở mức 1.503,20 USD/ounce trên bộ phận Comex của Sàn giao dịch hàng hóa New York.
Vào thứ 3, giá vàng hợp đồng tháng 12 đạt mức thấp trong tháng ở 1.494,45 USD/ounce.

Vàng giao ngay, phản ánh các giao dịch bằng vàng thỏi, vẫn ở mức dưới 1.500 USD/ounce. Mặc dù giá vàng này đã tăng 11,73 USD, tương đương 0,8%, lên 1.497,06 USD/ounce.

Vào thứ 3, vàng thỏi đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 13 tháng 8 là 1.486,59 USD/ounce.

Vàng hiện đang nghỉ ngơi khi các nhà giao dịch chờ đợi kết quả của cuộc họp chính sách ECB vào thứ 5.

ECB được dự kiến sẽ tham gia vào xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ toàn cầu. Trong những ngày gần đây, thị trường đã đặt cược niềm tin vào điều này.

Hy vong của các nhà đầu tư càng được củng cố sau khi một số quan chức hàng đầu của ECB bày tỏ sự lo ngại về việc nối lại các giao dịch mua trái phiếu quy mô lớn. Số khác quan ngại rằng bất kỳ thái tích cực nào xảy ra lúc này đều trở thành thách thức đối với Chủ tịch ECB – Christine Lagarde.

Lagarde dự kiến sẽ đảm nhiệm chức vu chủ tịch ECB thay Mario Draghi vào tháng 11.

Cuộc họp của ECB sẽ là cơ sở cho cuộc họp chính sách riêng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ vào tuần tới, nơi các mà thị trường mong đợi sẽ cắt giảm 25 điểm cơ bản.

Nội dung tweet của Tổng thống Donald Trump vào thứ 4 trước đó đã tạo ra một ap lực mới đối với Fed. Ông cho rằng Fed nên cắt giảm tới mức 0, hoặc thấp hơn.

Các động thái gần đây trong thị trường rủi ro đã chứng kiến các nhà giao dịch giảm bớt kỳ vọng của họ về việc cắt giảm lãi suất của Fed.

Tuần trước, cả Trung Quốc và Nga đều nới lỏng chính sách tiền tệ, sau đó đã cắt giảm lãi suất cơ bản xuống mức thấp nhất trong 5 năm là 7,00%.
Những cuộc giao dịch của vàng trong thời gian này phần lớn phụ thuộc vào tình hình chính trị căng thẳng và niềm tin của thị trường đối với những chính sách mới của các ngân hàng trung ương.
Gia vang hom nay 12/9: Vang san sang lay lai moc 42 trieu dong/luong
Thị trường trong nước
Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 41,30 triệu đồng/lượng (mua vào) và 41,72 triệu đồng/lượng (bán ra). Chênh lệch mua-bán ở mức 420 nghìn đồng/lượng.

Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 41,40 triệu đồng/lượng (mua vào) và 41,80 triệu đồng/lượng (bán ra). Chênh lệch mua-bán ở mức 400 nghìn đồng/lượng.

Chốt phiên ngày 11/9 đa số các cửa hàng vàng 9999 giảm 100 ngàn đồng cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên liền trước.
Quỳnh Hoa

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 12/9: USD giao dịch ở mức 23.270 đồng

Vào thứ 4, USD đã hồi phục trở lại khi lợi suất trái phiếu của Hoa Kỳ tiếp tục tăng cao trên dữ liệu lạm phát nóng, trong khi giá dầu thô của Mỹ giảm cũng tiếp tục hỗ trợ giá cho đồng bạc xanh.

Thị trường thế giới
Chỉ số đô la Mỹ, đo lường đồng bạc xanh so với rổ có trọng số thương mại gồm sáu loại tiền tệ, tăng 0,33% lên 98,65 điểm.
EUR / USD đã giảm 0,31% xuống 1.101 USD đổi 1 euro trước cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu, với nhiều người kỳ vọng ngân hàng trung ương sẽ kích thích nền kinh tế với những chính sách mới.

USD / JPY tăng 0,21% lên 107,75 yên đổi 1 USD và GBP / USD giảm 0,15% xuống 1,233 USD đổi 1 bảng Anh.

Bộ Lao động cho biết chỉ số giá sản xuất của họ tăng 0,1% trong tháng trước, phù hợp với dự báo của các nhà kinh tế.

Trong 12 tháng tính đến tháng 8, PPI tăng 1,8%, vượt qua con số mong đợi là 1,7%.

PPI cốt lõi, không bao gồm giá lương thực và năng lượng, đã tăng 0,3% trong tháng 8,  (con số dự kiến là 0,2%). Mức tăng hàng năm là 2,3%, vượt trên mức ước tính là 2,2%.

“Sự gia tăng trong tốc độ của giá bán buôn hỗ trợ cho quan điểm lạm phát chung rằng một thị trường lao động chặt chẽ và một nền kinh tế chặt chẽ – không bao gồm sản xuất – đang bắt đầu một sự đón đầu khiêm tốn trong áp lực giá cơ bản” – Tổ chức tư vấn kinh tế Pantheon Macroeconomics cho biết.

Dữ liệu lạm phát làm giảm kỳ vọng rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất mạnh mẽ tại cuộc họp vào tuần tới. Những hành động sắp tới của Fed có thể sẽ đánh vào lãi suất kho bạc, với mục đích khiến lãi suất Kho bạc 10 năm tăng khoảng 2% đến 1,735%.

USD cũng đạt được mức tăng so với đồng loonie, với giao dịch USD / CAD tăng 0,36% sau khi giá dầu giảm. Mặc dù mức tăng của các kho dự trữ dầu thô thuộc Mỹ lớn hơn dự kiến .

Các loonie bắt đầu cuộc giao dịch bằng sự lo lắng về những bất ổn chính trị ở Canada trước cuộc bầu cử vào ngày 21 tháng 10.

Đảng Tự do của Thủ tướng Canada Justin Trudeau dự kiến sẽ giành chiến thắng, mặc dù không chiếm số lượng lớn.

Ty gia ngoai te hom nay 12/9: USD giao dich o muc 23.270 dong-Hinh-2
Thị trường trong nước

Ngân hàng mua ngoại tệ (USD)

Ngân hàng SCB đang mua tiền mặt USD với giá thấp nhất là: 23.055 VND / 1 USD

Ngân hàng TPBank đang mua chuyển khoản USD với giá thấp nhất là: 23.130 VND / 1 USD

Ngân hàng Đông Á, HSBC, Kiên Long đang mua tiền mặt USD với giá cao nhất là: 23.150 VND / 1 USD

Ngân hàng SCB đang mua chuyển khoản USD với giá cao nhất là: 23.160 VND / 1 USD

Ngân hàng bán ngoại tệ (USD)

Ngân hàng Agribank, Đông Á, Eximbank, Kiên Long đang bán tiền mặt USD với giá thấp nhất là: 23.240 VND / 1 USD

Ngân hàng Đông Á đang bán chuyển khoản USD với giá thấp nhất là: 23.240 VND / 1 USD

Ngân hàng TPBank đang bán tiền mặt USD với giá cao nhất là: 23.270 VND / 1 USD

Ngân hàng HSBC, SCB đang bán chuyển khoản USD với giá cao nhất là: 23.250 VND / 1 USD

Quỳnh Hoa

Giá cà phê hôm nay 11/9: Tiếp tục tăng 3 ngày liên tiếp, lên trên 33.000 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay 11/9 tiếp tục tăng 500 đồng/kg, dao động trong khoảng 32.800 – 33.400 đồng/kg.

Giá cà phê hôm nay ở hầu hết tỉnh khu vực Tây Nguyên tăng 500 đồng/kg, dao động trong khoảng 32.800 – 33.400 đồng/kg.

Trong đó, giá cà phê cao nhất ghi nhận tại Đắk Lắk, thấp nhất tại Lâm Đồng, theo giacaphe.com.

Giá cà phê quanh cảng TP HCM tăng 9 USD/tấn lên 1.522 USD/tấn.

TT nhân xôGiá trung bìnhThay đổi
FOB (HCM)1.522Trừ lùi:+195
Gia ca phe hom nay 11/9: Tiep tuc tang 3 ngay lien tiep, len tren 33.000 dong/kgĐắk Lăk33.900+500
Lâm Đồng32.800+500
Gia Lai33.400+500
Đắk Nông33.400+500
Hồ tiêu43.5000
Tỷ giá USD/VND23.1400
Đơn vị tính: VND/kg|FOB: USD($)/tấn

Giá cà phê robusta giao trong tháng 11 tăng 1,76% lên 1.327 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao trong tháng 12 tăng 3,4% lên 101,61 UScent/pound.

Thời tiết ở khu vực Tây Nguyên – vùng trồng cà phê Robusta chính, đã thuận lợi hơn, hứa hẹn một vụ thu hoạch mới đạt sản lượng cao vào tháng 10/2019.

Tháng 8, giá cà phê nhân xô Robusta trong nước biến động không đồng nhất. Ngày 28/8, giá cà phê nhân xô Robusta tại tỉnh Lâm Đồng giảm 0,3% so với ngày 31/7/2019, xuống còn 32.500-32.600 đồng/kg. Trong khi đó, giá cà phê nhân xô Robusta tăng từ 0,3 – 0,9% tại các tỉnh Đắk Lắc, Gia Lai, Đắk Nông, Kon Tum, phổ biến quanh mức 33.400 – 33.800 đồng/kg.

Tại các kho quanh khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28/8 cà phê Robusta loại R1 tăng 0,9% so với cuối tháng 7/2019, lên mức 34.900 đồng/kg.

Theo ước tính, xuất khẩu cà phê tháng 8 đạt 130 nghìn tấn, trị giá 220 triệu USD, giảm 7,4% về lượng và giảm 8,7% về trị giá so với tháng 7/2019, so với tháng 8/2018 giảm 15,1% về lượng và giảm 21,9% về trị giá.

Lũy kế 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cà phê đạt 1,19 triệu tấn, trị giá 2,03 tỉUSD, giảm 10,3% về lượng và giảm 20% về trị giá so với 8 tháng đầu năm 2018.

Hoàng Phúc

Tình hình xuất khẩu hàng hóa trong 8 tháng đầu năm 2019

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 8/2019 ước tính đạt 24,50 tỷ USD, tăng 6,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,34 tỷ USD, giảm 4,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17,16 tỷ USD, tăng 12,4%.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 7/2019 đạt 22.979 triệu USD, cao hơn 379 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 193 triệu USD; đá quý, kim loại quý cao hơn 81 triệu USD; thủy sản cao hơn 53 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 47 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 8/2019 ước tính đạt 24,50 tỷ USD, tăng 6,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,34 tỷ USD, giảm 4,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 17,16 tỷ USD, tăng 12,4%. Một số mặt hàng xuất khẩu trong tháng Tám có kim ngạch tăng so với tháng trước: Than đá tăng 103,6%; điện thoại và linh kiện tăng 37,8%, chủ yếu do Samsung đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm Glaxy Note 10; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 8,6%; đá quý, kim loại quý tăng 3,9%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Tám tăng 4,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 0,9%. Một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị tăng cao: Đá quý, kim loại quý tăng 714,6%; giày dép tăng 14,3%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 12,9%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 10,1%; điện thoại và linh kiện tăng 7%.

Tính chung 8 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 169,98 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 52,04 tỷ USD, tăng 13,9%, chiếm 30,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 117,94 tỷ USD, tăng 4,6%, chiếm 69,4% (tỷ trọng giảm 1,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).

Trong 8 tháng có 26 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 89,5% tổng kim ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD, chiếm 58,7%), trong đó điện thoại và linh kiện có giá trị xuất khẩu lớn nhất đạt 33 tỷ USD, chiếm 19,4% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 21,9 tỷ USD, tăng 14,3%; hàng dệt may đạt 21,7 tỷ USD, tăng 9,8%; giày dép đạt 12 tỷ USD, tăng 13,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 11,3 tỷ USD, tăng 5,8%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,5 tỷ USD, tăng 15,4%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 5,7 tỷ USD, tăng 7%.

Trong 8 tháng, hầu hết các mặt hàng trong nhóm nông, lâm nghiệp, thủy sản có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước: Thủy sản đạt 5,4 tỷ USD, giảm 2,6%; rau quả đạt 2,5 tỷ USD, giảm 6%; các mặt hàng hạt điều, hạt tiêu và gạo mặc dù lượng xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm 2018 nhưng do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh làm cho kim ngạch xuất khẩu giảm, trong đó hạt điều đạt 2,1 tỷ USD, giảm 9,4% (lượng tăng 15,8%), gạo đạt gần 2 tỷ USD, giảm 14,2% (lượng tăng 0,1%), hạt tiêu đạt 571 triệu USD, giảm 2,1% (lượng tăng 27,9%); đặc biệt mặt hàng cà phê giảm mạnh cả về kim ngạch và lượng, giá trị xuất khẩu đạt 2 tỷ USD, giảm 20% (lượng giảm 10,3%). Riêng cao su đạt 1,3 tỷ USD, tăng 7,2% (lượng tăng 9,1%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 8 tháng năm 2019, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 38,6 tỷ USD, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là thị trường EU đạt 27,7 tỷ USD, giảm 0,5%; Trung Quốc đạt 23,8 tỷ USD, giảm 2,5%; thị trường ASEAN đạt 17,3 tỷ USD, tăng 3,6%; Nhật Bản đạt 13,4 tỷ USD, tăng 9,9%; Hàn Quốc đạt 12,6 tỷ USD, tăng 5,3%.

Sản xuất công nghiệp 8 tháng tăng 9,5% so với cùng kỳ

Bộ Công thương cho biết, sản xuất công nghiệp 8 tháng đầu năm 2019 tiếp tục xu hướng tăng trưởng khá, tuy nhiên mức tăng trưởng vẫn thấp hơn năm 2018, trong khi hàng hóa xuất khẩu đang đối mặt với nhiều khó khăn.

Sản xuất công nghiệp 8 tháng tăng 9,5% so với cùng kỳ

Sản xuất công nghiệp 8 tháng tăng 9,5% so với cùng kỳ. Ảnh: TQ

Tính chung 8 tháng năm 2019, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) ước tính tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,8% của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 8,2% và 7,2% của cùng kỳ năm 2017 và năm 2016.

Dự báo kim ngạch hàng hóa xuất khẩu những tháng cuối năm nhiều khó khăn. Ảnh: TQ

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 8 tháng năm 2019 ước tính đạt 169,98 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018. Mặc dù đây là mức tăng thấp hơn so với cùng kỳ của năm 2017 – 2018 (tăng tương ứng 19,9% và 16,7%) nhưng cho thấy nỗ lực rất lớn và là xu hướng tích cực trong bối cảnh thương mại toàn cầu diễn biễn phức tạp.

Đáng chú ý, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 8 tháng của khu vực kinh tế trong nước tăng 13,9% (đạt 52,04 tỷ USD), cao hơn nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 117,94 tỷ USD, tăng 4,6%, qua đó tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước tiếp tục xu hướng tăng lên, chiếm 30,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (cùng kỳ năm trước là 28,8%).

Lũy kế 8 tháng năm 2019, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam ước đạt 166,58 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 70,43 tỷ USD, tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 96,15 tỷ USD, tăng 4,8%.

Cán cân thương mại, tính chung 8 tháng năm 2019 Việt Nam ước tính xuất siêu 3,4 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 4,85 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 18,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 21,8 tỷ USD.

Bộ Công thương dự báo, trong những tháng cuối năm 2019, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với động lực chính là các nhóm ngành truyền thống như dệt may, giày dép và đồ gỗ…

Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro gia tăng, cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang leo thang kết hợp với sự xung đột thương mại giữa Nhật Bản và Hàn Quốc đang làm gia tăng những lo ngại về sự suy giảm của nền kinh tế toàn cầu, xuất khẩu hàng hóa trong ngắn hạn khó có thể tăng mạnh như năm 2017 và 2018.

TQ

Giá USD ngày 11/9 biến động nhẹ

Sáng nay (11/9), tại các ngân hàng thương mại trong nước, giá USD biến động nhẹ, phổ biến quanh mức 23.139 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra).

Sáng nay (11/9), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ ở mức: 23.130 VND/USD, giảm 5 đồng so với hôm qua.

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 23.200 VND/USD và bán ra ở mức 23.779 VND/USD, không đổi so với phiên trước đó.

gia usd ngay 11/9 bien dong nhe hinh 1
Giá USD trong nước ít biến động. (Ảnh minh họa)

Tại các ngân hàng thương mại sáng 11/9, giá USD biến động nhẹ, phổ biến quanh mức 23.139 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra).

Ngân hàng BIDV và Vietcombank đều niêm yết tỷ giá ở mức: 23.140 VND/USD (mua vào) và 23.260 VND/USD (bán ra), giữ nguyên so với hôm qua.

Vietinbank là 23.139 VND/USD (mua) và 23.259 VND/USD (bán), tăng 4 đồng so với phiên liền trước.

ACB công bố tỷ giá ở mức  23.145 VND/USD (mua vào) và 23.245 VND/USD (bán ra), không đổi so với hôm qua.

Trên thị trường thế giới, đầu phiên giao dịch ngày 11/9 (giờ Việt Nam), tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh.  Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 98,38 điểm.

USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1039 USD; 107,22 yen đổi 1 USD  và 1,2367 USD đổi 1 bảng Anh./.

Giá vàng trong nước sáng 11/9 tiếp tục giảm

Giá vàng trong nước sáng 11/9 tiếp tục giảm từ 50.000 – 90.000 đồng/lượng.

Khách thử sản phẩm tại cửa hàng vàng Phú Quý. Ảnh: Thùy Linh/BNEWS/TTXVN

Lúc 8 giờ 45 phút, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC tại thị trường Hà Nội ở mức 41,35 – 41,75 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm 50.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và chiều bán ra so với giá đóng cửa phiên hôm qua.

Trong khi đó, vàng SJC tại Tập đoàn Vàng bạc Phú Quý niêm yết ở mức 41,45 – 41,8 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), không đổi so với giá chốt phiên hôm qua.

Thời điểm này, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI cũng niêm yết giá vàng SJC tại thị trường Hà Nội ở mức 41,45 – 41,78 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm 50.000 đồng/lượng ở chiều mua và 90.000 đồng/lượng ở chiều bán so với giá cuối ngày hôm qua.

Diễn biến giá vàng trong nước những phiên gần đây khá tương đồng với giá vàng tại các thị trường trên thế giới.

Đơn cử, giá vàng giao ngay tại thị trường Bengaluru (Ấn Độ) trong ngày 10/9 tiếp tục đi xuống, đánh dấu phiên giảm thứ tư liên tiếp.

Giá vàng đi xuống giữa lúc nhu cầu đối với các tài sản rủi ro gia tăng khi giới đầu tư kỳ vọng về các gói kích thích trên toàn cầu và khả năng giải quyết cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.

Vào lúc 13 giờ 50 phút ngày 10/9 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay tại thị trường Bengaluru đã giảm 0,6% xuống còn 1.490,10 USD/ounce, sau khi ghi nhận mức thấp nhất kể từ ngày 13/8 là 1.486 USD/ounce vào đầu phiên. Giá vàng đã giảm gần 5% kể từ khi tăng lên mức cao nhất trong hơn 6 năm qua là 1.557 USD/ounce vào ngày 4/9.

Trong khi đó, giá vàng giao kỳ hạn của Mỹ giảm 0,8% xuống còn 1.498,50 USD/ounce./.

Văn Giáp/BNEWS/TTXVN

Nhập khẩu giấy kim ngạch đạt trên 1 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2019

Sau khi suy giảm cả lượng và trị giá trong tháng 6/2019, thì nay sang tháng 7/2019 nhập khẩu giấy đã tăng trở lại, 24,0% về lượng và 23,1% về trị giá so với tháng 6/2019, đạt 189,22 nghìn tấn, trị giá 173,48 triệu USD.

Nhập khẩu giấy kim ngạch đạt trên 1 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2019

Nâng lượng giấy nhập khẩu từ đầu năm tính đến hết tháng 7/2019 lên 1,10 triệu tấn, trị giá trên 1 tỷ USD, giảm 3,7% về lượng và giảm 3,9% trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Việt Nam nhập khẩu giấy chủ yếu từ các nước Đông Nam Á, chiếm 28% tổng lượng giấy nhập khẩu, tuy nhiên so với cùng kỳ tốc độ nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á đều suy giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 12,31% và 13,91%, tương ứng với 309,53 nghìn tấn, trị giá 327,54 triệu USD, giá nhập bình quân 1058,16 USD/tấn, giảm 1,83% so với cùng kỳ năm 2018.
Với vị trí và khoảng cách địa lý không xa với Việt Nam, Trung Quốc đại lục là thị trường lớn cung cấp giấy cho Việt Nam, chiếm 21,78% thị phần, đạt 240,49 nghìn tấn, trị giá 210,26 triệu USD, tăng 12,5% về lượng và tăng 9,45% về trị giá so với cùng kỳ, giá nhập bình quân 874,31 USD/tấn, giảm 2,71%. Riêng tháng 7/2019, Việt Nam cũng đã nhập từ Trung Quốc 42,76 nghìn tấn giấy các loại, trị giá 37,87 triệu USD, tăng 25,09% về lượng và 21,80% về trị giá so với tháng 6/2019, giá nhập bình quân giảm 2,63% tương ứng với 885,61 USD/tấn.
Đứng thứ hai sau thị trường Trung Quốc đại lục là Hàn Quốc với 174,60 nghìn tấn, trị giá 164,43 triệu USD, giảm 3,71% về lượng và 0,7% về trị giá so với cùng kỳ 2018, giá nhập bình quân 941,73 USD/tấn, giảm 3,71% về lượng và 0,7% trị giá, giá nhập bình quân tăng 3,13%. Tính riêng tháng 7/2019 cũng đã nhập 26,91 nghìn tấn từ Hàn Quốc, đạt 25,79 triệu USD, tăng 18,06% về lượng và 18,06% trị giá so với tháng trước 6/2019.
Kế đến là các thị trường Nhật Bản, Indonesia, Đài Loan (TQ), Thái Lan…
Đáng chú ý, 7 tháng đầu năm 2019, Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu giấy từ thị trường Áo, tuy chỉ đạt 0,95 nghìn tấn, trị giá 549,18 nghìn USD, nhưng so với cùng kỳ tăng gấp 6,4 lần (tương ứng 537,58%) về lượng và gấp 2,6 lần (tương ứng 158,59%) về trị giá so với cùng kỳ, giá nhập bình quân 578,09 USD, giảm 59,44%. Riêng tháng 7/2019 cũng đã nhập 98 tấn, trị giá 90,47 nghìn USD, giảm 15,52% về lượng nhưng tăng 63,66% trị giá so với tháng 6/2019, giá nhập bình quân 923,22 USD/tấn, giảm 15,52%; so sánh với tháng 7/2018 tăng gấp 3,9 lần (tức tăng 292%) về lượng và gấp 2,5 lần trị giá (tức tăng 152,42%), giá nhập bình quân giảm 35,61%. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tăng mạnh nhập khẩu giấy từ Thụy Điển, với lượng đạt 9,3 nghìn tấn, trị giá trên 9 triệu USD, tăng gấp 3,8 lần về lượng (tương ứng 282,54%) về lượng và gấp 3,1 lần (tương ứng 214,89%) về trị giá so với tháng cùng kỳ năm 2018.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu giấy từ thị trường Pháp, chỉ với 48 tấn, trị giá 95,65 nghìn USD, giảm 26,15% về lượng và 12,75% về trị giá so với 7 tháng năm 2018.
Thị trường cung cấp giấy 7 tháng năm 2019
Thị trường7 tháng năm 2019+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
Lượng (Tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Trung Quốc240.498210.268.85412.59.45
Hàn Quốc174.607164.432.005-3.71-0.7
Nhật Bản154.712126.802.978-13.57-6.61
Indonesia148.424120.703.194-9.99-15.75
Đài Loan110.79868.818.959-7.76-10.06
Thái Lan106.14094.912.852-14.89-14.09
Malaysia27.79330.690.313-23.93-7.95
Ấn Độ26.63527.823.73216.162.14
Singapore24.20979.010.8098.88-12.79
Phần Lan13.53114.857.763-5.28-4.02
Hoa Kỳ13.19814.280.78612.2916.08
Nga12.98111.369.7294.36-13.32
Thụy Điển9.3769.081.974282.54214.89
Italy6.1917.171.83193.8924.02
Đức5.61010.322.99727.6735.96
Philippines2.9722.223.770-35.46-20.27
Áo950549.189537.58158.59
Pháp4895.650-26.15-12.75
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)
Nguồn: VITIC  

Hương Nguyễn  – Vinanet

TT kim loại thế giới ngày 9/9/2019: Hầu hết đều giảm

Giá các kim loại công nghiệp ngày 9/9/2019 đều giảm do số liệu từ  Trung Quốc cho thấy xuất khẩu trong tháng 8/2019 bất ngờ giảm, cho thấy sự yếu kém hơn nữa trong nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

TT kim loại thế giới ngày 9/9/2019: Hầu hết đều giảm

Xuất khẩu của Trung Quốc trong tháng 8/2019 giảm 1% so với cùng tháng năm ngoái, do xuất khẩu sang Mỹ chậm lại, trong bối cảnh cuộc chiến thương mại đang diễn ra  giữa 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới, so với kỳ vọng tăng 2% của các nhà phân tích.

Nhập khẩu đồng chưa gia công của Trung Quốc trong tháng 8/2019 giảm sau khi tăng trong tháng trước đó và xuất khẩu nhôm giảm.

Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,3% xuống 5.814,5 USD/tấn và giá đồng  trên sàn Thượng Hải giảm 0,4% xuống  47.350 CNY (6.645,15 USD)/tấn.

Giá nhôm trên sàn London giảm 0,4%, nickel giảm 0,3%, kẽm giảm 1,3%, chì giảm 0,4% và thiếc giảm 1,2%. Tại Thượng Hải, giá nhôm giảm 0,4%, nickel giảm 0,8%, kẽm giảm 1,1%, chì giảm 0,2% trong khi thiếc giảm 2,2%.

Cố vấn kinh tế Nhà Trắng, Larry Kudlow thận trọng về xung đột thương mại có thể kéo dài nhiều năm để giải quyết và giảm dự báo kết quả các cuộc đàm phán cấp cao giữa các quan chức Mỹ và Trung Quốc vào đầu tháng 10/2019.

Nhập khẩu đồng chưa gia công của Trung Quốc trong tháng 8/2019 bao gồm anot, sản phẩm đồng tinh chế và bán thành phẩm  giảm 3,8% so với tháng 8/2018 xuống 404.000 tấn, trong khi nhập khẩu đồng  cô đặc tăng 9,3% lên 1,8 triệu tấn.

Xuất khẩu nhôm chưa gia công của Trung Quốc trong tháng 8/2019 giảm 9,9% so với tháng 8/2018 xuống 466.000 tấn, do sản xuất tại 2 nhà máy luyện kim bất ngờ ngừng hoạt động.

Chứng khoán châu Á tăng khiêm tốn, trong bối cảnh thị trường thận trọng, khi các nhà đầu tư kỳ vọng về khả năng kích thích sẽ hỗ trợ tăng trưởng tại các nền kinh tế lớn trên thế giới.

Giá các kim loại cơ bản ngày 9/9/2019:

Mặt hàngĐVTGiá% thay đổi
ĐồngUSD/lb2,6109-0,34 %
ChìUSD/tấn2.085,501,41%
NickelUSD/tấn17.743,001,30%
NhômUSD/tấn1.791,000,39%
ThiếcUSD/tấn17.375,00-0,43%
KẽmUSD/tấn2.328,00-0,60%

Nguồn: VITIC/Reuters

TT cà phê ngày 09/9: Không đổi sau phiên hồi phục cuối tuần

Giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên hôm nay giữ nguyên mức giá cuối tuần, chốt ở 32.100 – 33.200 đồng/kg tại Đắk Lăk. Tại cảng TPHCM, giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% giao dịch ở 1.495 USD/tấn (FOB), trừ lùi + 200 USD/tấn.

TT cà phê ngày 09/9: Không đổi sau phiên hồi phục cuối tuần

Tham khảo giá cà phê nhân xô tại Việt Nam

TT nhân xôGiá trung bìnhThay đổi
FOB (HCM)1.495Trừ lùi: +200
Đắk Lăk33.2000
Lâm Đồng32.1000
Gia Lai32.6000
Đắk Nông32.6000
Hồ tiêu43.0000
Tỷ giá USD/VND23.1400
Đơn vị tính: VND/kg|FOB: USD($)/tấn

 Nguồn: Diễn đàn của người làm cà phê

Giá cà phê trong nước bám sát diễn biến của thị trường cà phê thế giới. Cuối tuần, đồng real hồi phục nhẹ và USD cũng tăng nhẹ đã hỗ trợ các thị trường cà phê kỳ hạn lấy lại những mất ở phiên trước đó, trong khi các dữ liệu báo cáo kinh tế Mỹ không như kỳ vọng đã khiến nhà đầu tư suy đoán kỳ tới Fed sẽ cắt giảm lãi suất ở mức cao, tuy không có gì để lấy làm chắc chắn.
Các nhà quan sát thị trường cà phê thế giới cho rằng nguồn cung dồi dào từ Brazil, không chỉ của vụ mùa năm nay vừa thu hoạch xong mà còn của vụ mùa năm tới sẽ đạt sản lượng kỷ lục do cây cà phê cho sản lượng cao theo chu kỳ “hai năm một”, trong khi đồng real đang ở mức thấp tiếp tục kích thích nông dân Brazil đẩy mạnh bán ra sẽ khiến giá cà phê vẫn còn trì trệ, ít nhất tới hết năm nay.
Cơ quan chính phủ Brazil báo cáo xuất khẩu cà phê tháng 8 đạt 2.084.500 bao, tăng 728.600 bao, tức tăng 32,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2019, Brazil đã giao xuống tàu tổng cộng 23,79 triệu bao cà phê các loại, tăng mạnh tới 47,5% so với xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2018. Đây cũng là tháng thứ 11 liên tiếp Brazil xuất khẩu cà phê tăng.
Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) vừa đưa ra dự báo niên vụ cà phê 2018/19 toàn cầu dư thừa 5 triệu bao, nâng dư thừa của hai niên vụ cà phê liên tiếp vừa qua lên 7 triệu bao. ICO cũng cho rằng đó là nguyên nhân chính làm giá cà phê ở mức thấp kéo dài.
Phạm Hòa

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Séc tăng trong 6 tháng đầu năm

Theo dự tính cả năm, tổng kim ngạch giữa hai nước sẽ đạt 1,182 tỷ USD so với 1,174 tỷ USD năm 2018, tăng 0,66%, trong đó xuất khẩu từ Việt Nam tăng 7,93% và xuất khẩu của Séc giảm 52,65%.

Công Thuận (TTXVN/Vietnam+)
Kim ngach xuat khau cua Viet Nam sang Sec tang trong 6 thang dau nam hinh anh 1
May hàng xuất khẩu. (Ảnh: TTXVN)

Số liệu thống kê mới nhất của Cộng hòa Séc cho biết trong 6 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Séc đã tăng hơn 5%, trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Séc tăng 8,96% và chiều ngược lại giảm 30%.

Cụ thể, trong 2 quý qua, tổng kim ngạch hai chiều đạt 591,14 triệu USD, tăng 5,6% so với 559,81 triệu USD cùng kỳ năm ngoái.

Trong số đó, Séc nhập khẩu từ Việt Nam đạt trị giá 557,78 triệu USD, tăng 45,85 triệu USD (tương đương 8,96%) so với 511,93 triệu USD cùng kỳ năm ngoái. Séc xuất khẩu sang Việt Nam hàng hóa trị giá 33,36 triệu USD, giảm 30,33% so với 47,89 triệu USD.

Theo dự tính cả năm, tổng kim ngạch giữa hai nước sẽ đạt 1,182 tỷ USD so với 1,174 tỷ USD năm 2018, tăng 0,66%, trong đó xuất khẩu từ Việt Nam tăng 7,93% và xuất khẩu của Séc giảm 52,65%.

[Doanh nghiệp Việt mở rộng hoạt động kinh doanh tại Séc]

Các mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất trong 6 tháng đầu năm 2019 từ Việt Nam sang Séc chủ yếu là máy móc, thiết bị điện, giày dép, các mặt hàng may mặc và phụ kiện cùng một số mặt hàng nông, lâm sản.

Trong khi đó, cơ quan thương vụ Việt Nam tại Séc dẫn số liệu từ Hải quan Việt Nam cho biết trong 7 tháng năm 2019, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang nhiều nước Liên minh châu Âu (EU) đều tăng: Đức tăng 3,43%, Hungary tăng 7,94%, Đan Mạch tăng 4,74%, Estonia tăng 16,17% và Hà Lan tăng 8,79%./.

Công Thuận (TTXVN/Vietnam+)

Giá vàng ở mức trên 42 triệu đồng/lượng trong phiên giao dịch đầu tuần

Mở cửa phiên giao dịch đầu tuần, giá vàng trong nước không biến động nhiều trong khi giá vàng thế giới tăng 3,8 USD.

Mở cửa phiên giao dịch ngày 9/9, Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng ở mức 42,10 – 42,45 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), giá vàng giữ nguyên không đổi ở chiều mua vào, giảm 50.000 đồng/lượng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch cuối tuần trước. Chênh lệch giá bán đang cao hơn giá mua 350.000 đồng/lượng.

Cùng thời điểm, Công ty VBĐQ Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 42,10 – 42,45 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), so với phiên giao dịch trước, giá vàng giữ nguyên không đổi. Chênh lệch giá mua – bán hiện là 350.000 đồng/lượng.

gia vang the gioi tiep tuc tang trong phien giao dich dau tuan hinh 1
Giá vàng ổn định trong phiên giao dịch đầu tuần.

Trên thị trường thế giới, giá vàng đang được giao dịch quanh ngưỡng 1.510,3 USD/oz, tăng 3,8 USD so với phiên giao dịch cuối tuần trước. Quy đổi theo giá USD tại Vietcombank (23.110 VND/USD), giá vàng thế giới tương đương 42,05 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá bán vàng SJC 400.000 đồng/lượng./.

Chung Thủy/VOV.VN

Kết nối ngành công nghiệp hỗ trợ với khu vực FDI

Nhằm tìm giải pháp nâng cao hiệu quả kết nối doanh nghiệp (DN) hỗ trợ trong nước với khu vực FDI, đón đầu làn sóng đầu tư của các DN, chiều ngày 4/9, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo “Kết nối ngành CNHT trong nước với khu vực FDI – Thực trạng, giải pháp và thách thức”.

Hội thảo là hoạt động nằm trong Triển lãm quốc tế lần thứ 16 về công nghiệp ô tô, xe máy, xe điện và CNHT, diễn ra từ ngày 4-7/9/2019.

ket noi nganh cong nghiep ho tro voi khu vuc fdi

Đầu tư FDI vào Việt Nam đã mang đến những cơ hội phát triển không nhỏ cho các DN trong nước, trong đó có DN ngành CNHT. Nhờ có nguồn vốn FDI, DN có thêm nguồn lực tài chính dồi dào hơn để mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, chủ đầu tư còn chuyển giao các công nghệ hiện đại, đào tạo nhân lực cho các DN Viêt Nam nhằm nâng cao trình độ quản lý và năng suất sản xuất… Từ đó, các DN CNHT từng bước đạt đến các tiêu chuẩn quốc tế, trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, hiện mới chỉ có 14% DN Việt Nam thành công trong việc thu hút vốn đầu tư từ các DN nước ngoài, trong số đó, chỉ có 21% DN đã trở thành nhà cung ứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Chia sẻ tại hội thảo, nhiều ý kiến cho hay, một phần nguyên nhân là do năng lực của DN còn yếu kém, chưa đạt đến tiêu chuẩn để thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, còn do một số DN chưa chủ động kết nối với khu vực FDI…

Đồng tình với nhận định trên, PGS.TS Phan Đăng Tuất – Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội CNHT Việt Nam chia sẻ, các chỉ số bao gồm: chỉ số năng lực công nghệ; chỉ số năng lực thích ứng, đổi mới sáng tạo; chỉ số phát triển bền vững và chỉ số năng lực kết nối, hội nhập của DN CNHT Việt Nam đa số đều ở mức trung bình. Trong đó, vốn nhân lực, vốn tổ chức, năng lực thương mại, năng lực tổ chức và năng lực hấp thụ còn yếu, cần được cải thiện…

GS. TSKH Nguyễn Mại – Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng lưu ý, làn sóng đầu tư nước ngoài đang có xu hướng chuyển dời nhà máy từ Trung Quốc về Việt Nam để tiết kiệm chi phí sản xuất. Với sự dịch chuyển nguồn vốn đầu tư nước ngoài như vậy, DN Việt Nam cần có sự chuẩn bị để tranh thủ cơ hội đón đầu làn sóng đầu tư.

Tuy nhiên, việc đạt được tiêu chuẩn của các công ty nước ngoài để thu hút được vốn đầu tư không phải là điều đơn giản, nhất là khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tạo ra nhiều thay đổi nhanh và mạnh mẽ ở mọi khía cạnh và các công đoạn của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Để tìm giải pháp kết nối ngành CNHT với khu vực FDI, cũng như giúp DN CNHT đón nhận và tận dụng làn sóng chuyển dịch FDI, tại hội thảo, ông Nguyễn Đình Tiến – Quản lý dự án khối DN nhỏ và vừa – Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đưa ra giải pháp, thông qua dự án kết nối DN vừa và nhỏ (LinkSME) của USAID, các DN Việt Nam sẽ được hỗ trợ nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật của DN nước ngoài; đồng thời được kết nối với các DN nước ngoài phù hợp để trở thành nhà cung ứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.

PGS.TS Phan Đăng Tuất cho biết thêm, để tăng cường cơ hội và tạo đà kích thích sự phát triển của ngành CNHT, chúng ta cần nhiều hơn nữa những hoạt động xúc tiến cơ hội hợp tác đầu tư, giao lưu trao đổi kinh nghiệm, cách thức sản xuất và phát triển cho các DN nội địa cũng như DN nước ngoài; cung cấp các thông tin về FDI và làn sóng dịch chuyển FDI về Việt Nam, giúp DN nắm bắt được các cơ hội nhận đầu tư FDI cũng như kết nối với các DN và tổ chức nước ngoài…

Thanh Tâm

Giá cà phê hôm nay 5/9: Tăng phục hồi trở lại 200 đồng/kg

Đầu giờ sáng nay, giá cà phê nguyên liệu tăng 200 đồng, hiện giá cà phê Tây Nguyên dao động trong khoảng 32.200 – 33.300 đồng/kg.

Giá cà phê trong nước

Còn ở thị trường trong nước, đầu giờ sáng nay giá cà phê nguyên liệu tăng 200 đồng, hiện giá cà phê Tây Nguyên dao động trong khoảng 32.200 – 33.300 đồng/kg.

Cụ thể, giá cà phê hôm nay tại huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) ở mức 32.200 đồng/kg, giá cà phê tại Di Linh, Lâm Hà thấp đang có giá 32.300 đồng/kg.

Tương tự giá cà phê hôm nay tại huyện Cư M’gar (ĐắkLắk), Ea H’leo (ĐắkLắk) dao động trong khoảng 33.000 – 33.300 đồng/kg. Tại huyện Buôn Hồ giá cà phê ở mức 33.000 đồng/kg.

Giá cà phê tại Ia Grai – Gia Lai hôm nay ở mức 33.200 đồng/kg.

Giá cà phê tại Đắk Hà Kon Tum và Gia Nghĩa (Đắk Nông) có giá 33.000 đồng/kg.

Giá cà phê hôm nay 5/9: Tăng phục hồi trở lại 200 đồng/kg
Nguồn: tintaynguyen.com

Dù có phiên tăng sáng nay nhưng giá cà phê vẫn được đánh giá chưa thể khởi sắc vì đang trong giai đoạn đồng Reais ở mức có lợi đã thúc đẩy người Brasil duy trì sức bán mới khi họ vừa thu hoạch một vụ cà phê Conilon Robusta ở mức kỷ lục, dự kiến sẽ đóng góp thêm khoảng 5 triệu bao cho thị trường tiêu dùng toàn cầu.

Tuy nhiên, theo các nhà rang xay kỳ cựu cho biết, loại cà phê Conilon của Brazil chỉ hấp dẫn với người tiêu dùng Bắc Mỹ và Đông Á. Trong khi thị trường tiêu dùng Đông và Tây Âu ưa chuộng cà phê Robusta của châu Á có nhiều vị đắng hơn.

Căng thăng thương mại giữa Mỹ – Trung Quốc hầu như chưa thấy điểm dừng, khiến nhà đầu tư trên các thị trường hàng hóa phái sinh tiếp tục thoái vốn tìm nơi trú ẩn an toàn, tiếp thục đẩy giá vàng tăng cao.

Giá cà phê thế giới

Mở cửa phiên giao dịch hôm nay, giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London đang tăng. Giá cà phê robusta kỳ hạn tại London giao tháng 9/2019 đang giảm 6 USD/tấn (mức tăng 0,46%) đứng ở mức 1.310 USD/tấn. Trong khi tại New York, giá cà phê arabica tháng 9/2019 tăng 1,05 USD/tấn đứng ở mức 96,60 cent/lb.

Giá cà phê hôm nay 5/9: Tăng phục hồi trở lại 200 đồng/kg
Giá cà phê thế giới đang giảm.

Giá cà phê robusta giao trong tháng 9 giảm 1,1% xuống 1.290 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao trong tháng 12 giảm 1,3% xuống 95,5 UScent/pound.

Chủ tịch Ủy ban cà phê Tanzania, ông Primus Kimaryo, đã trả lời tờ Daily News ngày 13/8 rằng sản lượng cà phê của quốc gia này đã tăng vọt từ 47.000 tấn trong niên vụ 2017 – 2018 lên 65.500 tấn trong niên vụ 2018 – 2019.

“Sự bùng nổ sản xuất là nhờ khí hậu thuận lợi”, ông Kimaryo trả lời qua điện thoại từ Moshi, vùng Kilimanjaro.

Ông cho biết thêm việc sản xuất sẽ tăng cao hơn nếu cà phê được trồng bởi các hộ nông dân sản xuất qui mô lớn. Hiện tại, Nông dân sản xuất qui mô nhỏ đóng góp 90% sản lượng cà phê của vùng này.

Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), sản lượng cà phê cao đã giúp Tanzania vượt qua Kenya lên vị trí thứ 4 từ vị trí thứ 5 trong số các nhà sản xuất hàng đầu ở châu Phi.

Nhà sản xuất hàng đầu ở châu Phi là Ethiopia với 450.000 tấn, tiếp theo là Uganda với 294.000 tấn, sau đó là Côte d’Ivoire với 96.000 tấn.

Dữ liệu của ICO cho thấy tại Cộng đồng Đông Phi (EAC), Uganda dẫn đầu về sản lượng cà phê, tiếp theo là Tanzania và Kenya với 51.000 tấn, Rwanda ở vị trí thứ 4 với 16.500 tấn và Burundi với 12.900 tấn trong niên vụ 2018 – 2019.

Rose
Theo Đời sống Plus/GĐVN

Đồng Nai lập kỷ lục xuất siêu

Đây là năm thứ 7 liên tiếp Đồng Nai xuất siêu và mỗi năm đều thiết lập kỷ lục mới.

Sản xuất thiết bị máy móc tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tại Công ty TNHH Daiwa Light Alloy Industry Việt Nam. Ảnh: Báo Đồng Nai

Cục Thống kê Đồng Nai cho biết, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 8 tháng năm 2019 của tỉnh đạt 12,76 tỷ USD, tăng 5,22% so cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu 8 tháng đạt 10,66 tỷ USD, tăng 1,11%.

Như vậy, mặc dù kim ngạch xuất khẩu 8 tháng năm 2019 của Đồng Nai có dấu hiệu tăng chậm do ảnh hưởng bởi giá một số mặt hàng nông sản xuất khẩu truyền thống giảm, ảnh hưởng bởi căng thẳng thương mại Mỹ – Trung, nhưng kim ngạch xuất siêu của tỉnh vẫn tiếp tục tăng cao, vượt ngưỡng 2,1 tỷ USD, tăng 400 triệu USD so với cùng kỳ năm trước và chiếm hơn 60% tổng xuất siêu cả nước.

Theo Cục Thống kê Đồng Nai, xuất siêu tăng cao là do các doanh nghiệp của tỉnh đã chú trọng tìm nguồn nguyên liệu trong nước, giảm nhập khẩu để hưởng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã ký kết.

Khối kinh tế vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Đồng Nai dẫn đầu với kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đạt 10,44 tỷ USD; khối kinh tế ngoài Nhà nước đạt 1,98 tỷ USD; khối kinh tế Nhà nước có kim ngạch 333,2 triệu USD.

Một số ngành hàng xuất khẩu 8 tháng vẫn giữ được kim ngạch cao và ổn định như: Giày, dép các loại đạt 2,76 tỷ USD, tăng 15,32%; máy móc thiết bị đạt 1 tỷ USD, tăng gần 15%; hàng dệt may đạt 1,34 tỷ USD, tăng 4,36%; sản phẩm gỗ đạt 929 triệu USD, tăng 4,62%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 617 triệu USD, tăng 6,95%; sản phẩm sắt thép đạt 492 triệu USD, tăng 4,77%…

Trong khi đó, một số mặt hàng, kim ngạch xuất khẩu giảm như: Xơ, sợi dệt đạt 986 triệu USD, giảm 5,61%; máy vi tính, sản phẩm điện tử đạt 400 triệu USD, giảm 4,45%; hạt điều đạt 202 triệu USD, giảm 7,35%; cà phê đạt 288 triệu USD, giảm 3,39% so cùng kỳ.

Thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp Đồng Nai tháng 8 năm 2019 vẫn tập trung chủ yếu tại Hoa Kỳ đạt 490,7 triệu USD, chiếm 29,6%; Nhật Bản đạt 188,3 triệu USD, chiếm 11,4%; Trung Quốc đạt 187,5 triệu USD, chiếm 11,3%. Các thị trường khác có kim ngạch xuất khẩu khá như: Hàn Quốc, Bỉ, Hong Kong (Trung Quốc), Thái Lan, Đức, Australia… chiếm tỷ trọng từ 2,3-5,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Đồng Nai.

Trong khi đó, sản phẩm nhập khẩu chính của các doanh nghiệp Đồng Nai chủ yếu là nguyên liệu thức ăn gia súc, ngô, bông, xơ sợi, chất dẻo nguyên liệu…

Thị trường nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc ước đạt 306,9 triệu USD, chiếm 21,2%; Hàn Quốc ước đạt 243,6 triệu USD, chiếm 16,8%; Đài Loan (Trung Quốc) ước đạt 164,7 triệu USD, chiếm 14,4% tổng kim ngạch nhập khẩu. Các thị trường khác có kim ngạch nhập khẩu khá như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Thái Lan, Brazil, Indonesia, Malaysia… chiếm tỷ trọng từ 2-10% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Kế hoạch của tỉnh là năm 2019 xuất khẩu sẽ đạt kim ngạch 20,3 tỷ USD và xuất siêu khoảng 3 tỷ USD. Theo dự đoán của các chuyên gia kinh tế, nếu không có gì biến động lớn thì Đồng Nai sẽ đạt được mục tiêu trên. 4 tháng cuối năm là thời điểm nhiều mặt hàng chủ lực của tỉnh vào mùa sản xuất nên sẽ phải tăng công suất mới đáp ứng được như dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ, máy tính, linh kiện điện tử…

Giám đốc Sở Công Thương Đồng Nai Dương Minh Dũng cho biết,  giữa tháng 9 này tỉnh sẽ xúc tiến thương mại tại Nhật Bản nhằm kết nối tiêu thụ sản phẩm và thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, tỉnh thường xuyên tổ chức xúc tiến thương mại tại chỗ để các doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước gặp gỡ ký hợp đồng mua bán sản phẩm của nhau để hạn chế xuất khẩu, tăng xuất siêu.

BT

Tỷ giá trung tâm giảm, các ngân hàng tăng giá đồng USD

Sáng nay (5/9) Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm cặp đồng tiền VND/USD giảm 6 đồng so với mức công bố hôm qua. Các ngân hàng thương mại sáng nay ngược chiều tăng giá trao đổi USD.

  • Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, các ngoại tệ mạnh cùng xu hướng đi lên
Theo Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm cặp đồng tiền VND/USD được áp dụng trong ngày 5/9 ở mức 23.140 đồng/USD, giảm 6 đồng/USD so với mức công bố hôm qua.
Với biên độ +/-3% theo quy định, tỷ giá sàn là 22.446 VND/USD và tỷ giá trần là 23.834 VND/USD.
Phiên hôm nay, các ngân hàng thương mại niêm yết tăng giá trao đổi USD ngược chiều với tỷ giá trung tâm.
Cụ thể, lúc 9 giờ 30, tại Vietcombank niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.140 – 23.260 đồng/USD, tăng 5 đồng/USD cả 2 chiều mua và bán so với mức niêm yết sáng hôm qua.
Tại BIDV niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.140 – 23.260 đồng/USD, ngang giá so với phiên trước.
Tại Techcombank cùng thời điểm trên niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.128 – 23.268 đồng/USD, tăng nhẹ 2 đồng/USD cả 2 chiều mua và bán so với mức niêm yết trước.
Cùng thời điểm, tại Vietinbank niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.133 – 23.253 đồng/USD, giảm 2 đồng chiều mua vào và chiều bán ra so với mức niêm yết trước.
Tại Eximbank niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.130 – 23.240 đồng/USD, niêm yết ngang giá so với mức niêm yết trước.
Ngân hàng ACB niêm yết cùng thời điểm mua – bán USD ở mức 23.125 – 23.245 đồng/USD, niêm yết ngang giá so với mức niêm yết trước.
Giá trao đổi đồng USD trên thị trường tự do trong nước sáng nay vẫn duy trì giá mua – bán so với phiên trước. Cùng thời điểm trên, tại thị trường Hà Nội, đồng USD giao dịch mua – bán quanh mốc 23.180 – 23.200 đồng/USD.

Sáng nay các ngoại tệ mạnh giao dịch tại thị trường trong nước cùng đồng loạt tăng giá, trừ yên Nhật giảm nhẹ. Trong đó bảng Anh tăng mạnh nhất sau khi thông tin Brexit không thoả thuận đã được trì hoãn.
Cụ thể, đồng bảng Anh tăng mạnh 339 đồng/GBP so với phiên trước, giao dịch cùng thời điểm trên tại Vietcombank mua – bán quanh mốc 28.064 – 28.513 đồng/GBP.
Đồng EUR tăng 146 đồng/EUR so với phiên trước, tại Vietcombank niêm yết giá mua – bán quanh mức 25.381 – 26.222 đồng/EUR.
Đồng france Thuỵ Sỹ tăng mạnh 138 đồng/CHF so với phiên trước, giao dịch quanh mức 23.285 – 23.848 đồng/CHF.
Đồng đô Canada cũng tăng mạnh 139 đồng/CAD, giao dịch quanh mốc 17.239 – 17.692 đồng/CAD.
Đồng đô Úc tăng 83 đồng/AUD, giao dịch cùng thời điểm trên mua – bán ở quanh mức 15.540 – 15.900 đồng/AUD.
Yên Nhật niêm yết giảm nhẹ 1 đồng so với phiên trước, giao dịch quanh mốc 211 – 219 đồng/JPY.

BÍCH HỜI

Vàng tiếp tục áp sát mốc 43 triệu đồng/lượng

Theo đà tăng của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước sáng nay (5/9) tiếp tục tăng và áp sát mốc 43 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trong nước áp sát mốc 43 triệu đồng/lượng. Ảnh minh họa: TTXVN

Cụ thể, lúc 9 giờ 15 phút, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC cho thị trường Hà Nội ở mức 42,55 – 42,92 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), tăng 150.000 đồng/lượng so với chốt phiên hôm qua.

Thời điểm này Tập đoàn Vàng bạc Phú Quý cũng niêm yết vàng SJC tương ứng giá mua và bán ở mức 42,57 – 42,95 triệu đồng/lượng, tăng 120.000 đồng/lượng ở chiều mua và 150.000 đồng/lượng ở chiều bán so với cuối ngày hôm qua.

Tập đoàn Doji niêm yết giá vàng SJC cho thị trường Hà Nội ở mức 42,65 – 42,9 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), tăng 100.000 đồng/lượng ở chiều mua và 50.000 đồng/lượng ở chiều bán so với giá đóng cửa hôm qua.

Trên thị trường thế giới, giá vàng kỳ hạn tại Sàn giao dịch hàng hóa New York tăng trong phiên 4/9, do những lo ngại về kinh tế Mỹ và đồng USD xuống giá.

Giá vàng theo hợp đồng giao tháng 12/2019 tăng 4,5 USD, hay 0,29%, lên chốt phiên ở mức 1.560,4 USD/ounce.

Chỉ số đồng USD, đo giá trị của đồng tiền này so với sáu đồng tiền mạnh khác, giảm 0,51%, xuống 98,5 vào lúc 0 giờ 30 phút ngày 5/9 theo giờ Việt Nam.

Diễn biến giá vàng thường ngược với đồng USD, có nghĩa nếu đồng bạc xanh mạnh, giá vàng sẽ giảm, do vàng được định giá theo đồng tiền này sẽ trở nên có hơn với các nhà đầu tư mua bằng các đồng tiền khác./.

Đỗ Huyền/BNEWS/TTXVN

Hàng hóa TG sáng 4/9/2019: Giá dầu giảm, kim loại tăng

Phiên 3/9/2019 trên thị trường quốc tế (kết thúc vào rạng sáng 4/9/2019 giờ VN), giá dầu và cà phê đi xuống trong khi kim loại quý và kim loại công nghiệp đồng loạt tăng.

Hàng hóa TG sáng 4/9/2019: Giá dầu giảm, kim loại tăng

Trên thị trường năng lượng, giá khí tự nhiên tại Mỹ tăng hơn 3% lên cao nhất 7 tuần do dự báo thời tiết ấm hơn và nhu cầu làm mát trong tuần tới cao hơn so với dự báo trước đó.
Giá khí tự nhiên kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn New York tăng 7,3 US cent tương đương 3,2% lên 2,358 USD/mmBTU, cao nhất kể từ ngày 15/7/2019.
Giá dầu thô giảm sau khi Mỹ công bố số liệu cho thấy ngành chế tạo trong nước giảm lần đầu tiên trong 3 năm qua.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 1,16 USD tương đương 2,1% xuống 53,94 USD/thùng, trong phiên có lúc chạm 52,84 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 9/8/2019; dầu thô Brent giảm 40 US cent tương đương 0,7% xuống 58,26 USD/thùng, trong phiên có lúc chạm 57,23 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 9/8/2019.
Tính từ đầu năm đến nay, giá dầu giảm khoảng 20% kể từ mức cao đỉnh điểm năm 2019 trong tháng 4/2019, do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh thương mại khiến nhu cầu dầu giảm.
Hoạt động của ngành chế tạo Mỹ trong tháng 8/2019 đã sụt giảm lần đầu tiên trong ba năm qua. Trước đó, hoạt động của ngành chế tạo Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) trong tháng 8/2019 đã giảm tháng thứ bảy. Theo chuyên gia John Kilduff cộng tác với Again Capital tại New York, sự suy giảm này tiếp tục tác động tiêu cực tới triển vọng tăng trưởng nhu cầu dầu.

Trong khi đó, số liệu của Ngân hàng trung ương Hàn Quốc cho thấy, kinh tế nước này tăng trưởng thấp hơn dự kiến trong quý II/2019, khi xuất khẩu được điều chỉnh giảm do tranh cãi thương mại Mỹ-Trung kéo dài. Động thái của mới đây của Argentina trong việc kiểm soát vốn cũng cho thấy rủi ro của các thị trường mới nổi.

Ngày 3/9/2019, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang diễn ra tốt đẹp, song ông vẫn cảnh báo rằng Washington sẽ “cứng rắn hơn” trong đàm phán nếu Bắc Kinh kéo dài đàm phán cho đến nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông.

Cùng ngày, Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc tuyên bố nước này kiên quyết phản đối cuộc chiến thương mại do không có lợi cho Bắc Kinh, Mỹ và cả thế giới. Ông Lưu Hạc, nhà đàm phán thương mại hàng đầu của Trung Quốc, đã đưa ra tuyên bố trên khi gặp Thượng nghị sĩ Mỹ Steve Daines – đồng chủ tịch Nhóm chuyên viên Mỹ-Trung của Thượng viện Mỹ và Thượng nghị sĩ David Perdue. Ông Lưu Hạc cho hay Trung Quốc hy vọng hai bên tìm được điểm chung trong khi gác lại bất đồng và có thể giải quyết một cách thỏa đáng vấn đề trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.
Trong tuần này, Mỹ đã áp mức thuế 15% lên nhiều mặt hàng của Trung Quốc và Trung Quốc bắt đầu áp mức thuế mới lên 75 tỷ USD hàng hóa của Mỹ, làm leo thang cuộc chiến thương mại kéo dài trong hơn một năm qua. Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, hai bên sẽ vẫn tiến hành đàm phán trong tháng này.
 Nhà phân tích thị trường tại OANDA, Jeffrey Halley, cho rằng giá dầu sẽ khó tăng mạnh trong tuần này khi không có tiến triển trong các cuộc đàm phán thương mại, số liệu từ các nền kinh tế châu Á yếu và OPEC không đưa ra được giải pháp nhằm kiểm soát sản lượng.
Sản lượng của OPEC trong tháng Tám tăng lần đầu tiên trong năm nay, khi nguồn cung gia tăng từ Iraq và Nigeria vượt mức giảm của nước dẫn đầu là Saudi Arabia và những thiệt hại đối với Iran do các biện pháp trừng phạt của Mỹ.
OPEC, Nga và các nước khác nằm ngoài tổ chức này hồi tháng 12 năm ngoái đã đạt thỏa thuận cắt giảm sản lượng 1,2 triệu thùng/ngày từ ngày 1/1/2019. Phần cắt giảm của OPEC là 800.000 thùng/ngày sẽ được áp dụng với 11 thành viên, trừ Iran, Libya và Venezuela.
Số liệu mới công bố cho thấy sản lượng của Nga trong tháng Tám tăng lên 11,294 triệu thùng/ngày, vượt mức cam kết theo thỏa thuận trên và là cao nhất kể từ tháng Ba.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng. Vàng giao ngay tăng 1% lên 1.546,30 USD/ounce, gần sát mức cao nhất trong 6 năm qua là 1.554,56 USD/ounce; vàng giao sau tăng 1,7% lên 1.555,90 USD/ounce.
Những bất ổn trong quan hệ thương mại Mỹ-Trung và tiến trình Anh rời Liên minh châu Âu (EU), còn gọi là Brexit, tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư vào kim loại quý này.
Theo nhà chiến lược hàng hóa Ryan McKay của TD Securities, số liệu yếu kém của ngành chế tạo Mỹ sẽ tiếp tục củng cố nhận định cho rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cần quyết liệt hơn trong vấn đề cắt giảm lãi suất. Chuyên gia này cho rằng giá vàng hiện nhận được sự hỗ trợ từ tình trạng bất ổn liên quan tới tiến trình Brexit không suôn sẻ, bất ổn chính trị tại Italy, biểu tình tại Hong Kong (Trung Quốc).
Ngoài ra, giá vàng cũng không còn chịu nhiều sức ép từ đồng USD như lúc đầu phiên giao dịch khi đồng USD tiếp tục tăng giá so với các đồng tiền khác. Theo chiến lược gia hàng hóa kỳ cựu Phillip Streible của RJO Futures, đồng USD cũng đang được coi là một tài sản an toàn.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 3,7% và phá mốc 19 USD/ounce lần đầu tiên kể từ tháng 10/2016, lên 19,14 USD/ounce. Trong khi đó, giá bạch kim tăng 2,3% lên 951,35 USD/ounce sau khi có lúc lên tới 956,99 USD/ounce, mức cao nhất kể từ tháng 3/2018 còn giá palladium tăng 0,2% lên 1.533,70 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nickel tăng lên mức cao nhất 5 năm sau khi Indonesia dấy lên mối lo ngại về thiếu hụt nguồn cung bằng cách cấm xuất khẩu quặng từ tháng 1/2020.
Giá nickel kỳ hạn trên sàn London giảm 0,4% xuống 17.985 USD/tấn, song vẫn cao nhất kể từ tháng 9/2014. Tuy nhiên, kể từ tháng 7/2019 đến nay giá nickel đã tăng 10% và tăng gần 70% trong năm nay.
Indonesia – nước sản xuất quặng nickel lớn nhất thế giới – đã đưa ra kế hoạch cấm xuất khẩu trong 2 năm, để khuyến khích các công ty khai thác quặng chế biến kim loại địa phương.
BMO dự báo sẽ thiếu hụt 51.000 tấn nickel vào năm 2020 và và 127.000 tấn năm 2021, trong khi công suất trên thị trường nickel đạt khoảng 14 triệu tấn mỗi năm. Trong khi đó, kẽm giảm 1,7% xuống 2.205 USD/tấn, thấp nhất 3 năm.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc tăng hơn 4%, phiên tăng thứ 4 liên tiếp do các nhà máy thép bổ sung dự trữ nguyên liệu ngay cả khi các thành phố sản xuất thép hàng đầu thực hiện các hạn chế chống ô nhiễm môi trường.
Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn Đại Liên tăng 4,2% lên 644 CNY (90,8 USD)/tấn. Tuy nhiên, tính chung trong tháng 8/2019, giá quặng sắt giảm hơn 21%, tháng giảm mạnh nhất kể từ tháng 3/2018.
Đồng thời, giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải tăng 1% lên 3.403 CNY/tấn. Giá thép cuộn cán nóng trên sàn Thượng Hải tăng 1,2% lên 3.454 CNY/tấn.
Trong khi đó, Fitch Solutions điều chỉnh giảm dự báo giá thép toàn cầu trong năm 2019 xuống 600 USD/tấn do căng thẳng thương mại Mỹ – Trung kéo dài và rủi ro đối với nền kinh tế toàn cầu gia tăng gây áp lực giá.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn ICE giảm 1,3 US cent tương đương 1,34% xuống 95,55 US cent/lb, trong phiên có lúc chạm 94,2 US cent/lb, thấp nhất kể từ ngày 20/8/2019. Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn ICE giảm 25 USD tương đương 1,88% xuống 1.304 USD/tấn.
Giá đường tăng do hoạt động mua vào đã giúp thị trường hồi phục trở lại từ mức giảm gần 10% trong tháng trước đó, trong khi giá cà phê Arabica chạm thấp nhất 2 tuần.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn ICE tăng 0,05 US cent tương đương 0,45% lên 11,19 US cent/lb. Trong tháng 8/2019, giá đường giảm 8,8%, tháng giảm mạnh nhất trong hơn 1 năm. Trong khi đó, giá đường trắng giao cùng kỳ hạn trên sàn ICE giảm 0,5 USD tương đương 0,12% xuống 304,4 USD/tấn.
Giá lúa mì mềm đỏ, vụ đông tại Chicago giảm xuống mức thấp nhất 3 tháng, trong khi giá lúa mì cứng chạm thấp nhất 1 thập kỷ, do nguồn cung toàn cầu dồi dào và cạnh tranh xuất khẩu mạnh.
Giá lúa mì mềm đỏ, vụ đông kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn Chicago giảm 9 US cent xuống 4,53-1/2 USD/bushel. Giá lúa mì cứng đỏ vụ đông kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn Chicago giảm xuống 3,61-3/4 USD/bushel, thấp nhất kể từ tháng 12/2005.
Giá ngô kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn Chicago giảm 8-3/4 US cent xuống 3,61 USD/bushel, trong phiên có lúc chạm 3,6-1/2 USD/bushel. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn Chicago giảm 1/2 US cent xuống 8,68-1/2 USD/bushel.
Giá dầu cọ tại Malaysia đảo chiều giảm do giá dầu đậu tương trên sàn Chicago suy giảm.
Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn Bursa Malaysia giảm 1% xuống 2.212 ringgit (527,92 USD)/tấn, giảm phiên thứ 3 liên tiếp trong 5 phiên.
Giá cao su tại Tokyo giảm do lo ngại nền kinh tế toàn cầu chậm lại trong bối cảnh căng thẳng Mỹ – Trung leo thang. Trên sàn TOCOM, giá cao su kỳ hạn tháng 2/2020 giảm 0,8 JPY (0,0076 USD) xuống 162,1 JPY/kg. Giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 3/2020 ở mức 141 JPY/kg. Trong khi đó, trên sàn Thượng Hải, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2020 tăng 140 CNY (19,74 USD) lên 11.935 CNY/tấn. Giá cao su TSR20 tăng 60 CNY lên 10.135 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới
ĐVTGiá+/-+/- (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng52,84-1,16-2,1%
Dầu BrentUSD/thùng58,26-0,40-0,7%
Dầu thô TOCOMJPY/kl35.350,00-320,00-0,90%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu2,35-0,01-0,51%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon147,27+0,22+0,15%
Dầu đốtUS cent/gallon180,62+0,29+0,16%
Dầu khíUSD/tấn554,75+3,75+0,68%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl53.290,00-550,00-1,02%
Vàng New YorkUSD/ounce1.556,70+0,80+0,05%
Vàng TOCOMJPY/g5.257,00+59,00+1,14%
Bạc New YorkUSD/ounce19,57+0,33+1,71%
Bạc TOCOMJPY/g66,10+3,00+4,75%
Bạch kimUSD/ounce961,75+3,29+0,34%
PalađiUSD/ounce1.544,47+1,23+0,08%
Đồng New YorkUS cent/lb253,70+0,90+0,36%
Đồng LMEUSD/tấn5.610,00-10,00-0,18%
Nhôm LMEUSD/tấn1.753,00+4,00+0,23%
Kẽm LMEUSD/tấn2.205,00-39,00-1,74%
Thiếc LMEUSD/tấn16.710,00-90,00-0,54%
NgôUS cent/bushel361,75+0,75+0,21%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel457,50+4,00+0,88%
Lúa mạchUS cent/bushel265,25-3,75-1,39%
Gạo thôUSD/cwt11,98+0,01+0,04%
Đậu tươngUS cent/bushel867,75-0,75-0,09%
Khô đậu tươngUSD/tấn294,80+0,70+0,24%
Dầu đậu tươngUS cent/lb28,97-0,12-0,41%
Hạt cải WCECAD/tấn447,10-0,40-0,09%
Cacao MỹUSD/tấn2.245,00+23,00+1,04%
Cà phê MỹUS cent/lb95,55-1,30-1,34%
Đường thôUS cent/lb11,19+0,05+0,45%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb100,20-3,55-3,42%
BôngUS cent/lb58,01+0,15+0,26%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet368,90-2,10-0,57%
Cao su TOCOMJPY/kg164,00+1,90+1,17%
Ethanol CMEUSD/gallon1,32-0,04-2,80%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters

TT cà phê ngày 04/9: Đồng loạt sụt giảm khiến nhiều nơi mất mốc 33.000 đồng/kg

Sau khi chững lại trong kỳ nghỉ lễ, giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây Nguyên hôm nay đồng loạt sụt giảm 400 đồng. Giá giảm theo diễn biến của giá robusta thế giới, mức thấp nhất ở Lâm Đồng và cao nhất tại Đắk Lăk. Nhiều nơi đã mất mốc 33.000 đồng/kg chốt ở 32.000 – 33.100 đồng/kg. Tại cảng TPHCM, giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% giao dịch ở 1.504 USD/tấn (FOB), trừ lùi + 200 USD/tấn.

TT cà phê ngày 04/9: Đồng loạt sụt giảm khiến nhiều nơi mất mốc 33.000 đồng/kg

Tham khảo giá cà phê nhân xô tại Việt Nam   

TT nhân xôGiá trung bìnhThay đổi
FOB (HCM)1.504Trừ lùi: +200
Đắk Lăk33.100-400
Lâm Đồng32.000-400
Gia Lai32.800-400
Đắk Nông32.800-400
Hồ tiêu43.5000
Tỷ giá USD/VND23.1300
Đơn vị tính: VND/kg|FOB: USD($)/tấn

 Nguồn: Diễn đàn của người làm cà phê

Theo báo Pháp luật TP HCM, vừa qua các tỉnh Tây Nguyên mưa lớn kéo dài kết hợp với mưa của những ngày trước khiến hàng nghìn ha hoa màu, cà phê, tiêu ở Đắk Lắk bị ngập úng. Trong khi đó, giá cà phê vẫn tiếp tục chiều hướng đi xuống. Dự kiến giao dịch cà phê tại Việt Nam sẽ diễn ra ảm đạm cho đến niên vụ 2019/20 bắt đầu vào tháng 10/2019.
Cục Xuất nhập khẩu cho biết theo số liệu thống kê từ Cơ quan Hải quan Thái Lan, nhập khẩu cà phê của quốc gia Đông Nam Á trong nửa đầu năm 2019 giảm 35,1% về lượng và giảm 31,2% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2018, xuống còn 16.017 tấn, trị giá gần 38 triệu USD).
Trong đó, nhập khẩu cà phê arabica và robusta, chưa rang, chưa khử caffein của Thái Lan trong lũy kế 6 tháng đầu năm 2019 giảm gần 38% về lượng và giảm 42% về giá trị so với 6 tháng đầu năm 2018, xuống còn 14.757 tấn, trị giá 26,8 triệu USD. Đây là chủng loại chiếm tới hơn 92% trong tổng lượng nhập khẩu cà phê của Thái Lan trong nửa đầu năm 2019.
Ngược lại, lũy kế 6 tháng đầu năm 2019, Thái Lan đẩy mạnh nhập khẩu cà phê rang, chưa khử caffein, tăng 52,3% về lượng và tăng 36,4% về trị giá so với cùng kì năm ngoái, đạt 1.086 tấn, trị giá hơn 8,14 triệu USD.
Nửa đầu tháng đầu năm 2019, Thái Lan giảm nhập khẩu cà phê từ Việt Nam, Lào, Italy, Anh, nhưng tăng nhập khẩu từ Malaysia, Indonesia, Mỹ, Brazil, Thụy Điển, Australia.
Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu cà phê của Thái Lan từ Việt Nam đạt 13.700 tấn, trị giá 744,9 triệu USD, giảm gần 39% về lượng và giảm hơn 42% về giá trị so với cùng kì năm 2018.
Theo Cục Xuất nhập khẩu, mặc dù vẫn là thị trường cung cấp cà phê chủ yếu cho Thái Lan, nhưng thị phần cà phê Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Thái Lan giảm từ 91% trong 6 tháng đầu năm 2018, xuống còn 85,8% trong 6 tháng đầu năm 2019.
Cục Xuất nhập khẩu cho biết nhập khẩu cà phê từ Việt Nam giảm chủ yếu do Thái Lan giảm nhập khẩu cà phê chưa rang, chưa khử caffein.
Trong khi đó, nhập khẩu cà phê của Thái Lan từ Malaysia trong 6 tháng đầu năm 2019 tăng 371,3% về lượng và tăng 249% về trị giá so với 6 tháng đầu năm 2018, đạt 676 tấn, trị giá gần 5 triệu USD).
Thị phần cà phê Malaysia trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan tăng từ 0,6% trong 6 tháng đầu năm 2018, lên 4,2% trong 6 tháng đầu năm 2019. Hiện Malaysia cung cấp chính chủng loại cà phê rang, chưa khử caffein cho Thái Lan.
Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), sản lượng cà phê cao đã giúp Tanzania vượt qua Kenya lên vị trí thứ 4 từ vị trí thứ 5 trong số các nhà sản xuất hàng đầu ở châu Phi.
Nhà sản xuất hàng đầu ở châu Phi là Ethiopia với 450.000 tấn, tiếp theo là Uganda với 294.000 tấn, sau đó là Côte d’Ivoire với 96.000 tấn.
Dữ liệu của ICO cho thấy tại Cộng đồng Đông Phi (EAC), Uganda dẫn đầu về sản lượng cà phê, tiếp theo là Tanzania và Kenya với 51.000 tấn, Rwanda ở vị trí thứ 4 với 16.500 tấn và Burundi với 12.900 tấn trong niên vụ 2018/19.
Phạm Hòa

TT ngoại tệ ngày 04/09: Tỷ giá trung tâm, USD thế giới và bitcoin đồng loạt tăng tiếp

Tỷ giá mua – bán USD của ngân hàng nhà nước tiếp tục tăng mạnh so với phiên giao dịch ngày hôm qua 3/9/2019. Đồng USD trên thị trường thế giới tăng cao trong bối cảnh hầu hết các đồng tiền chủ chốt khác giảm giá, trong đó có GBP, Euro và CNY. Giá bitcoin hôm nay tăng vượt 10.600 USD.

TT ngoại tệ ngày 04/09: Tỷ giá trung tâm, USD thế giới và bitcoin đồng loạt tăng tiếp

Sáng nay (04/9/2019), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ là 23.146 VND, tăng 7 đồng. Cũng tại sở giao dịch ngân hàng nhà nước, giá mua – bán USD được niêm yết ở mức là 23.200 đồng/USD và 23.790 đồng/USD, không đổi ở chiều mua vào và tăng 7 đồng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch ngày hôm qua 3/9/2019.

Tại các ngân hàng thương mại sáng nay, lúc 09h30 giá mua – bán USD như sau: Ngân hàng Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.135 – 23.255 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; BIDV, giá USD cũng đang được niêm yết ở mức 23.140 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Vietinbank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.135 – 23.255 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Techcombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.126 – 23.266 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 7 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Eximbank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.130 – 23.240 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 10 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; HSBC niêm yết giá đồng USD ở mức 23.150 – 23.250 VNĐ/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Sacombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.095 – 23.255 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 14 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Maritimebank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.140 – 23.250 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch ngày hôm qua 3/9/2019.
Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN
Tỷ giá áp dụng cho ngày 04/09/2019
Ngoại tệTên ngoại tệMuaBán
USDĐô la Mỹ23.20023.790
EURĐồng Euro24.64226.166
JPYYên Nhật212225
GBPBảng Anh27.14328.822
CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.74424.151
AUDĐô la Úc15.18616.126
CADĐô la Canada16.83517.877
Ngân hàng Nhà nước thông báo tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực kể từ ngày 29/8/2019 đến 04/09/2019 như sau:
STTNgoại tệTên ngoại tệTỷ giá
1EURĐồng Euro25.645,44
2JPYYên Nhật218,65
3GBPBảng Anh28.372,34
4CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ23.543,36
5AUDĐô la Úc15.584,32
6CADĐô la Canada17.387,61
7SEKCuron Thuỵ Điển2.392,1
8NOKCuron Nauy2.565,44
9DKKCuron Đan Mạch3.439,92
10RUBRúp Nga348,59
11NZDĐô la Newzealand14.652,22
12HKDĐô la Hồng Công2.947,53
13SGDĐô la Singapore16.655,15
14MYRRingít Malaysia5.495,13
15THBBath Thái755,6
16IDRRupiah Inđônêsia1,62
17INRRupee Ấn độ322,59
18TWDĐô la Đài Loan736,26
19CNYNhân dân tệ TQuốc3.231,98
20KHRRiêl Cămpuchia5,72
21LAKKíp Lào2,65
22MOPPataca Macao2.864,63
23TRYThổ Nhĩ Kỳ3.975,76
24KRWWon Hàn Quốc19,06
25BRLRin Brazin5.605,13
26PLNĐồng Zloty Ba Lan5.860,49
Trên thị trường tự do, lúc 09h30 giá USD niêm yết ở mức mua vào là 23.180 đồng/USD và bán ra là 23.200 đồng/USD, không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với giao dịch sáng ngày hôm qua 3/9/2019.

Thế giới
Đầu phiên giao dịch ngày 4/9/2019 (giờ Việt Nam), trên thị trường thế giới, tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 99,26 điểm.
USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,0945 USD; 106,23 yen đổi 1 USD và 1,2038 USD đổi 1 bảng Anh.
Đầu giờ sáng, đồng USD trên thị trường thế giới tăng cao trong bối cảnh hầu hết các đồng tiền chủ chốt khác giảm giá, trong đó có bảng Anh, euro và Nhân dân tệ. Mâu thuẫn Mỹ-Trung và căng thẳng, bất ổn ở khắp nơi đang đẩy đồng USD đi lên.
Thị trường tài chính biến động mạnh trong bối cảnh Bộ Thương mại Trung Quốc vừa khiếu nại Mỹ lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về việc Mỹ áp thuế nhập khẩu đối với hàng hóa của Trung Quốc . Hôm 1/9 Mỹ đã chính thức áp mức thuế 15% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 112 tỷ USD, trong đó có giày, đồng hồ thông minh và máy thu hình màn hình phẳng…
Trong khi đó, Trung Quốc cũng đã đáp trả bằng việc bắt đầu áp các mức thuế bổ sung 5% và 10% đối với 1.717 mặt hàng của Mỹ. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng áp thuế 5% đối với dầu thô của Mỹ.
Các động thái này đã làm gia tăng căng thẳng quan hệ thương mại giữa hai nước.
Đồng NDT của Trung Quốc tiếp tục xuống mức thấp nhất trong 11 năm so với USD.
Như vậy, sau chưa đầy 1 tháng kể từ khi Ngân hàng trung ương Trung Quốc thả đồng NDT tuột ngưỡng quan trọng 7 NDT đổi 1 USD, đồng tiền của nước này đã xuống gần sát ngưỡng 7,2 NDT đổi 1 USD.
Thị trường tài chính cũng chịu áp lực từ những bất ổn tại Liên minh châu Âu (EC). Người phát ngôn Ủy ban châu Âu (EC) thừa nhận khả năng cao về một kịch bản “Brexit cứng”, nước Anh rời khỏi EU không thỏa thuận, sẽ diễn ra vào ngày 31/10 tới.
Đồng bảng Anh và đồng euro cùng rơi xuống các mức thấp kỷ lục. Đồng bảng Anh có khả năng tiếp tục giảm và có thể xuống đến mức 1,15 USD, hay thậm chí là 1,1 USD, trong những tuần tới.
Giá bitcoin hôm nay tiếp tục tăng mạnh đồng thời cũng phủ xanh thị trường.
Giá bitcoin hôm nay ghi nhận vào thời điểm 5h40 ở mức 10.687,34 USD, tăng 2,66% so với 24 giờ trước. Thanh khoản của bitcoin hiện đang ở mức 10% với khối lượng giao dịch 19 tỉ USD.
Tỉ lệ thống trị thị trường của bitcoin hiện vẫn đang giữ ở mức cao 70,5%.
Trên thị trường, 63/100 đồng tiền hàng đầu theo giá trị thị trường có mức giá tăng so với 24 giờ trước.
Trong đó, mức tăng cao nhất đạt 12,89% của V Systems.
Trong top 10, 8/10 đồng tiền tăng trong 24 giờ qua.
Ethereum tăng 1,06% lên 180,67 USD.
Ripple tăng 1,02% lên 0,2642 USD.
Bitcoin cash tăng 2,78%, vượt ngưỡng 300 USD, lên 302,56 USD.
Litecoin tăng mạnh nhất trong top 10 với tỉ lệ 4,42%, lên 70,05 USD. Thanh khoản của litecoin vẫn ở mức cao so với những đồng tiền khác, đạt 62,3% với giá trị thị trường 4,4 tỉ USD.
Tether giảm nhẹ về 1,00 USD với giá thấp hơn 0,08% so với 24 giờ trước. Đây vẫn là đồng tiền giao dịch nhiều nhất thị trường với khối lượng giao dịch lên đến 20,5 tỉ USD, so với giá trị thị trường 4 tỉ USD, thanh khoản của Tether đạt 500%.
Binance coin giảm 0,54% so với 24 giờ trước, còn 22,61 USD.
Eos tăng 2,11% lên 3,40 USD.
Bitcoin SV tăng 0,52% so với 24 giờ trước, lên 135,02 USD.
Monero tăng 2,33% so với ngày 3/9, lên 75,05 USD.
Tổng giá trị thị trường tiền kĩ thuật số bật tăng trở lại sau khi giảm xuống đến mức thấp 288,16 tỉ USD vào 18h ngày 2/7.
Vào lúc 5h57, giá trị thị trường tiền kĩ thuật số ghi nhận ở 271,75 tỉ USD, cao hơn 6,75 tỉ USD so với 24 giờ trước.
Khối lượng giao dịch 24 giờ của thị trường đạt 59,98 tỉ USD, cao hơn 9,13% so với ngày 3/9.

Nguồn: VITIC tổng hợp

179 dự án được kêu gọi đầu tư tại TP Hồ Chí Minh và ĐBSCL

TP Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mời gọi các doanh nghiệp đầu tư vào 179 dự án ở các lĩnh vực để tạo điều kiện cho các tỉnh phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội liên vùng.

Trong 179 dự án mời gọi đầu tư, TP Hồ Chí Minh là nơi có số lượng nhiều nhất, với 51 dự án; kế đến là tỉnh An Giang có 24 dự án; Bạc Liêu 20 dự án; cùng với đó là Kiên Giang; Sóc Trăng; Đồng Tháp; Cần Thơ; Bến Tre; Tiền Giang…

Chú thích ảnh
Ngày 4/9, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP Hồ Chí Minh (ITPC) và Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh tổ chức “Hội nghị xúc tiến và mời gọi đầu tư hạ tầng văn hóa – thể thao – du lịch – giải trí vào TP Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL.

Ông Nguyễn Tuấn, Phó Giám đốc ITPC, cho biết, việc mời gọi đầu tư từ những doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ giúp các tỉnh, thành phố phát huy được tiềm năng và thế mạnh sẵn có, đồng thời được hưởng chính sách ưu đãi, cũng như sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo các địa phương, từ đó giúp doanh nghiệp có những chiến lược, kế hoạch trong hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực hạ tầng văn hóa – thể thao – du lịch – giải trí của TP Hồ Chí Minh và vùng ĐBSCL.

Riêng TP Hồ Chí Minh, các dự án phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng và tiềm năng đang được thành phố tích cực mời gọi đầu tư để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội – văn hóa, như: Du lịch văn hóa, du lịch ẩm thực, du lịch đường thủy, du lịch sinh thái nông nghiệp và đặc biệt là du lịch hội nghị (MICE), hạ tầng văn hóa – thể thao – du lịch – giải trí…

Còn 13 tỉnh ĐBSCL như Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau cũng cam kết chào đón và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư đến tìm hiểu các dự án về du lịch sinh thái, miệt vườn, văn hóa ẩm thực, du lịch tâm linh,  hạ tầng giao thông đường bộ, hành không, đường thủy… tại địa phương.

Ông Nguyễn Ngọc Thương, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Tháp, cho biết  các tỉnh ĐBSCL mong muốn các nhà đầu tư sắp tới sẽ đầu tư vào các dự án về du lịch, văn hóa, giao thông, xã hội… tại các tỉnh để giúp khu vực ĐBSCL “cất cánh bay xa”. Theo đó, các địa phương cam kết sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các nhà đầu tư thực hiện thành công các dự án, cụ thể doanh nghiệp sẽ được hưởng các ưu đãi về thuê đất, hỗ trợ hoàn thiện các thủ tục hành chính nhanh nhất, giảm chi phí dịch vụ…. liên quan đến các dự án.

Tin, ảnh: Hoàng Quân/Báo Tin tức

Giá vàng SJC tăng vọt lên sát ngưỡng 43 triệu đồng/lượng

Theo đà tăng của giá vàng thế giới, giá vàng SJC trong nước đã tăng mạnh, lên sát mức 43 triệu đồng/lượng.

Ảnh minh họa

Ghi nhận của Petrotimes vào hồi 14h30 ngày 4/9, giá vàng 9999 trong nước hiện đang được niêm yết tại TP Hồ Chí Minh ở mức 42,40 – 42,75 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra), tăng đồng thời 150 ngàn đồng ở cả chiều mua và chiều bán so với cuối phiên giao dịch ngày 3/9.

Với mức điều chỉnh tăng 220 ngàn đồng ở chiều mua và 260 ngàn đồng ở chiều bán, giá vàng SJC được Tập đoàn DOJI niêm yết tại Hà Nội ở mức 42,57 – 42,89 triệu đồng/lượng.

Còn tại Phú Quý SJC, giá vàng miếng SJC đứng ở mức 42,50 – 42,85 triệu đồng/lượng, tăng 170 ngàn đồng ở chiều mua và 200 ngàn đồng ở chiều bán.

Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng 9999 được niêm yết ở mức 42,58 – 42,84 triệu đồng/lượng, tăng 200 ngàn đồng ở chiều mua và 210 ngàn đồng ở chiều bán.

Trên thị trường thế giới, sau khi bật tăng mạnh trong đầu phiên giao dịch, giá vàng thế giới giao ngay đã quay đầu giảm. Ghi nhận cùng thời điểm, giá vàng thế giới giao ngay hiện đang đứng ở mức 1.535,76 USD/Ounce, giảm hơn 13 USD/Ounce so với đầu phiên giao dịch.

Minh Ngọc

TT ngoại tệ ngày 29/8: Tỷ giá trung tâm và USD thế giới đồng loạt tăng, bitcoin giảm

Tỷ giá trung tâm tăng 4 đồng, giá USD tại các ngân hàng thương mại tăng nhẹ so với phiên giao dịch ngày hôm qua 28/8/2019. Đồng USD trên thị trường thế giới chịu áp lực trước lo ngại về tranh chấp thương mại kéo dài giữa Mỹ và Trung Quốc và lợi suất trái phiếu tiếp tục giảm. Giá bitcoin giảm mạnh, kéo theo sự sụp đổ của toàn thị trường.

TT ngoại tệ ngày 29/8: Tỷ giá trung tâm và USD thế giới đồng loạt tăng, bitcoin giảm

Sáng nay (29/8/2019), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ là 23.133 VND, tăng 4 đồng so với phiên hôm qua.
Cũng tại sở giao dịch ngân hàng nhà nước, giá mua – bán USD được niêm yết ở mức là 23.200 đồng/USD và 23.777 đồng/USD, không đổi ở chiều mua vào và tăng 3 đồng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch ngày 28/8/2019.
Tại các ngân hàng thương mại sáng nay, lúc 09h30 giá mua – bán USD như sau: Ngân hàng Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.145 – 23.265 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; BIDV, giá USD cũng đang được niêm yết ở mức 23.145 – 23.265 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Vietinbank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.142 – 23.262 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 2 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Techcombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.131 – 23.271 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Eximbank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.140 – 23.250 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; HSBC niêm yết giá đồng USD ở mức 23.160 – 23.260 VNĐ/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Sacombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.100 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở chiều mua vào và tăng 10 đồng ở chiều bán ra; Maritimebank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.150 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch ngày hôm qua 28/8/2019.
Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN
Tỷ giá áp dụng cho ngày 29/08/2019
Ngoại tệTên ngoại tệMuaBán
USDĐô la Mỹ23.20023.777
EURĐồng Euro24.87726.416
JPYYên Nhật212225
GBPBảng Anh27.40629.101
CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.88124.296
AUDĐô la Úc15.11316.047
CADĐô la Canada16.85717.900
Ngân hàng Nhà nước thông báo tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực kể từ ngày 29/8/2019 đến 04/09/2019 như sau:
STTNgoại tệTên ngoại tệTỷ giá
1EURĐồng Euro25.645,44
2JPYYên Nhật218,65
3GBPBảng Anh28.372,34
4CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ23.543,36
5AUDĐô la Úc15.584,32
6CADĐô la Canada17.387,61
7SEKCuron Thuỵ Điển2.392,1
8NOKCuron Nauy2.565,44
9DKKCuron Đan Mạch3.439,92
10RUBRúp Nga348,59
11NZDĐô la Newzealand14.652,22
12HKDĐô la Hồng Công2.947,53
13SGDĐô la Singapore16.655,15
14MYRRingít Malaysia5.495,13
15THBBath Thái755,6
16IDRRupiah Inđônêsia1,62
17INRRupee Ấn độ322,59
18TWDĐô la Đài Loan736,26
19CNYNhân dân tệ TQuốc3.231,98
20KHRRiêl Cămpuchia5,72
21LAKKíp Lào2,65
22MOPPataca Macao2.864,63
23TRYThổ Nhĩ Kỳ3.975,76
24KRWWon Hàn Quốc19,06
25BRLRin Brazin5.605,13
26PLNĐồng Zloty Ba Lan5.860,49
Trên thị trường tự do, lúc 09h30 giá USD niêm yết ở mức mua vào là 23.200 đồng/USD và bán ra là 23.215 đồng/USD, tăng 15 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với giao dịch sáng ngày hôm qua 28/8/2019.

Diễn biến giá USD tại thị trường tự do ngày 28/8/2019

Thế giới
Chỉ số đô la Mỹ so với rổ sáu loại tiền tệ chính đã tăng lên đến 97,98 sau khi giảm 0,1% qua đêm.
Sức ép đè nặng lên thị trường còn là những bấp bênh xung quanh tiến độ cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Với cuộc họp tiếp theo của FED diễn ra vào giữa tháng 9, giới đầu tư đang đánh giá về tình trạng sức khỏe kinh tế Mỹ để dự báo về đường đi của lãi suất trong thời gian tới. Những thống kê được quan tâm đặc biệt trong tuần tới bao gồm báo cáo việc làm và dữ liệu ngành sản xuất.
Trong khi đó, Trung Quốc cho biết nước này đã chuẩn bị kế hoạch trong trường hợp không đạt thỏa thuận. Trong đó có đưa các công ty Mỹ vào danh sách thực thể không đáng tin và tung thêm biện pháp kích thích kinh tế.
Ngày 27/8, Trung Quốc đã công bố các biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ, bao gồm khả năng loại bỏ các hạn chế trong việc mua xe hơi.
Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã kéo dài hơn một năm qua và chưa có dấu hiệu sẽ sớm chấm dứt. Thậm chí, hai bên còn nhiều lần đưa ra thông tin trái chiều, khiến giới phân tích và nhà đầu tư hoang mang.
Lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm mất 6,8 điểm cơ bản còn 1,481% trong phiên giao dịch ngày 27/8. Thị trường đang theo dõi diễn biến của lãi suất kho bạc Mỹ. Trong phiên giao dịch ngày 27/8, chênh lệch giữa lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm và lợi suất trái phiếu kỳ hạn 2 năm đã rớt xuống -5 điểm cơ bản, mức thấp nhất kể từ năm 2007.
Đây gọi là sự đảo ngược đường cong lợi suất. Các chuyên gia lo ngại nó vì trong quá khứ hiện tượng này xuất hiện trước thời kỳ suy thoái. Lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 3 tháng cũng cao hơn lợi suất trái phiếu kỳ hạn 30 năm.
Đồng đô la đã tăng giá ở mức 105,79 yên sau khi giảm 0,35% chỉ sau một đêm, nhưng vẫn tăng từ mức thấp nhất trong 8 tháng là 104,46 vào thứ Hai.
Đồng euro đã ổn định ở mức 1,1085 sau khi giảm 0,1% vào thứ ba. Đồng bảng Anh giảm 0,17% xuống còn 1,2267.
Đồng đô la Úc đã giảm 0,16% xuống 0,6740 sau khi Phó Thống đốc Ngân hàng Dự trữ Úc Guy Debelle nói rằng đồng nội tệ suy yếu đang hỗ trợ nền kinh tế và việc giảm thêm sẽ có lợi.
Giá bitcoin hôm nay ghi nhận vào thời điểm 6h29 ở mức 9.746,16 USD, giảm gần 600 USD, tương đương 4,06% so với con số 10.200 USD của 24 giờ trước.
Trên thị trường, chỉ có 7/100 đồng tiền kĩ thuật số hàng đầu theo giá trị thị trường có giá cao hơn so với 24 giờ trước.
Trong top 10, 10/10 đồng tiền giảm giá trong 24 giờ qua với mức giảm từ 4% đến 7%.
Ethereum giảm 6,59% xuống 174,57 USD, giá trị thị trường còn 18,76 tỉ USD. Ripple giảm 4,45% xuống 0,2572 USD, giá trị thị trường 11,04 tỉ USD. Khoảng cách về giá trị thị trường của Ethereum và Ripple hiện đang ở mức 7,72 tỉ USD.
Bitcoin cash ghi nhận tỉ lệ giảm giá 4,87%, còn 292,88 USD.
Litecoin giảm mạnh 7,08%, còn 67,55 USD.
Tether giảm nhẹ xuống dưới 1 USD, ghi nhận ở 0,9968 USD.
Binance coin chỉ còn 23,81 USD sau khi giảm mạnh 7,2% trong ngày.
Eos giảm 7,01%, xuống 3,29 USD.
Bitcoin SV chỉ còn 126,19 USD sau khi giảm 5,78%.
Stellar lại lọt vào top 10 dù giảm 4,2% trong ngày, do Monero giảm mạnh 7,22%. Giá trị thị trường của hai đồng này chỉ cách nhau 50 triệu USD.
Trong khi đó, binance coin giảm nhiều nhất trong top 10 khi mất 1,54%, còn 16,51 USD.
Tether lần đầu tiên giảm dưới 1 USD trong nhiều ngày qua khi giảm 1,1% trong ngày, ghi nhận mức giá 0,9993 USD.
Tổng giá trị thị trường tiền kĩ thuật số ghi nhận vào thời điểm 6h32 theo CoinMarketCap ở 252,53 tỉ USD, giảm 13,26 tỉ USD với 24 giờ trước.
Khối lượng giao dịch 24 giờ trên thị trường vẫn ủng hộ xu hướng giảm khi ghi nhận ở 58,29 tỉ USD, cao hơn con số của ngày 28/8 với tỉ lệ 19,86%.

Nguồn: VITIC tổng hợp

Nhà đầu tư Nhật Bản khánh thành dự án điện mặt trời 64 triệu USD

Fujiwara đầu tư dự án điện mặt trời có công suất lắp đặt 100 MWp tại Bình Định.

Nhà đầu tư Nhật Bản khánh thành dự án điện mặt trời 64 triệu USD

Ngoài Nhật Bản, các nhà đầu tư Hàn Quốc, Thái Lan, Na Uy rót vốn đầu tư điện mặt trời tại Việt Nam.

Nhà máy điện mặt trời do Công ty cổ phần Fujiwara (Nhật Bản) đầu tư tại khu kinh tế Nhơn Hội (Bình Định) vừa được khánh thành ngày 19/8 dưới sự chứng kiến của Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình. Dự án có tổng công suất lắp đặt 100 MWp, tổng vốn đầu tư 63,7 triệu USD, là một trong những dự án quan trọng trong chương trình phát triển năng lượng tái tạo của Bình Định.

Đến nay, dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng giai đoạn 1 với công suất 50 MWp, sản lượng điện dự tính hàng năm đạt 61 MW/h, là dự án năng lượng tái tạo đầu tiên trong khu kinh tế Nhơn Hội hòa lưới điện quốc gia.
Phát biểu tại buổi lễ, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình cho biết thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích, thu hút vốn ngoài Nhà nước đầu tư cho ngành điện. Thời gian qua, điện mặt trời thu hút sự quan tâm của một loạt các nhà đầu tư nước ngoài từ Hàn Quốc, Na Uy, Thái Lan, Nhật Bản…
Công ty cổ phần Fujiwara thành lập từ năm 1999, có trụ sở chính tại Tokyo, Nhật Bản kinh doanh chính trong lĩnh vực xây dựng và nông nghiệp. Từ năm 2011, Fujiwara thành lập ban năng lượng nhằm hoạt động phát triển năng lượng tự nhiên. Hiện doanh nghiệp này phát triển mảng thiết kế, xây dựng và bảo trì hệ thống điện mặt trời. Fujiwara đầu tư một loạt các dự án điện mặt trời tại Nhật , Sir Lanka và Việt Nam. Doanh nghiệp này có ý định mở rộng đầu tư lĩnh vực này tại các nước khác trong khu vực Đông Nam Á trong thời gian tới.
Đến hết ngày 30/6, Việt Nam có 87 nhà máy điện mặt trời được đóng điện với công suất gần 4.500 MW. Để kịp hưởng giá ưu đãi 9,35cent/kWh, các nhà đầu tư chạy đua. Riêng tháng 4-6, 81 nhà máy được đóng điện. Thực tế cho thấy cơ chế giá khuyến khích phát triển điện mặt trời đã tạo động lực cho các dự án năng lượng tái tạo phát triển, tuy nhiên còn nhiều vấn đề bất cập như tình trạng quả tái lưới điện, nhiều dự án điện mặt trời phải cắt giảm công suất.
Cơ chế giá bán điện mặt trời từ các nhà máy cho hệ thống điện quốc gia đang chờ Chính phủ phê duyệt, sau khi thời hạn ưu đãi 9,35 cent/kWh hết hạn ngày 30/6. Tại buổi họp báo Chính phủ chiều 1/8, Thứ trưởng Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết Bộ này đã báo cáo Thường trực Chính phủ về phương án giá điện mặt trời sau ngày 30/6 với quan điểm sẽ chia theo khu vực, không để một giá đối với điện mặt trời. Ngày 15/9, Bộ Công Thương sẽ trình Chính phủ phương án giá.
Tại cuộc họp ngày 31/7, Bộ Công Thương trình 2 phương án giá mua điện mặt trời chia theo 4 vùng và 2 vùng, đa phần ủng hộ phương án chia 2 vùng. Nếu theo cách chia này, vùng 1 sẽ gồm 6 tỉnh (Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Gia Lai, Đăk Lăk) đang bị quá tải về lưới điện và vùng 2 sẽ là các tỉnh còn lại.

Nguồn: ndh.vn

Hàng hóa TG sáng 29/8/2019: Giá vàng giảm; dầu, cà phê, đậu tương đi lên

Phiên 28/8/2019 trên thị trường quốc tế (kết thúc vào rạng sáng 29/8/2019 giờ VN), giá nhiều mặt hàng chủ chốt tăng so với phiên trước.

Hàng hóa TG sáng 29/8/2019: Giá vàng giảm; dầu, cà phê, đậu tương đi lên

Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng sau khi số liệu chính thức cho thấy tồn trữ dầu thô hàng tuần của Mỹ giảm mạnh.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 10/2019 đã tăng 0,85 USD lên 55,78 USD/thùng, trong khi dầu Brent giao cùng kỳ hạn cũng tăng 0,98 USD lên 60,49 USD/thùng tại London.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết, trong tuần kết thúc vào ngày 23/8 tồn trữ dầu thô thương mại của Mỹ (không tính các kho dự trữ dầu khí chiến lược) đã giảm 10 triệu thùng xuống 427,8 triệu thùng so với tuần trước. Hiện lượng dự trữ dầu của Mỹ ở mức trung bình cùng thời điểm 5 năm trước đây. Tồn trữ xăng của nước này cũng giảm 2,1 triệu thùng, nhiều gấp gần 3 lần mức 388.000 thùng mà các nhà phân tích dự báo. Như vậy, tồn trữ dầu thô của nước này đã giảm khoảng 1/5 từ mức cao nhất năm 2019 đạt tới vào tháng 4/2019. Tồn trữ xăng dầu Mỹ giảm đã làm thị trường dịu bớt lo ngại về việc nhu cầu yếu.
Morgan Stanley ngày hôm qua đã hạ dự báo về giá dầu Brent từ nay tới cuối năm xuống còn khoảng 60 USD/thùng, từ mức 65 USD đưa ra trước đây, và dầu WTI từ 58 USD xuống 55 USD/thùng, do kém lạc quan về tăng trưởng nhu cầu dầu trong năm nay và năm tới.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm giữa bối cảnh đồng USD mạnh lên và các nhà đầu tư bán chốt lời, sau khi giá kim loại quý này tăng hơn 1% trong phiên trước.
Kết thúc phiên giao dịch, vàng giao ngay giảm 0,1% xuống còn 1.541,20 USD/ounce, sau khi đầu sáng vọt lên 1.554,56 USD/ounce, mức cao nhất kể từ tháng 4/2013 trong phiên 26/8/2019. Trong khi đó, giá vàng giao kỳ hạn giảm 0,2% xuống 1.549,10 USD/ounce.
Dù vậy, sự bất ổn xoay quanh cuộc thương chiến Mỹ-Trung cũng như triển vọng kinh tế toàn cầu ảm đạm là những nhân tố “giữ” vàng gần mức đỉnh trong nhiều năm.
David Meger, Giám đốc phụ trách giao dịch kim loại tại High Ridge Futures, cho rằng thị trường không nhận thêm được bất kỳ thông tin gây căng thẳng nào, sau nhiều diễn biến trong những phiên gần đây như cuộc chiến thương mại và mối lo ngại về tình hình kinh tế. Thêm vào đó, sự tăng giá của đồng bạc xanh cũng gây áp lực lên vàng. Đồng USD đã tăng 0,2%, khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với những người nắm giữ các loại tiền tệ khác.
Tuy nhiên, Bob Haberkorn, chiến lược gia thị trường cao cấp tại RJO Futures, cho rằng đà giảm của giá vàng sẽ không kéo dài, khi kim loại quý này vẫn tỏ ra hấp dẫn người mua, trước diễn biến của đường cong lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ và chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Các chuyên gia cho biết môi trường lãi suất thấp hơn sẽ làm giảm chi phí nắm giữ vàng, đồng thời gây sức ép đối với đồng USD, khiến giá vàng thấp hơn đối với các nhà đầu tư nắm giữ đồng tiền khác.
Về những kim loại quý khác, giá bạc nhìn chung tiếp tục diễn biến sát với xu hướng giá vàng từ đầu năm tới nay. Phiên vừa qua, bạc giao nay tăng 1,2% lên 18,38 USD/ounce, mức cao nhất kể từ tháng 4/2017. Các nhà phân tích của Commerzbank cho biết: “Hiện không có nhiều cơ sở cho thấy nhu cầu vàng và bạc sẽ giảm xuống”.
Giá bạch kim tăng 4,8% trong phiên vừa qua, lên 907 USD/ounce, cao nhất kể từ 22/4/2019; palađi giảm 0,8% xuống 1.469,6 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá ngô và đậu tương tại Chicago tăng trong phiên vừa qua do thiếu chắc chắn về quy mô vụ thu hoạch mùa Thu cũng như lo ngại rằng giá đã giảm quá sâu.
Sau khi ngô chạm mức thấp nhất hơn 3 tháng và đậu tương thấp nhất hơn 2 tháng lúc đầu phiên, giá ngô đã đảo chiều tăng và khép phiên cộng thêm 1,5% lên 3,71 USD/bushel, trong khi đậu tương tăng 0,7% lên 8,65-3/4 USD/bushel.
Giá đường thô trên sàn New York đầu phiên vừa qua đã chạm mức thấp nhất kể từ tháng 10/2018, là 11,09 US cent/lb, sau đó đảo chiều đi lên nhờ giá năng lượng tăng và đồng real mạnh lên.
Đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 tăng 0,13 US cent tương đương 1,2% vào lúc đóng cửa, lên 11,37 US cent/lb, trong khi đường trắng cùng kỳ hạn trên sàn London cũng tăng 3,10 USD tương đương 1% lên 309,20 USD/tấn.
Tuy nhiên, nguồn cung từ Ấn Độ sắp tới có thể tăng lên và gây áp lực lên giá. Ấn Độ vừa thông báo sẽ trợ cấp 10.448 rupee (146,14 USD)/tấn đường xuất khẩu trong nỗ lực bán 6 triệu tấn đường ra nước ngoài. Như vậy, Ấn Độ vẫn trợ cấp đường bất chấp một số nước sản xuất khác như Brazil và Australia kiện lên WTO.
Gía cà phê arabica trên sàn New York tăng 0,4 US cent tương đương 0,4% trong phiên vừa qua, lên 97,55 US cent /lb, do thời tiết chuyển xấu ở Brazil, mặc dù nguồn cung từ nước này hiện tại vẫn đang dồi dào. Robusta trên sàn London cũng theo xu hướng tăng, thêm 12 USD tương đương 0,9% lên 1.351 USD/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc chạm mức cao nhất gần 1 tháng là 1.368 USD/tấn bởi thông tin tồn trữ cuối vụ ở Việt Nam sụt giảm.
Với mặt hàng cacao, hợp đồng kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn New York giảm 4 USD tương đương 0,2% xuống 2.243 USD/tấn, sau khi có lúc đạt mức cao nhất 2 tuần ở phiên trước; trong khi đó trên sàn London giá vững ở 1.716 GBP/tấn. Thời tiết ở khu vực Tây Phi tiếp tục được cải thiện, tuần qua đã có mưa trên mức trung bình, làm giảm bớt tình trạng khô hạn.
Giá cao su trên thị trường Tokyo giảm vào cuối phiên vừa qua do các nhà đầu tư bán kiếm lời sau khi giá tăng lúc đầu phiên và đồng JPY mạnh lên so với USD.
Kết thúc phiên giao dịch, cao su kỳ hạn tháng 2/2019 trên sàn TOCOM giảm 1,6 JPY tương đương 0,1% xuống 162,2 JPY (1,54 USD)/kg; đầu phiên có lúc đạt mức cao 167,4 JPY.
Trên sàn Thượng Hải, hợp đồng kỳ hạn tháng 1/2020 tăng 155 CNY lên 11.680 CNY (1.647 USD)/tấn.
Một số nhà đầu tư cho rằng giá ở Thượng Hải đã chạm đáy và bắt đầu hồi phục do các chương trình kích thích của Chính phủ Trung Quốc, trong đó có việc khuyến khích người dân mua ô tô.
Cụ thể, Trung Quốc ngày 27/8/2019 đã thông báo các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng, trong đó có việc có thể xóa bỏ những hạn chế trong việc mua ô tô, giữa bối cảnh nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới đang bấp bênh do cuộc chiến thương mại với Mỹ ngày càng căng thẳng.
Giá hàng hóa thế giới
ĐVTGiá+/-+/- (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng55,78+0,85+55,78%
Dầu BrentUSD/thùng60,49+0,98+1,65%
Dầu thô TOCOMJPY/kl36.850,00+240,00+0,66%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu2,25+0,05+2,23%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon170,17+1,93+1,15%
Dầu đốtUS cent/gallon185,33+0,23+0,12%
Dầu khíUSD/tấn569,50+16,00+2,89%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl54.650,00+40,00+0,07%
Vàng New YorkUSD/ounce1.547,30-1,80-0,12%
Vàng TOCOMJPY/g5.235,00+10,00+0,19%
Bạc New YorkUSD/ounce18,42-0,04-0,20%
Bạc TOCOMJPY/g61,90-0,10-0,16%
Bạch kimUSD/ounce903,72+1,85+0,21%
PalađiUSD/ounce1.473,07-0,69-0,05%
Đồng New YorkUS cent/lb256,85+0,40+0,16%
Đồng LMEUSD/tấn5.690,00+7,00+0,12%
Nhôm LMEUSD/tấn1.746,00-15,00-0,85%
Kẽm LMEUSD/tấn2.257,00-18,00-0,79%
Thiếc LMEUSD/tấn15.750,000,000,00%
NgôUS cent/bushel371,00+4,75+1,30%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel475,25-1,50-0,31%
Lúa mạchUS cent/bushel264,75-2,25-0,84%
Gạo thôUSD/cwt11,65+0,19+1,66%
Đậu tươngUS cent/bushel865,75+6,50+0,76%
Khô đậu tươngUSD/tấn299,70+2,70+0,91%
Dầu đậu tươngUS cent/lb28,45+0,10+0,35%
Hạt cải WCECAD/tấn447,90+1,50+0,34%
Cacao MỹUSD/tấn2.243,00-4,00-0,18%
Cà phê MỹUS cent/lb97,55+0,40+0,41%
Đường thôUS cent/lb11,37+0,13+1,16%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb104,85+2,60+2,54%
BôngUS cent/lb58,73+0,81+1,40%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet379,30+11,10+3,01%
Cao su TOCOMJPY/kg162,50+0,30+0,19%
Ethanol CMEUSD/gallon1,35+0,02+1,74%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters

DMC – Tạo đà tăng trưởng trong tương lai

Kinh doanh các hóa chất khoan khai thác, hóa phẩm cơ bản, các sản phẩm lọc hóa dầu phục vụ cho ngành Dầu khí và các ngành công nghiệp khác là những lĩnh vực chủ đạo của Tổng công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí (DMC). Với gần 30 năm kinh nghiệm, DMC đã có nhiều giải pháp đột phá, nâng cao hiệu quả hoạt động.

Bức tranh toàn cảnh tích cực

Năm 2019 được dự báo là năm tiếp tục có nhiều khó khăn, thách thức đối với toàn ngành Dầu khí nói chung và DMC nói riêng. DMC phải đối mặt với nhiều khó khăn do hoạt động sản xuất kinh doanh cốt lõi của DMC gắn chặt với các hoạt động khoan, khai thác của ngành Dầu khí, giá dầu thô chưa ổn định khiến các nhà thầu dầu khí vẫn hạn chế các hoạt động thăm dò, khai thác.

dmc tao da tang truong trong tuong lai
DMC thực hiện dịch vụ cung cấp dung dịch khoan

Lường trước những khó khăn, ban lãnh đạo cùng toàn thể CBCNV của DMC đã tập trung mọi nguồn lực, tích cực áp dụng các giải pháp như: Tăng cường nắm bắt thông tin thị trường và nhu cầu khách hàng; nâng cao chất lượng sản phẩm; chuyên nghiệp hóa các khâu tiếp nhận, xử lý đơn hàng, bàn giao hàng hóa giúp khách hàng tiết kiệm thời gian…, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Trong 6 tháng đầu năm 2019, kết quả kinh doanh của DMC khá tích cực. Doanh thu Công ty Mẹ – DMC ước 775,6 tỉ đồng, đạt 104,8% kế hoạch 6 tháng; lợi nhuận ước 31,23 tỉ đồng, vượt chỉ tiêu kế hoạch và bằng 176% so với cùng kỳ năm 2018. Doanh thu hợp nhất ước 956,2 tỉ đồng, đạt 108% kế hoạch 6 tháng; lợi nhuận hợp nhất ước 15,3 tỉ đồng, vượt chỉ tiêu kế hoạch cả năm 2019. Kết quả đó cho thấy các giải pháp thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của DMC đã đem lại hiệu quả cao ngay từ đầu năm 2019.

Kết quả của DMC tích cực trên cả ba lĩnh vực hoạt động chính: Cung cấp dịch vụ hóa kỹ thuật, kinh doanh hóa chất và sản xuất.

Đối với lĩnh vực kinh doanh hóa chất, DMC đã tích cực bám sát thị trường tìm kiếm cơ hội hợp tác và tiếp cận cả với khách hàng ngoài ngành Dầu khí. DMC đã cung cấp hóa chất cho lọc hóa dầu tại Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn và Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, hóa chất khai thác cho một số công ty đang khai thác dầu khí tại Việt Nam và kinh doanh lưu huỳnh, hạt nhựa nhập khẩu, mở ra cơ hội hợp tác với các đối tác lớn trên thế giới như Adnoc, Aramco…

Dịch vụ hóa kỹ thuật cũng có kết quả tốt với 314 tỉ đồng doanh thu và 22,2 tỉ đồng lợi nhuận nhờ Chi nhánh DMC-WS và Công ty M – I Việt Nam triển khai cung cấp dịch vụ cho 13 giếng khoan của các nhà thầu dầu khí.

Lĩnh vực dịch vụ nghiên cứu ứng dụng và hỗ trợ khai thác trong 6 tháng đầu năm 2019 cũng ghi nhận doanh thu vượt mức 55% kế hoạch, đạt 24,8 tỉ đồng, chủ yếu đến từ việc cung cấp dịch vụ kỹ thuật của Chi nhánh DMC-RT với 10 hợp đồng dịch vụ khâu đầu, 5 hợp đồng dịch vụ khâu sau và 2 hợp đồng nghiên cứu khoa học. Chi nhánh DMC-ITS đã ký mới được 7 hợp đồng từ đầu năm đến nay, triển khai được 19 hợp đồng, trong đó 8 hợp đồng thuộc lĩnh vực cung cấp dịch vụ công nghiệp và 11 hợp đồng thuộc lĩnh vực xử lý môi trường.

Hoạt động sản xuất tại Nhà máy Cái Mép đã dần đi vào ổn định, cung cấp các sản phẩm chính như xi măng G, Silica Flour, Bentonie API và được thị trường đón nhận tích cực. Tổng sản lượng sản xuất của DMC trong 6 tháng đầu năm 2019 đạt 7.469 tấn, đạt 113% kế hoạch 6 tháng và tăng 33% so với cùng kỳ năm 2018. Tiêu thụ sản phẩm tăng 14,5% so với kế hoạch và tăng 36,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Xây dựng chiến lược phát triển

DMC đang tiếp tục đẩy mạnh việc áp dụng các giải pháp đồng bộ như: Tiếp tục bám sát khách hàng phát triển thị trường cung cấp các sản phẩm/dịch vụ cả trong và ngoài ngành Dầu khí; tổ chức thực hiện các hợp đồng cung cấp dịch vụ dung dịch khoan lớn đã ký với Vietsovpetro, PVEP, các JOC…, các hợp đồng liên quan đến dịch vụ chống ăn mòn, xử lý axit đáy giếng, làm sạch và môi trường; triển khai các công việc với đối tác BIG (Thái Lan)/Air Products and Chemicals (Mỹ) về nghiên cứu thị trường khí công nghiệp và triển khai các nội dung đã ký kết tại thỏa thuận hợp tác hồi tháng 3-2019 với mục tiêu hoàn thành lập công ty liên doanh trong tháng 9-2019; triển khai các thủ tục đầu tư Dự án căn cứ dịch vụ tại Nghi Sơn; xây dựng trung tâm kinh doanh hóa chất tại khu vực phía Nam.

Trong 6 tháng đầu năm 2019, bức tranh toàn cảnh về hoạt động sản xuất kinh doanh của DMC rất tích cực, đặc biệt khi DMC phát triển đồng đều và ổn định trên cả ba lĩnh vực chủ chốt: Cung cấp dịch vụ hóa kỹ thuật, kinh doanh hóa chất và sản xuất.

Đồng thời, DMC sẽ hoàn thành xây dựng chiến lược phát triển DMC đến năm 2025 và định hướng đến năm 2035, tạo tiền đề, định hướng cho từng giai đoạn cụ thể với các chính sách dài hơi; thực hiện quyết liệt công tác tái cấu trúc, định biên, sắp xếp lại lao động Công ty Mẹ và các chi nhánh cho phù hợp; xây dựng cơ chế phân quyền, phân cấp, tạo tính tự chủ và linh hoạt trong quá trình triển khai hoạt động; rà soát, quy chuẩn lại hệ thống quy định/quy chế quản lý nội bộ phù hợp với mục tiêu phát triển DMC và phục vụ tốt nhất công tác điều hành, quản lý, trong đó chú trọng xây dựng cơ chế tiền lương trên cơ sở khoán quỹ lương theo hiệu quả, góp phần tạo động lực cho CBCNV.

Với cơ hội giá dầu thế giới được dự báo duy trì ổn định nhờ các nước trong nhóm OPEC+ nhất trí gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng 1,2 triệu thùng cho tới tháng 3-2020 cùng những nỗ lực của tập thể CBCNV sẽ giúp cho DMC thực hiện thành công mục tiêu sản xuất kinh doanh trong năm 2019, tạo đà để thực hiện thành công Chiến lược phát triển đến năm 2025, định hướng đến năm 2035.

Minh Châu

Giá vàng hôm nay 30/8: Đà tăng của giá vàng bị chặn đứng

Thị trường vàng trong nước diễn biến giằng co trong hầu hết thời gian giao dịch. Giá vàng tiếp tuc áp sát cột mốc 43 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trong nước đang được giao dịch ở ngưỡng sau:

Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức 42,25 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,95 triệu đồng/lượng (bán ra).

Mức giá này giảm 150.000 đồng/lượng theo chiều mua vào và tăng 100.000 đồng/lượng theo chiều bán ra so với phiên giao dịch gần nhất

Trong khi đó, giá vàng SJC giao dịch lẻ của Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu niêm yết ở mức giá 42,45 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,85 triệu đồng/lượng (bán ra).

Mức giá này giảm 30.000 đồng/lượng theo chiều mua vào và tăng 20.000 đồng/lượng theo chiều bán ra so với phiên giao dịch gần nhất.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn chi nhánh Hà Nội hiện tại đang niêm yết vàng SJC ở mức: 42,55 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,92 triệu đồng/lượng (bán ra).

Mức giá này tăng 100.000 đồng/lượng theo cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch gần nhất.

a
Ảnh minh họa. (Nguồn: Kitco News)

Tại thị trường thế giới, giá vàng đang được giao dịch tại ngưỡng 1.526,9 USD/ounce (Theo Kitco News).

Quy đổi theo tiền Việt, vàng thế giới đang được bán ra với giá 42,9 triệu đồng/lượng, cao hơn 100.000-200.000 so với giá các doanh nghiệp kinh doanh vàng trong nước đưa ra.

Thương chiến giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới leo thang mạnh vào cuối tuần vừa rồi, bằng việc ông Trump tăng thuế trừng phạt áp lên 550 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc sau khi Bắc Kinh áp thuế trả đũa lên 75 tỷ USD hàng Mỹ.

Bên cạnh đó, làn sóng hạ lãi suất trên toàn cầu cũng là nhân tố quan trọng nâng đỡ giá vàng. Khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) hạ lãi suất trong tháng 9 đang được giới giao dịch ở Mỹ xem như chắc chắn.

Tuy nhiên, đà tăng của giá vàng cũng bị kiếm chế lại sau khi Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết 2 bên nên tạo điều kiện cho những tiến triển trong đàm phán và rằng Trung Quốc phản đối leo thang căng thẳng thương mại.

Trên Bloomberg, phát ngôn viên Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết, vấn đề cần thảo luận bây giờ là “làm thế nào để xóa bỏ những mức thuế mới nhằm ngăn chặn căng thẳng thương mại leo thang”.

Fed và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) được dự đoán sẽ giảm lãi suất vào tháng tới, trong khi nhiều nhà đầu tư tin rằng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể cũng sẽ nối gót nếu tâm lý trên thị trường suy giảm hơn nữa.

Giá vàng thường sẽ được hưởng lợi từ những đồn đoán về khả năng hạ lãi suất, vì lãi suất thấp hơn sẽ làm giảm chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng. Lượng vàng do quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust nắm giữ đã tăng 6,6% trong tháng này.

Lê Hải (Tổng hợp)

Tháng 8/2019: Xuất siêu tới 1,7 tỷ USD

Theo Báo cáo của Tổng Cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hóa 8 tháng năm 2019 ước tính xuất siêu 3,4 tỷ USD, trong đó riêng tháng 8 xuất siêu 1,7 tỷ USD, tương đương với giá trị xuất siêu của 7 tháng năm 2019, nhờ đóng góp của nhóm hàng điện thoại và linh kiện.

Cụ thể, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 8 tháng năm 2019 ước tính đạt 336,56 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 169,98 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 8 tháng của khu vực kinh tế trong nước đạt 13,9%, cao hơn nhiều tốc độ tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (4,6%) và tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước tiếp tục xu hướng tăng lên, chiếm 30,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (cùng kỳ năm trước là 28,8%). Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 7/2019 đạt 22.979 triệu USD, cao hơn 379 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 193 triệu USD; đá quý, kim loại quý cao hơn 81 triệu USD; thủy sản cao hơn 53 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 47 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 8/2019 ước tính đạt 24,5 tỷ USD, tăng 6,6% so với tháng trước. Một số mặt hàng xuất khẩu trong tháng 8 có kim ngạch tăng so với tháng trước là: Than đá tăng 103,6%; điện thoại và linh kiện tăng 37,8%, chủ yếu do Samsung đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm Glaxy Note 10; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 8,6%; đá quý, kim loại quý tăng 3,9%.

So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 8 tăng 4,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 0,9%. Một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị tăng cao: Đá quý, kim loại quý tăng 714,6%; giày dép tăng 14,3%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 12,9%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 10,1%; điện thoại và linh kiện tăng 7%.

Tính chung 8 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 169,98 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 52,04 tỷ USD, tăng 13,9%, chiếm 30,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 117,94 tỷ USD, tăng 4,6%, chiếm 69,4% (tỷ trọng giảm 1,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước).

Trong 8 tháng có 26 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 89,5% tổng kim ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD, chiếm 58,7%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 8 tháng năm 2019, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 38,6 tỷ USD, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là thị trường EU đạt 27,7 tỷ USD, giảm 0,5%; Trung Quốc đạt 23,8 tỷ USD, giảm 2,5%; thị trường ASEAN đạt 17,3 tỷ USD, tăng 3,6%;…

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 8 ước tính đạt 22,8 tỷ USD, giảm 0,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,3 tỷ USD, giảm 3,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,5 tỷ USD, tăng 1,6%.

Tính chung 8 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 166,58 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 70,43 tỷ USD, tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 96,15 tỷ USD, tăng 4,8%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 8 tháng năm 2019, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 49,2 tỷ USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 31 tỷ USD, giảm 0,3%; thị trường ASEAN đạt 21,6 tỷ USD, tăng 4,6%; Nhật Bản đạt 12,4 tỷ USD, tăng 0,6%;…

Trong 7 tháng năm 2019 xuất siêu 1,7 tỷ USD; tháng 8 năm 2019 ước tính xuất siêu 1,7 tỷ USD. Tính chung 8 tháng năm 2019 ước tính xuất siêu 3,4 tỷ USD.

Nguyễn Hoàng

Giá vàng ngày 29/8: Chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, vàng đang làm hài lòng giới đầu tư

Gần đây tâm lý thị trường khá nặng nề khi các vấn đề thương mại, chính trị đang tạo áp lực rủi ro gia tăng, tuy nhiên phiên giao dịch hôm nay đang khiến giới đầu tư vàng thêm phần hài lòng khi giá vàng vẫn duy trì ở mức cao.

Đáng chú ý là sự thiếu chắc chắn trong tháng 9 xung quanh vấn đề đàm phán thương mại Mỹ-Trung, và căng thẳng địa chính trị ở Hồng Kông.

Thị trường giờ đây dựa vào các chủ đề thương mại, chính trị mới nhất nhằm làm mới lại các rủi ro. Đó cũng là câu chuyện mà vàng đưa ra giá thầu ở mức gần 1.545 USD/oz trong phiên giao dịch sáng ngày hôm nay 29/8 tại thị trường New York.

Biểu đồ trên Kitco news cho thấy, giá vàng vẫn duy trì mức tăng đáng kể trong phiên giao dịch ngày hôm nay. 

Tính đến 13 giờ chiều ngày 29/8 theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới giao ngay trên sàn Comex New York đang ghi nhận ở mốc 1.545,10 USD/oz, tăng hơn 5 USD mỗi oz so với thời điểm chốt phiên ngày hôm qua. Vàng vẫn tiếp tục cho thấy sự di chuyển về phía trước trong bối cảnh giới đầu tư đang cảm thấy hài lòng.

Bối cảnh nơi trú ẩn an toàn đã chứng kiến ​​sự thoái lui vào ngày hôm qua, thứ Tư ngày 28/8 khi đồng USD vốn có mối quan hệ nghịch đảo với vàng đã hồi phục nhẹ nhờ không có tiêu cực lớn, có thể là vì thương mại hoặc từ lịch kinh tế. Cũng trong bối cảnh này, Phố Wall đã phục hồi các khoản lỗ trước đó và lãi suất trái phiếu kho bạc 10 năm của Mỹ cũng không thay đổi vào cuối ngày ở mức 1,468% trong phiên giao dịch hôm qua.

Tuy nhiên, rủi ro không thể kéo dài khi thông tin mới nhất được Fed phát đi rằng, họ ủng hộ quyết định chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trong khi Cố vấn Nhà Trắng Peter Navarro tiếp tục gây áp lực cho việc cắt giảm lãi suất. Ở những nơi khác, hãng tin Reuters đã thông tin về câu chuyện mong đợi việc cắt giảm lãi suất từ ​​Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC).

Trong một trường hợp của thỏa thuận thương mại với Trung Quốc, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steve Mnuchin dường như không chắc chắn về cuộc họp tháng 9, dù thông tin về cuộc họp chủ yếu ở giai điệu tích cực. Mặc dù vậy, thông tin mới được hãng AFP phát hành gần đây cho thấy, ​​nhóm các nhà kinh doanh hàng đầu từ Mỹ đang phàn nàn về cuộc chiến thuế quan của chính quyền Trump với Trung Quốc.

Trong khi sự thiếu rõ ràng về hướng thị trường đã đẩy vàng đi lên. Tâm lý thị trường dường như trông chờ sự tích cực của nền kinh tế cũng như các tin tức thương mại, chính trị, điều sẽ đóng vai trò quan trọng trong phần còn lại của phiên giao dịch hôm nay.

Về mặt kỹ thuật, theo giới phân tích nhìn nhận, rõ ràng các nhà đầu tư chờ đợi sự bứt phá liên tục của mức cao gần đây quanh mức 1,555 USD để nhắm tới con số 1.600 USD trong khi đường xu hướng tăng bốn tuần ở mức 1.518 USD/oz tạo đà hỗ trợ mạnh mẽ trong ngắn hạn.

Giá vàng trong nước cũng đang tiến sát tới mức mới 43 triệu đồng mỗi lượng

Tác động trực tiếp từ giá vàng thế giới, giá vàng trong nước đã có những điều chỉnh phù hợp để thích ứng nhịp đập thị trường. Bức tranh thị trường vàng trong phiên giao dịch hôm nay 29/8 thêm phần khởi sắc, tuy nhiên sức mua vẫn thấp hơn so với nhu cầu bán ra.

Cụ thể, giá vàng SJS niêm yết tại Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đầu cầu Hà Nội đang duy trì ở mức 42,50 – 42,87 triệu đồng/lượng, tăng 200.000 đồng/lượng (mua vào – bán ra) so với thời điểm chốt phiên ngày hôm qua.

Trong khi đó, giá vàng SJC giao dịch tại Công ty Doji cũng cho thấy mức điều chỉnh tăng nhẹ bình quân 100.000 đồng mỗi lượng, hiện đang duy trì ở mức 42,57 – 42,90 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Như vậy, giá vàng SJC tại nhiều thương hiệu vàng uy tín trong nước đang tiến sát mốc mới 43 triệu đồng/lượng. Nếu đà tăng của giá vàng thế giới tiếp tục duy trì quanh ngưỡng 1.550 – 1.555 USD/oz, điều đó cũng đồng nghĩa với việc, giá vàng nội tiếp tục leo lên mức cao trong những phiên giao dịch cuối tuần trước khi bước vào đợt nghỉ lễ.

Bùi Đạt

Giá USD trung tâm tăng lên đỉnh mới

Ngân hàng Nhà nước ngày 29.8 tăng tỷ giá trung tâm 4 đồng, lên đỉnh mới ở 23.133 đồng/USD.

Tỷ giá trung tâm tăng lên đỉnh mới /// Ngọc Thạch

Tỷ giá trung tâm tăng lên đỉnh mới

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, giá USD trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.826 đồng/USD, giá sàn là 22.429 đồng/USD. Các ngân hàng thương mại giảm nhẹ giá USD 5 đồng, Vietcombank mua vào còn 23.140 đồng/USD, bán ra 23.260 đồng/USD. Đồng bạc xanh trên thị trường tự do tăng mạnh 15 đồng, giá mua lên 23.200 đồng, bán ra 23.215 đồng.
Các ngoại tệ khác trong ngân hàng giảm mạnh, Vietcombank giảm giá bảng Anh 177 đồng, mua vào còn 27.986 đồng, bán ra 28.434 đồng; đô la Úc giảm 22 đồng, còn 15.387 – 15.743 đồng; euro giảm 19 đồng, còn 25.499 – 26.343 đồng… Những ngoại tệ này trên thế giới giảm so với USD dẫn đến giá quy đổi trong nước giảm.
Trên thị trường thế giới, giá USD tăng so với một số ngoại tệ khác, chỉ số USD-index lên 98,2 điểm, tăng 0,2 điểm. Giá bảng Anh (GBP) trên thị trường thế giới giảm, tỷ giá GBP/USD ở mức 1,22053 sau thông tin Thủ tướng Boris Johnson kiến nghị Nữ hoàng Anh trì hoãn họp Quốc hội, chỉ vài tuần trước thời hạn cuối Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (Brexit) vào ngày 31.10.
Theo Ngân hàng Nhà nước, doanh số giao dịch USD quy đổi tiền đồng trong tuần từ ngày 19 – 23.8 tăng 1.525 tỉ đồng so với tuần trước đó, bình quân mỗi ngày lên 25.367 tỉ đồng và doanh số cả tuần đạt 126.833 tỉ đồng, chiếm gần 30% doanh số giao dịch trên thị trường. Riêng lãi suất USD trong tuần có giảm từ 0,05 – 0,08%/năm, cụ thể lãi suất kỳ hạn qua đêm còn 2,1%/năm, 1 tuần còn 2,2%/năm, 2 tuần ở mức 2,16%/năm, 1 tháng 2,41%/năm…
Ngọc Thạch

TT ngoại tệ ngày 28/8: Tỷ giá trung tâm giảm, USD quốc tế vẫn treo cao, bticoin giảm

Tỷ giá trung tâm ngày hôm nay 28/8/2019 giảm 1 đồng; giá USD tại các ngân hàng thương mại hầu như không biến động nhiều so với ngày hôm qua 27/8/2019. Đồng USD trên thị trường thế giới chưa có cơ hội giảm do Trung Quốc để đồng CNY tụt dốc. Giá bitcoin hôm nay giảm khi đa số đồng tiền trên thị trường giảm giá.

TT ngoại tệ ngày 28/8: Tỷ giá trung tâm giảm, USD quốc tế vẫn treo cao, bticoin giảm

Sáng nay (28/8/2019) , Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ là 23.129 VND; giảm 1 đồng so với phiên hôm qua. Cũng tại sở giao dịch ngân hàng nhà nước, giá mua – bán USD được niêm yết ở mức là 23.200 đồng/USD và 23.774 đồng/USD, không đổi ở chiều mua vào và tăng 17 đồng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch ngày 27/8/2019.
Tại các ngân hàng thương mại sáng nay, lúc 09h30 giá mua – bán USD như sau: Ngân hàng Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.140 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi; BIDV, giá USD cũng đang được niêm yết ở mức 23.140 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 20 đồng chiều bán ra; Vietinbank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.140 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 3 đồng ở cả 2 chiều; Techcombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.131 – 23.271 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 2 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Eximbank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.140 – 23.250 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 10 đồng ở cả 2 chiều; HSBC niêm yết giá đồng USD ở mức 23.155 – 23.255 VNĐ/USD (mua vào – bán ra), không đổi; Sacombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.100 – 23.250 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở chiều mua vào và giảm 5 đồng khi bán ra; Maritimebank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.145 – 23.255 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi so với phiên giao ngày hôm qua 27/8/2019.
Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN
Tỷ giá áp dụng cho ngày 28/08/2019
Ngoại tệTên ngoại tệMuaBán
USDĐô la Mỹ23.20023.773
EURĐồng Euro24.87826.417
JPYYên Nhật212225
GBPBảng Anh27.55029.254
CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.85724.271
AUDĐô la Úc15.15616.094
CADĐô la Canada16.87517.919
Ngân hàng Nhà nước thông báo tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực kể từ ngày 22/8/2019 đến 28/08/2019 như sau:
STTNgoại tệTên ngoại tệTỷ giá
1EURĐồng Euro25.651,64
2JPYYên Nhật217,07
3GBPBảng Anh28.072,3
4CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ23.591,84
5AUDĐô la Úc15.689,23
6CADĐô la Canada17.380,84
7SEKCuron Thuỵ Điển2.393,9
8NOKCuron Nauy2.580,01
9DKKCuron Đan Mạch3.440,83
10RUBRúp Nga349,11
11NZDĐô la Newzealand14.801,42
12HKDĐô la Hồng Công2.948,11
13SGDĐô la Singapore16.708,82
14MYRRingít Malaysia5.535,07
15THBBath Thái751,38
16IDRRupiah Inđônêsia1,62
17WONWon Hàn Quốc19,22
18INRRupee Ấn độ323,48
19TWDĐô la Đài Loan737,72
20CNYNhân dân tệ TQuốc3.272,7
21KHRRiêl Cămpuchia5,69
22LAKKíp Lào2,65
23MOPPataca Macao2.864,93
24TRYThổ Nhĩ Kỳ4.046,34
25BRLRin Brazin5.704,42
26PLNĐồng Zloty Ba Lan5.896,15
Trên thị trường tự do, lúc 09h30 giá USD niêm yết ở mức mua vào là 23.185 đồng/USD và bán ra là 23.200 đồng/USD, giữ nguyên chiều mua vào và tăng 5 đồng chiều bán ra so với giao dịch sáng 27/8/2019.

Thế giới
Đầu giờ sáng, đồng USD trên thị trường thế giới chưa có cơ hội giảm cho dù căng thẳng Mỹ-Trung có những tín hiệu dịu xuống. Đồng USD cao chủ yếu do Trung Quốc để đồng Nhân dân tệ (CNY) tụt giảm liên tục trong thời gian gần đây..
Những động thái của Trung Quốc cho thấy thế giới vẫn còn tiềm ẩn bất ổn lớn.
Cuối tuần trước, Tổng thống Mỹ Donald Trump có những lời nói cho thấy Mỹ và Trung Quốc có thể sẽ quay trở lại bàn đàm phán sau khi 2 bên dồn dập đưa ra những đòn miếng miếng trả miếng nhau về thuế quan. Ông Trump cho biết, Trung Quốc phát đi tín hiệu muốn hợp tác để hướng đến một thỏa thuận thương mại.
Tuy nhiên, đại diện Trung Quốc từ chối xác nhận đã có các cuộc gọi đến Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Sáng 27/8, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) điều chỉnh tỷ giá tham chiếu xuống ngưỡng 7,0810 CNY đổi 1 USD. Đồng CNY giao dịch trên thị trường quốc tế ở mức thấp hơn nhiều so với phiên liền trước, xuống mức 7,1576 NDT đổi 1 USD, thấp nhất mới trong vòng 11 năm qua.
Các thị trường tài chính thế giới vẫn để mắt sát sao tới những biến động của đồng CNY. Gần đây, hàng loạt các quốc gia châu Á khác cũng cắt giảm lãi suất và thực hiện một chính sách tiền tệ nới lỏng. Nhiều khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất trong tháng 9.
Nhiều phân tích cho thấy, giá vàng thế giới vẫn đang được hỗ trợ bởi nhu cầu phòng ngừa rủi ro. Căng thẳng Mỹ-Trung chỉ tạm thời dịu đi chứ chưa có giải pháp nào giải quyết được mâu thuẫn sâu sắc Mỹ-Trung.
Giá bitcoin hôm nay vào thời điểm 6h40 ghi nhận được ở 10.158,49 USD, giảm 2,02% so với 24 giờ trước.
Trên thị trường, có đến 77 đồng tiền giảm giá trong top 100 theo giá trị thị trường.
Mức biến động của thị trường từ giảm 14,65% của Wanchain đến tăng 12% của đồng Synthetix.
Trong top 10, có 8 đồng tiền tăng giá và 2 đồng giảm so với 24 giờ trước.
Ethereum giảm 0,49%, còn 187,74 USD.
Ripple tăng 0,12% so với 24 giờ trước, lên 0,2708 USD.
Bitcoin cash giảm nhẹ 0,70, xuống mức 308,58 USD.
Litecoin giảm 1,17%, ghi nhận ở 73,01 USD.
Tether giảm nhẹ 0,07% và còn 0,9998 USD một đồng. Hiện đang có 4,055 tỉ đồng USDT lưu hành, với giá trị thị trường 4,054 tỉ USD.
Binance coin vẫn tiếp tục giảm sau khi mất vị trí thứ 6 cho đồng Tether trong hôm 27/8. Binance hiện có giá 25,73 USD sau khi giảm 1,23% trong ngày, ghi nhận giá trị thị trường 4 tỉ USD.
Eos giảm 0,45% trong 24 giờ qua, xuống 3,56 USD.
Bitcoin SV tăng mạnh nhất trong top 10 hôm nay, với mức tăng 2,5% lên 134,56 USD.
Monero giảm mạnh nhất trong top 10, mất 1,55% xuống 78,27 USD.
Tổng giá trị thị trường tiền kĩ thuật số ghi nhận vào thời điểm 6h47 ở 265,31 tỉ USD, giảm 3,86 tỉ USD so với 24 giờ trước.
Khối lượng giao dịch trong 24 giờ của thị trường giảm còn 48,63 tỉ USD, mất 19% so với ngày 27/8.

Nguồn: VITIC tổng hợp

Hàng hóa TG sáng 28/8/2019: Giá biến động mạnh

Phiên 27/8/2019 trên thị trường quốc tế (kết thúc vào rạng sáng 28/8/2019 giờ VN), giá hàng hóa biến động khá mạnh, lập những kỷ lục mới.

Hàng hóa TG sáng 28/8/2019: Giá biến động mạnh

Trên thị trường năng lượng, gía dầu tăng do tồn trữ dầu thô của Mỹ giảm. Tuy nhiên, đà tăng bị hạn chế bởi lo ngại suy thoái kinh tế xảy ra khi Mỹ – Trung không sớm đạt thỏa thuận thương mại.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 81 US cent (1,4%) lên 59,51 USD/thùng, sau khi có lúc chạm mức cao nhất trong phiên là 59,88 USD/thùng; dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 1,29 USD (2,4%) lên 54,93 USD/thùng.
Tồn trữ dầu thô của Mỹ giảm mạnh trong tuần trước khi nhập khẩu giảm. Cụ thể, theo Viện Dầu mỏ Mỹ, tồn trữ dầu thô Mỹ giảm 11,1 triệu thùng dầu, so với dự đoán là chỉ giảm 2 triệu thùng. Bộ Năng lượng Mỹ sẽ công bố số liệu chính thức về dự trữ dầu mỏ tuần qua trong ngày 28/8/2019.
Ông Bob Yawger, quan chức phụ trách năng lượng kỳ hạn của Mizuho tại New York (Mỹ), cho biết, dự trữ dầu thô của Mỹ giảm trong khi việc tinh chế dầu tăng mạnh là những yếu tố tác động tích cực đến giá dầu thô, qua đó lấn át lo ngại các căng thẳng thương mại sẽ tác động xấu đến nhu cầu năng lượng.
Tổng thống Mỹ Donad Trump ngày 26/8/2019 cho biết, ông tin rằng Trung Quốc thực sự muốn đạt được thỏa thuận, trong khi Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc cho rằng nước này sẵn sàng giải quyết tranh chấp thông qua các cuộc đàm phán “bình tĩnh”.
Tuy nhiên, căng thẳng thương mại Mỹ – Trung lại bị đẩy lên sau khi Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng không có bất kỳ thông tin nào về các cuộc gọi điện gần đây giữa Mỹ và Trung Quốc về thương mại.
Giá dầu đã giảm khoảng 20% kể từ mức cao nhất của năm 2019 ghi nhận được hồi tháng Tư, một phần bởi những lo ngại rằng xung đột thương mại Mỹ-Trung đang làm tổn thương kinh tế toàn cầu, qua đó tác động đến nhu cầu “vàng đen”.
Tuần trước, Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết sẽ áp thuế bổ sung từ 5% đến 10% lên tổng cộng 5.078 sản phẩm có xuất xứ từ Mỹ, trong đó có dầu thô, nông sản như đậu tương, và máy bay loại nhỏ. Đáp lại, Tổng thống Mỹ Trump đang yêu cầu các công ty nước này xem xét đóng cửa nhà máy tại Trung Quốc và sản xuất hàng hóa tại Mỹ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng lên mức cao nhất trong vòng 6 năm do các nhà đầu tư tìm kiếm “tài sản an toàn” trước một loạt bất ổn, như căng thẳng thương mại leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc và triển vọng mong manh của kinh tế toàn cầu.
Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay tăng 0,3% lên 1.529,90 USD/ounce; trước đó vào đầu phiên, kim loại quý này đã giao dịch ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2013 là 1.554,56 USD/ounce. Giá vàng kỳ hạn của Mỹ đi ngang ở mức 1.537,20 USD/ounce. Trong khi đó, vàng được giao dịch bằng đồng euro và AUD đều ghi nhận các mức cao kỷ lục.
Cuộc chiến thương mại dai dẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã làm các thị trường bất ổn trong hơn một năm qua và làm dấy lên mối lo ngại về nguy cơ suy giảm kinh tế toàn cầu.
Số liệu cho thấy lượng đơn hàng mới đối với tư liệu sản xuất từ Mỹ trong tháng Bảy tăng khiêm tốn, trong khi xuất khẩu giảm mạnh nhất trong gần ba năm qua, qua đó cho thấy tình trạng yếu kém trong đầu tư kinh doanh vẫn tiếp diễn trong quý III/2019.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 1,6% lên 17,67 USD/ounce, sau khi chạm mức cao nhất kể từ tháng 9/2017 là 17,77 USD/ounce lúc đầu phiên; giá bạch kim giao ngay không đổi ở mức 853,40 USD/ounce, trong khi giá palađi giao ngay tăng 0,8% lên 1.471,70 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng vững, nhưng vẫn quanh mức thấp nhất gần 2 năm do lo ngại hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp của Trung Quốc suy yếu bởi cuộc chiến thương mại với Mỹ.
Kết thúc phiên giao dịch vừa qua, đồng kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn London có giá 5.682 USD/tấn, tăng nhẹ 0,9% so với phiên 23/8/2019 – khi giá chạm mức thấp nhất kể từ tháng 6/2017 là 5.624,5 USD/tấn (ngày 26/8/2019 thị trường London đóng cửa nghỉ lễ).
Sản lượng công nghiệp của Trung Quốc tháng 7/2019 tăng 4,8%, thấp nhất trong vòng 17 năm. Trung Quốc chiếm khoảng một nửa tổng nhu cầu đồng toàn cầu.
Giá thiếc trên sàn London phiên vừa qua có lúc giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 5/2016, là 15.565 USD/tấn, do nhu cầu yếu đi từ các công ty điện tử (dùng thiếc trong các mối hàn) và trong các ngành ắc quy cũng như hóa chất.
Thiếc kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn London đã giảm 0,9% xuống 15.750 USD/tấn vào lúc đóng cửa.
Kẽm – dùng trong ngành mạ kim loại phiên vừa qua có lúc chạm mức thấp nhất kể từ tháng 10/2016, là 2.221 USD/tấn, mặc dù sau đó hồi phục nhẹ để kết thúc ở mức tăng 0,9% lên 2.274 USD/tấn.
Giá nickel – nguyên liệu trong sản xuất thép – đã tăng 0,3% trong phiên vừa qua, lên 15.700 USD/tấn. Nickel đã vượt xa các kim loại khác trong năm nay khi tăng tới 50% bởi nhu cầu vững và lo ngại nguồn cung bị gián đoạn.
Chênh lệch giá giữa hợp đồng giao ngay với hợp đồng giao sau 3 tháng đã tăng lên mức cao nhất trong vòng 10 năm, là 70 USD/tấn, từ mức âm 10 USD/tấn cách đây hai năm.
Giá thép tại Trung Quốc đã giảm trên 3% trong phiên vừa qua, mức giảm mạnh nhất trong vòng 9 tháng,do lo ngại nhu cầu thấp triền miên. Thị trường nhà đất Trung Quốc dự báo sẽ tăng chậm lại từ nay tới cuối năm.
Kết thúc phiên, thép cuộn cán nóng trên sàn Thượng Hải giảm 3,3% xuống 3.561 CNY (502,06 USD)/tấn, giảm nhiều nhất kể từ 26/11/2018. Thép cây giảm 3,7% xuống 3.281 CNY/tấn, cũng là phiên giảm nhiều nhất trong vòng 9 tháng.
Giá thép tham chiếu tại Thượng Hải đã giảm 10 -13% kể từ tháng 7/2019 do nhu cầu yếu (theo mùa) và triển vọng tiêu thụ kém do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.
Thép giảm giá kéo sắt giảm theo. Quặng sắt kỳ hạn tháng 10/2020 trên sàn Đại Liên – hợp đồng được giao dịch nhiều nhất – giảm 3,1% trong phiên vừa qua, xuống 586 CNY/tấn, tính từ đầu quý tới nay giảm 15%, sau 5 quý liên tiếp tăng.
Sản lượng thép thô toàn cầu tháng 7/2019 tăng 1,7% so với cùng tháng năm ngoái, lên 157 triệu tấn, trong đó sản lượng của Trung Quốc – nước sản xuất thép lớn nhất thế giới – đạt 82,5 triệu tấn, tức là cao hơn 5% so với tháng 7/2018.
Quặng sắt hàm lượng 62% nhập khẩu vào Trung Quốc phiên vừa qua hồi phục nhẹ lên 87,5 USD/tấn, sau khi chạm mức thấp nhất gần 5 tháng vào tuần trước (86,5 USD/tấn). Trên sàn giao dịch Singapore, quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 giảm 2,7% xuống 81,44 USD/tấn.
Lượng quặng sắt lưu giữ tại các kho ở cảng biển Trung Quốc tăng 6 tuần liên tiếp, hiện đạt 124,65 triệu tấn, theo số liệu của SteelHome. Đây là mức cao nhất kể từ cuối tháng 5/2019.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2019 giảm 0,35 US cent tương đương 0,4% xuống 97,15 US cent/lb do đồng real giảm giá. Robusta giao tháng 11/2019 trái lại tăng 25 USD tương đương 1,9% lên 1.339 USD/tấn.
Gía đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 đã giảm 0,19 US cent tương đương 1,7% xuống 11,24 US cent/lb vào cuối phiên vừa qua, sau khi có lúc chỉ 11,16 US cent, thấp nhất kể từ 1/10/2018. Đây là phiên thứ 6 giá giảm trong vòng 7 phiên vừa qua. Nguyên nhân do đồng real Brazil trượt giá so với USD, hiện ở mức thấp nhất gần 1 năm. Dự đoán sản lượng đường Ấn Độ sẽ không thấp như đánh giá ban đầu nhờ mưa đến cải thiện tình trạng thiếu nước cũng góp phần gây áp lực giảm giá đường.
Đối với mặt hàng đường trắng, giá kỳ hạn tháng 10/2019 cũng giảm 4,3 USD tương đương 1,4% xuống 306,10 USD/tấn, sau khi có lúc chỉ 305,2 USD/tấn.
Giá đậu tương trên sàn Chicago giảm 1% xuống 8,59-1/4 USD/bushel, ngô giảm 0,6% xuống 3,66-1/4 USD/bushel, trong khi lúa mì tăng 0,5% lên 4,76-3/4 USD/bushel. Vụ mùa ngũ cốc của Mỹ đang tiến triển rất tốt, hứa hẹn sản lượng sẽ tăng.
Với mặt hàng cao su, giá tại Tokyo kỳ hạn tháng 2/2012 giảm 1,9 JPY tương đương 1,2% xuống 163,8 JPY/kg, trong khi giá tại Thượng Hải kỳ hạn tháng 9/2019 tăng 1,4% lên 11.335 CNY/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

ĐVTGiá+/-+/- (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng54,93+1,29+2,4%
Dầu BrentUSD/thùng59,51+0,81+1,38%
Dầu thô TOCOMJPY/kl36.240,00+600,00+1,68%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu2,20-0,03-1,26%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon164,99+3,34+2,07%
Dầu đốtUS cent/gallon181,59+2,35+1,31%
Dầu khíUSD/tấn563,50+5,50+0,99%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl53.800,00+210,00+0,39%
Vàng New YorkUSD/ounce1.551,40-0,40-0,03%
Vàng TOCOMJPY/g5.232,00+37,00+0,71%
Bạc New YorkUSD/ounce18,29-0,01-0,04%
Bạc TOCOMJPY/g61,30+1,20+2,00%
Bạch kimUSD/ounce866,78+0,78+0,09%
PalađiUSD/ounce1.483,05+1,28+0,09%
Đồng New YorkUS cent/lb255,55+0,25+0,10%
Đồng LMEUSD/tấn5.633,00-50,00-0,88%
Nhôm LMEUSD/tấn1.770,00+4,00+0,23%
Kẽm LMEUSD/tấn2.254,00+9,00+0,40%
Thiếc LMEUSD/tấn15.880,00-295,00-1,82%
NgôUS cent/bushel366,25-2,00-0,54%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel476,75+1,50+0,32%
Lúa mạchUS cent/bushel267,00-3,00-1,11%
Gạo thôUSD/cwt11,46-0,07-0,61%
Đậu tươngUS cent/bushel859,25-8,00-0,92%
Khô đậu tươngUSD/tấn297,00-1,60-0,54%
Dầu đậu tươngUS cent/lb28,35-0,34-1,19%
Hạt cải WCECAD/tấn446,40-2,00-0,45%
Cacao MỹUSD/tấn2.247,00+9,00+0,40%
Cà phê MỹUS cent/lb97,15-0,35-0,36%
Đường thôUS cent/lb11,24-0,19-1,66%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb102,25+1,05+1,04%
BôngUS cent/lb57,92+0,10+0,17%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet368,20+4,90+1,35%
Cao su TOCOMJPY/kg163,70+0,70+0,43%
Ethanol CMEUSD/gallon1,32+0,01+0,61%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters

TT sắt thép thế giới 28/8/2019: Giá quặng sắt tại Trung Quốc thấp nhất 2,5 tháng

Giá quặng sắt tại Đại Liên giảm 3,7%. Giá quặng sắt tại Singapore đưới mức 80 USD/tấn.

TT sắt thép thế giới 28/8/2019: Giá quặng sắt tại Trung Quốc thấp nhất 2,5 tháng

Số liệu từ Hiệp hội Sắt và Thép Trung Quốc (CISA), chỉ số quặng sắt (CIOPI) của nước này đạt 309,54 điểm hôm 27/8/2019, giảm 1,85% tương đương 5,84 điểm so với chỉ số trước đó hôm 26/8/2019.

Trong số đó, chỉ số giá quặng sắt thị trường nội địa đạt 331,02 điểm, giảm 0,27% tương đương 0,88 điểm so với chỉ số giá trước đó, chỉ số giá quặng sắt nhập khẩu đạt 305,48 điểm, giảm 2,17% tương đương 6,78 điểm so với chỉ số trước đó.

Giá quặng sắt tại Trung Quốc ngày 28/8/2019 giảm xuống mức thấp nhất 2,5 tháng, cùng với giá nguyên liệu sản xuất thép giảm trong bối cảnh dư cung kim loại và nhu cầu chậm chạp.

Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn Đại Liên giảm 3,7% xuống 571 CNY (80,5 USD)/tấn, thấp nhất kể từ ngày 6/6/2019.

Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn Singapore giảm dưới mức 80 USD/tấn, xuống mức thấp 77,2 USD/tấn.

Giá quặng sắt  62% Fe giao ngay sang Trung Quốc chạm 86 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 29/3/2019, công ty tư vấn SteelHome cho biết.

Giá quặng sắt tăng lên mức cao đỉnh điểm 5 năm trong ngày 3/7/2019, do lo ngại nguồn cung sau khi mỏ khai thác tại Brazil đóng cửa để kiểm tra an toàn trong tháng 1/2019, và cơn bão làm gián đoạn hoạt động của các mỏ khai thác tại Australia.

Giá quặng sắt giảm trở lại, do nguồn cung từ Brazil và Australia hồi phục, với nhập khẩu quặng sắt tại Trung Quốc trong tháng 7/2019 tăng 21% so với tháng 6/2019 lên mức cao nhất kể từ tháng 1/2019, giảm bớt lo ngại về nguồn cung thắt chặt.

Giá quặng sắt chịu áp lực do  triển vọng nhu cầu suy yếu bởi nguồn cung thép tại Trung Quốc dư thừa. Sản lượng thép thô của nước này trong tháng 7/2019 tăng lên 85,2 triệu tấn, tăng 5% so với tháng 7/2018, chiếm hơn 1/2 sản lượng toàn cầu.

Các nhà máy thép và các thương nhân cũng lo ngại về đồng CNY suy yếu, có thể làm gia tăng chi phí hoạt động.

Thành phố sản xuất lớn của  Đường Sơn được  coi là ô nhiễm nhất Trung Quốc trong tháng 7/2019, ngay cả sau khi yêu  cầu các nhà máy thép cắt giảm sản xuất trong 10 ngày cuối tháng, Bộ Môi trường cho biết.

Đường Sơn báo cáo sẽ nới lỏng các hạn chế sản lượng thép vào tháng tới, mặc dù chính sách có thể được đảo ngược khi chính  quyền có động thái giảm thiểu khói bụi trước ngày Quốc khánh Trung Quốc vào đầu tháng 10/2019.

Giá thanh cốt thép kỳ hạn tháng 1/2020 giảm 2,5% xuống 3.244 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 2/4/2019 và giảm phiên thứ 3 liên tiếp.

Giá thép cuộn cán nóng giảm 2,3% xuống 3.515 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 3/4/2019.

Giá than luyện cốc trên sàn Đại Liên giảm 0,8% xuống 1.291 CNY/tấn và giá than cốc giảm 1,4% xuống 1.853 CNY/tấn.

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc chính thức giảm đồng CNY xuống mức thấp mới 11,5 năm trong ngày thứ tư (28/8/2019), song vẫn cao hơn so với dự kiến của các thương nhân.

Các thông tin khác:

Thép thanh cán nguội: Thống kê cho biết, trong tháng 6/2019 Mỹ xuất khẩu khoảng 7.100 tấn thép cán nguội, giảm 11,9% so với tháng 5/2019 và giảm 49% so với tháng 6/2018.

Kim ngạch xuất khẩu thép thanh cán nguội đạt 17,8 triệu USD so với 20,7 triệu USD tháng 5/2019 và 31,9 triệu USD tháng 6/2018.

Trong số đó, Mexico là thị trường chủ yếu đạt 3.000 tấn, so với 3.800 tấn tháng 5/2019 và 2.960 tấn tháng 6/2019, Canada là thị trường thứ 2 đạt 2.800 tấn.

Nguồn: VITIC/Reuters

Tin đáng chú ý 27/8/2019: Giá hạt tiêu tiếp tục bấp bênh; Ô tô NK giảm mạnh

 Giá hạt tiêu có thể tiếp tục bấp bênh; Ô tô nhập giảm mạnh trong nửa “tháng cô hồn”; Chiến tranh thương mại: Nông sản có nguy cơ gian lận xuất xứ; Tôm tẩm bột Việt Nam hưởng lợi từ chiến tranh thương mại; Nhiều loại trái cây nhập khẩu giảm giá mạnh…là những tin đáng chú ý trong ngày.

Tin đáng chú ý 27/8/2019: Giá hạt tiêu tiếp tục bấp bênh; Ô tô NK giảm mạnh

Giá hạt tiêu có thể tiếp tục bấp bênh
Thông tin từ vietnambiz.vn, dự báo đến năm 2050, sản lượng hạt tiêu thế giới sẽ tăng lên 1 triệu tấn và nhu cầu tiêu dùng hạt tiêu thế giới cũng tăng lên, nhưng chưa cân đối với nguồn cung. Do vậy, giá tiêu có thể vẫn còn bấp bênh trong một thời gian nữa.
Bộ Công Thương cho biết theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2018, giá tiêu giảm đã ảnh hưởng đến ngành hồ tiêu Việt Nam. Xuất khẩu hồ tiêu đang và sẽ tiếp tục đối mặt với khó khăn do giá ở mức thấp khi cung lớn hơn cầu và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới.
Nhu cầu thế giới hiện khoảng 510.000 tấn/năm và bình quân mỗi năm chỉ tăng 2 – 3%, trong khi sản lượng hồ tiêu toàn cầu tăng 8 – 10%. Sản lượng hồ tiêu toàn cầu năm 2018 đạt 557.000 tấn và dự kiến đạt 602.000 tấn năm 2019. Dự báo đến 2050, sản lượng hạt tiêu thế giới sẽ tăng lên 1 triệu tấn và nhu cầu tiêu dùng hạt tiêu thế giới cũng tăng lên, nhưng chưa cân đối với nguồn cung. Do vậy, giá tiêu có thể vẫn còn bấp bênh trong một thời gian nữa.
Trong bối cảnh xuất khẩu hồ tiêu tiếp tục đối diện nhiều khó khăn và sức ép cạnh tranh lớn thì các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết gần đây như CPTPP EVFTA được đánh giá là cơ hội mở rộng xuất khẩu cho ngành hồ tiêu.
Bộ Công Thương cho rằng để có thể tận dụng tốt các cơ hội nêu trên, doanh nghiệp cần phải chủ động tìm hiểu thông tin về các Hiệp định để nắm vững cam kết giữa Việt Nam và các thị trường đối tác, đặc biệt là các thông tin về ưu đãi thuế quan, các yêu cầu về chất lượng, quy tắc xuất xứ hàng hóa.
Ô tô nhập giảm mạnh trong nửa “tháng cô hồn”
Theo dantri.com.vn, tính từ ngày 1 đến hết ngày 15/8, lượng xe nhập chỉ đạt 4.200 chiếc, trong đó có hơn 3.500 chiếc xe con dưới 9 chỗ ngồi. Lượng giảm các dòng xe nguyên chiếc là 1.700 chiếc và xe con là hơn 1.000 chiếc.
Như vậy, dưới tác động của tâm lý đám đông, tháng kiêng kị cô hồn, lượng xe nhập cũng đã giảm, điều này phù hợp với diễn biến của thị trường xe hiện nay khi hầu hết đại lý khó bán trong 15 ngày đầu tháng 8, trùng với thời điểm 15 ngày đầu tháng 7.
Việc các dòng xe nhập suy giảm thời gian qua chủ yếu tập trung vào xe của Thái Lan, Indonesia – nơi cung cấp chủ yếu xe nhập cho Việt Nam. Các dòng xe bị ảnh hưởng nhiều nhất là Honda, Ford, Mitsubishi, Nissan, Toyota, Kia….
Theo báo cáo của VAMA, trong 7 tháng đầu năm lượng xe tải cỡ nhỏ (xe Van) tiêu thụ giảm mạnh và dường như hết đất sống ở Việt Nam. Cụ thể, 7 tháng đầu năm, doanh số các dòng xe van suy giảm mạnh.
Mặc dù xe nhập nửa tháng qua giảm hàng nghìn chiếc song theo nhận định của nhiều doanh nghiệp, đại lý xe trên thị trường sẽ không có khan hiếm xe vào tháng sau và các tháng cuối năm 2019.
EVFTA thực thi, thuế suất về 0%: Nông sản không đủ chuẩn vào EU có thể mất thị phần trên sân nhà
Theo vietnambiz.vn, Hiệp định EVFTA là cơ hội để nông sản Việt tự tin cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, đặc biệt tại các nước Liên minh châu Âu (EU). Tuy nhiên, nó sẽ là nguy cơ dẫn đến việc mất sự tin dùng của 100 triệu dân trong nước nếu “không khéo” tận dụng.
Hiện, nông sản Việt Nam đã vươn mạnh ra thế giới và có mặt trên 185 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều thị trường giá trị cao như Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc… Xuất khẩu nông sản Việt Nam đứng thứ hai Đông Nam Á và thứ 15 thế giới, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa.
Với EVFTA, qui mô nền kinh tế lớn hơn, độ mở nền kinh tế lớn nhiều nên cần sự chuẩn bị kí càng. EVFTA là hiệp định thế hệ mới nhất, có sự cam kết sâu rộng nhất khi hầu hết các nhóm hàng có thuế suất đều đưa dần về 0% trong một lộ trình ngắn nhất.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cũng nhìn nhận: “Hiệp định EVFTA sẽ giúp mở rộng hơn nữa thị trường cho sản phẩm Việt Nam có thế mạnh như nông sản và thủy sản, tạo điều kiện cho nông sản Việt tiếp cận thị trường 28 quốc gia thành viên EU hơn 500 triệu dân. Từ đó, có thể mở rộng thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc và Đông Nam Á.
Cụ thể, theo Bộ trưởng, khoảng 50% số dòng thuế ngành thủy sản sẽ được xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực, giảm từ 6 – 22% hiện về 0%; các sản phẩm rau củ quả tươi và chế biến, nước trái cây xóa bỏ thuế ngay; cà phê, tiêu, điều, mật ong tự nhiên… cũng vậy.
Với ngành gạo, EU dành tổng lượng hạn ngạch 80.000 tấn/năm đối với gạo xay xát, gạo chưa xay xát và gạo thơm, thuế trong hạn ngạch là 0%.
Còn đối với các mặt hàng thủy sản, 50% số dòng thuế sẽ được xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực, 50% số dòng thuế còn lại về 0% sau 3 đến 7 năm. Đây được đánh giá là ngành sản phẩm được hưởng nhiều ưu đãi nhất khi tham gia Hiệp định EVFTA.
Theo đó, EVFTA là một dấu ấn quan trọng không phải chỉ Việt Nam mà trên toàn cầu. Giữa thời điểm thế giới nhiều vấn đề phức tạp thì đây là cơ hội cho Việt Nam nói chung, doanh nghiệp Việt Nam nói riêng, đặc biệt lĩnh vực nông nghiệp.
Chiến tranh thương mại: Nông sản có nguy cơ gian lận xuất xứ
Theo nongnghiep.vn, những mức thuế rất cao mà Mỹ – Trung áp lên hàng hóa của nhau đang khiến cho Việt Nam trở thành nơi để hàng hóa từ 2 nước này, nhất là từ Trung Quốc, thâm nhập, đội lốt hàng Việt rồi xuất khẩu nhằm tránh mức thuế cao.
Do Việt Nam và Trung Quốc có nhiều mặt hàng xuất khẩu vào Mỹ tương đồng với nhau, nên Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành nơi mà hàng Trung Quốc tuồn vào, dán mác hàng Việt Nam rồi xuất khẩu sang Mỹ nhằm tránh mức thuế cao. Vì vậy, ngay từ trước khi bị Mỹ đưa vào danh sách đối tác thương mại cần giám sát, Chính phủ và các Bộ, ngành, các cơ quan chức năng đã nỗ lực vào cuộc phòng chống gian lận xuất xứ, nhất là với những mặt hàng mà Việt Nam và Trung Quốc đều xuất khẩu sang Mỹ. Trong đó, đáng chú ý nhất là đồ gỗ. Các cơ quan chức năng đã bước đầu phát hiện những dấu hiệu gian lận trong ngành hàng này.
Theo Tổng cục Hải quan, từ tháng 1/2018 đến tháng 3/2019, có 90 doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu gỗ ván ép (mã HS4412) từ Việt Nam sang Mỹ, đạt hơn 200 triệu USD. Số lượng xuất khẩu lớn tập trung từ tháng 8/2018 đến tháng 1/2019. Nổi lên trong đó một số doanh nghiệp có chủ sở hữu là người Trung Quốc hoặc góp vốn với người Trung Quốc và một số doanh nghiệp khác có dấu hiệu xuất khẩu tăng đột biến.
Trên cơ sở số liệu rà soát và thông tin nắm được về các hành vi vi phạm của các công ty trong việc sản xuất mặt hàng gỗ dán xuất khẩu, Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) và các đơn vị liên quan lập kế hoạch, xác minh thông tin liên quan đến các hoạt động sản xuất, xuất khẩu mặt hàng gỗ dán, tấm gỗ dán veneer và các loại gỗ ghép của 6 công ty có sản lượng gỗ sản xuất, xuất khẩu lớn, có dấu hiệu tăng đột biến.
Qua xác minh đối với 6 công ty và kết quả làm việc với các hộ dân, chính quyền một số địa phương cho thấy một số vấn đề nổi lên liên quan đến vi phạm trong việc doanh nghiệp lập hồ sơ xin cấp C/O. Cụ thể, hồ sơ xin cấp C/O của 4 trong 6 công ty nói trên là vi phạm pháp luật.
Tháng 5/2019, Việt Nam bị Mỹ đưa vào danh sách đối tác thương mại cần giám sát. Đây là một thông tin rất đáng lo ngại bởi Mỹ là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu sang Mỹ đã đạt 32,5 tỷ USD, tăng 25,4% so với cùng kỳ 2018.
Do đó, Việt Nam càng phải làm thật tốt công tác phòng chống gian lận xuất xứ, nhất là với hàng Trung Quốc đội lốt hàng Việt để xuất sang Mỹ.
Tôm tẩm bột Việt Nam hưởng lợi từ chiến tranh thương mại
Theo vietnambiz.vn, theo phân tích mới đây của Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành tôm Việt Nam trong nửa đầu năm 2019 giảm nhẹ 2% so với cùng kì năm ngoái. Tuy nhiên, phân khúc tôm tẩm bột xuất khẩu sang Mỹ lại trở thành một điểm sáng, với giá trị và khối lượng xuất khẩu tăng vọt lần lượt 50% và 53% so với cùng kì năm ngoái.
VDSC cho rằng điều này hàm ý rằng tôm tẩm bột Việt Nam có thể hưởng lợi từ căng thẳng thương mại Mỹ – Trung. Tôm tẩm bột Trung Quốc nhập khẩu vào thị trường Mỹ bị áp thêm thuế 10% kể từ ngày 24/9/2018.
Mức thuế này đã được nâng lên 25% kể từ ngày 10/5/2019. Theo đó, trong nửa đầu năm 2019 xuất khẩu tôm tẩm bột Trung Quốc sang Mỹ đã giảm mạnh 35% so với cùng kì năm ngoái về giá trị và 30% so với cùng kì năm ngoái về khối lượng.
Đồng thời, xuất khẩu từ các nhà cung cấp chính khác như Indonesia, Thái Lan và Việt Nam đã thay đổi tích cực 13%, 60% và 53% về khối lượng so với nửa đầu năm 2018. Về giá trị, ngoại trừ tôm ở Indonesia giảm 3%, hai thị trường còn lại tăng lần lượt 47% và 50% so với 6 tháng đầu năm 2018.
Mặc dù mất thị phần lớn, nhưng Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp tôm tẩm bột lớn nhất Mỹ, do quốc gia này có thể cung cấp sản phẩm chất lượng và rẻ nhất. Giá tôm tẩm bột trung bình của Trung Quốc thấp nhất trong số các nhà cung cấp.
Tuy nhiên, VDSC cho biết do mức thuế cao, các nhà nhập khẩu Mỹ đang tìm các nhà cung cấp khác thay thế cho Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Việt Nam được xem là nước tiềm năng lớn nhất vì Việt Nam có thể cung cấp tôm tẩm bột với mức giá thấp thứ hai sau Trung Quốc. Trên thực tế, thị phần của Việt Nam đã tăng mạnh nhất trong số các đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc, từ 15% lên 25% trong nửa đầu năm 2019.
Nhiều loại trái cây nhập khẩu giảm giá mạnh
Theo haiquanonline.com.vn, hiện tại, nhiều loại trái cây nhập khẩu có giá rẻ tương đương với những loại trái cây được trồng trong nước, do đó người tiêu dùng được hưởng lợi. Tuy nhiên, trái cây Việt sẽ phải cạnh tranh với trái cây nhập khẩu về giá thành, chất lượng.
Trái cây nhập khẩu vốn được xem chỉ dành cho người có thu nhập cao vì giá thành cao, không phải người tiêu dùng nào cũng đủ khả năng để mua. Tuy nhiên, thời gian gần đây, giá của nhiều loại trái cây nhập khẩu lại có giá rẻ tương đương với trái cây trong nước.
Tại siêu thị Omart, Vinmart, nhiều loại trái nhập khẩu có giá từ 50.000 đồng-100.000 đồng/kg, mức giá này phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng. Như tại siêu thị Omart, táo Fuji Mỹ có giá 79.000 đồng/kg, táo red delicious có giá 62.900 đồng/kg, táo Queen size 80,88,100 có giá 85.000 đồng/kg. Tại siêu thị Vinmart, nho đỏ không hạt có giá 96.000 đồng/kg, cam cara ruột đỏ Mỹ có giá 99.000 đồng/kg, việt quất Newzeland 125 gr có giá hơn 102.000 đồng, lê đỏ Nam Phi có giá 95.000 đồng/kg… Tại siêu thị Big C, việt quất được nhập khẩu từ Mỹ chỉ có giá 46.000 đồng/hộp 125gr, nho Mỹ không hạt có giá 90.000 đồng/kg.
Những năm trước quả việt quất được bán khá ít ỏi ở thị trường Việt Nam, tuy nhiên năm nay loại quả này được bán khá rộng rãi có giá cũng không phải quá cao so với nhiều loại trái cây nhập khẩu khác. Khi trái cây nhập khẩu giảm giá mạnh ở hàng loạt siêu thị cùng với việc thể hiện nguồn gốc có phần rõ ràng thì trái cây ở kênh bán hàng truyền thống như chợ, cửa hàng nhỏ lẻ trở nên khó bán hơn. Hiện giá nhiều loại trái cây quen thuộc ở thị trường nội địa nước ta có xu hướng giảm theo… Từ thực tế cho thấy, các mặt hàng trái cây đang bày bán giá rẻ trên thị trường Hà Nội không rõ xuất xứ ở đâu, đều được gắn mác sản xuất tại Việt Nam. Theo tìm hiểu của phóng viên, hầu hết các loại trái cây được tiểu thương nhập từ các chợ đầu mối của Hà Nội nên nguồn gốc thực sự của những loại trái cây họ cũng chỉ biết qua thương lái. Do đó, để tăng sự “tin tưởng” của người tiêu dùng, nhiều tiểu thương đã tự dán thêm nhãn mác mang dấu hiệu nguồn gốc, xuất xứ cho trái cây.
Nguồn: VITIC tổng hợp

Giá vàng ngày 28/8: Giá vàng tiếp tục di chuyển ngược lên, nhà đầu tư nên chọn lướt sóng

Chiến tranh thương mại đã giữ cho vàng khẳng định vị thế số 1 trong cuộc chơi và trong cuộc chơi này vàng có thể thiết lập mức cao nhất kể từ tháng 10/2012, khi giá vàng cán mốc 1795 USD/oz.

Vàng thế giới tiếp tục “tỏa sáng”

Giá vàng duy trì sự “tỏa sáng” trên bảng xếp hạng giữa các “thiên đường” trú ẩn an toàn khi các thương nhân tiếp tục lo sợ về sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu cũng như sự phân nhánh của một tranh chấp thương mại kéo dài giữa Mỹ và Trung Quốc.

Giá vàng thế giới đã cao tới 1,555 USD/oz vào đầu tuần này nhưng không đạt được chỉ sau một đêm với giá vàng giao ngay chỉ đạt mức 1,544,68 USD, đi từ mức thấp $ 1,525,83 của phiên giao dịch hôm qua 27/8.

Biểu đồ vàng 4 giờ

Giá vàng tiếp tục di chuyển ngược lên, nhà đầu tư nên chọn lướt sóng

Trong bối cảnh, chứng khoán Mỹ yếu hơn và lợi suất trái phiếu kho bạc giảm khi sự thiếu lạc quan của nhà đầu tư đối với tiến trình đàm phán thương mại Mỹ-Trung, điều đó đã khiến vàng trở thành thiên đường trú ẩn an toàn bậc nhất vào thời điểm hiện tại. Giá vàng qua đêm giao tháng 12 trên Comex New York tăng 1%, tương đương 14,60 USD, để giải quyết ở mức 1.551,80 USD một ounce, đây là mức kết thúc cao nhất cho hợp đồng tích cực nhất kể từ tháng 4 năm 2013 trong phiên giao dịch ngày hôm qua.

Vàng vẫn đang trong tiến trình tăng điểm mạnh mẽ khi mở cửa phiên giao dịch hôm nay, ngày 28/8, ghi nhận vào lúc 13 giờ 30 phút giờ Việt Nam (khoảng 2 giờ 15 phút giờ New York), giá vàng thế giới giao ngay trên sàn Comex đã tiến đến mức 1.541,20 USD/oz, đi từ mức thấp 1.534,90 USD/oz thời điểm mở cửa. Điều đó càng chứng tỏ, vàng thực sự đang được nhà đầu tư quan tâm trong bối cảnh rủi ro chính trị và kinh tế toàn cầu đang gia tăng.

Biểu đồ giá vàng giao dịch trên thị trường thế giới

Giới phân tích kỹ thuật cho rằng, các điều kiện quá mua của đường RSI đã kích hoạt sự phục hồi của Vàng từ mức cao trong nhiều năm.

Các điều kiện mua quá mức của chỉ số sức mạnh tương đối 14 bar (RSI) đã kéo vàng từ mức cao nhiều năm lên 1.535 USD trước phiên giao dịch châu Âu và 1.541,20 USD tại thị trường New York hôm nay.

Kim loại màu vàng hiện đang có nhiều hỗ trợ, tuy nhiên theo giới phân tích kỹ thuật, nếu giá vàng giảm xuống dưới 1,508 USD, mức thoái lui Fibo 61,8% của 1.459 USD sẽ thu hút sự chú ý của thị trường. Trong khi đó, mức 1,545 USD, 1,555 USD và mức kháng cự nêm  1,560 USD có thể hạn chế sự tăng giá trong thời gian ngắn của vàng thỏi, một sự phá vỡ có thể leo thang lên tới 1.600 USD/oz.

Vàng nội vẫn duy trì ở mức cao, nhà đầu tư nên lướt sóng kiếm lời

Diễn biến của giá vàng thế giới tiếp tục tác động lớn tới thị trường vàng trong nước, câu chuyện tăng hay giảm vẫn diễn ra theo đúng kịch bản của vàng thế giới khi mà vàng ngoại tiếp tục khẳng định vị thể cửa trên trong cuộc chơi về giá. Bởi thế, sau những lình xình khi vàng thế giới giảm nhẹ đã khiến thị trường vàng trong nước mở cửa phiên giao dịch sáng nay có những điều chỉnh giảm đáng kể.

Theo quan sát của PV Chất lượng Việt Nam, giá vàng SJC giao dịch trên thị trường tài các thương hiệu vàng uy tín trên cả nước đồng loạt điều chỉnh giảm, mức giảm bình quân 100.000 – 150.000 đồng mỗi lượng (mua vào – bán ra). Tuy nhiên, mức giảm này đã chặn lại khi vào đầu phiên giao dịch chiều nay 28/8, vàng SJC đã có điều chỉnh tăng trở lại.

Bảng giá vàng giao dịch tại thị trường trong nước

Cụ thể, giá vàng SJC niêm yết tại Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đầu cầu Hà Nội hiện đang duy trì ở mức 42,40 – 42,82 triệu đồng/lượng, tăng 150.000 đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Trong khi đó, giá nhẫn tròn trơn Vàng Rồng Thăng Long của Công ty Bảo Tín Minh Châu trong phiên giao dịch hôm nay tiếp tục duy trì mức tăng nhẹ, bình quân 140.000 đồng/lượng (mua vào – bán ra). Hiện giá NTT Vàng Rồng Thăng Long đang niêm yết ở mức 42,33 – 42,88 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Về tâm lý thị trường và sức mua – bán của vàng trong nước, theo quan sát của phóng viên thì sức mua dường như thấp hơn trong khi lực bán trong phiên hôm nay tăng mạnh. Điều đó cũng dễ hiểu khi mà giá vàng đang tăng quá cao sơ với dự báo cũng như nhu cầu đầu tư sinh lời của vàng trở nên khó đoán định.

Theo giới phân tích, các nhà đầu tư nên thận trọng trong đầu tư dài hạn khi đổ tiền vào vàng thời điểm này. Tuy nhiên, đây có thể là thời điểm các nhà đầu tư nên lướt sóng để tìm kiếm lợi nhuận.

Bùi Đạt

Thị trường nhập khẩu ô tô 6 tháng đầu năm 2019

6 tháng đầu năm 2019, Việt Nam nhập khẩu tới 75.437 chiếc ô tô nguyên chiếc các loại, gấp hơn 6 lần so với cùng kỳ năm trước.

Thị trường nhập khẩu ô tô 6 tháng đầu năm 2019

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 6/2019 số lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu đạt 10.540 chiếc, tương ứng đạt 254,31 triệu USD (giảm 26,5% về số lượng và giảm 17,5% về kim ngạch so với tháng 5/2019 nhưng so với tháng 6/2018 thì tăng mạnh 214% về số lượng và tăng 209,6% về kim ngạch).
Trong tháng 6/2019, ô tô nguyên chiếc các loại được đăng ký làm thủ tục hải quan nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ 5 thị trường chính là từ Thái Lan với 7.575 chiếc, từ Indonesia với 1.468 chiếc, từ Trung Quốc với 653 chiếc, từ Hàn Quốc với 274 chiếc và từ Nhật Bản với 150 chiếc. Số xe nhập khẩu từ 5 thị trường này chiếm tới 96% tổng lượng xe nhập khẩu vào Việt Nam trong tháng.
 Ô tô nguyên chiếc đăng ký nhập khẩu với Hải quan trong tháng 6/2019

Chỉ tiêuTháng 6/2019So sánh với tháng trước (%)Tỷ trọng (%)*
Lượng

(Chiếc)

Trị giá

(USD)

LượngTrị giáLượngTrị giá
Ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống7.145136.916.083-39,1-32,667,853,8
Ô tô trên 9 chỗ ngồi1069.130-80,4-97,60,10,1
Ô tô vận tải2.73177.077.09828,010,625,930,3
Ô tô loại khác65440.309.56421,124,96,215,8
Tổng cộng10.540254.371.876-26,5-17,5100,0100,0
(Ghi chú:* Tỷ trọng là tỷ trọng nhập khẩu từng loại ô tô trong tổng số ô tô nguyên chiếc các loại)
Xe ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống: trong tháng 6/2019, có 7.145 chiếc được làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam với trị giá đạt 136,9 triệu USD, chiếm 67,8% lượng ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu. Với kết quả này, xe ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống nhập về Việt Nam trong tháng đã giảm tới 39,1% (tương đương giảm 4.580 chiếc) so với tháng trước.
Trong đó, số xe được đăng ký tờ khai nhập khẩu chủ yếu ở khu vực cửa khẩu, cảng thành phố Hồ Chí Minh với 3.649 chiếc, giảm 46% và thành phố Hải Phòng với 3.478 chiếc, giảm 29,7% so với tháng trước.
Xe ô tô nguyên chiếc từ 9 chỗ ngồi trở xuống được đăng ký nhập khẩu trong tháng 6/2019 chủ yếu là xe xuất xứ từ Thái Lan với 5.080 chiếc, tăng 17,6% và xe xuất xứ từ Inđônêxia với 1.463 chiếc, giảm 78,3% so với tháng trước.
Xe ô tô trên 9 chỗ ngồi: trong tháng 6/2019, có 10 chiếc xe loại này có xuất xứ từ Trung Quốc được làm thủ tục nhập khẩu về Việt Nam qua cảng/cửa khẩu Thành phố Hồ Chí Minh.
Xe ô tô vận tải: lượng xe ô tô tải làm thủ tục hải quan nhập khẩu vào nước ta trong tháng 6/2019 đạt 2.731 chiếc, với trị giá đạt 77,1 triệu USD; tăng 28% về lượng và tăng 10,6% về trị giá so với tháng trước.
Trong đó, có tới 2.481 chiếc xe có xuất xứ từ Thái Lan, tăng 33,4% và chiếm tỷ trọng 91% trong tổng số xe loại này nhập khẩu về Việt Nam trong tháng. Ngoài ra, có 123 chiếc xuất xứ từ Trung Quốc, giảm 51,2% so với tháng trước.
Xe ô tô tải các loại được đăng ký tờ khai nhập khẩu trong tháng 6/2019 chủ yếu ở khu vực cửa khẩu cảng thành phố Hải Phòng với 1.406 chiếc, tăng 13,1% so với tháng trước; thành phố Hồ Chí Minh với 1.113 chiếc, tăng 75,8%…so với tháng trước.
Xe ô tô loại khác (xe ô tô chuyên dụng): Trong tháng 6/2019, các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu tới 654 chiếc xe chuyên dụng với trị giá khai báo khoảng 40,3 triệu USD. Trong đó, có tới 394 chiếc xuất xứ từ Trung Quốc, tăng 5,6%; có 178 xe từ Hàn Quốc, tăng 69,5% …so với tháng trước.
Số xe ô tô nguyên chiếc loại này nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu qua các cảng cửa khẩu của Lạng Sơn với 388 chiếc và tăng 4,9%; Hải Phòng với 107 chiếc, gấp gần 2 lần; Bà Rịa Vũng Tàu với 79 chiếc, giảm 1,3% so với tháng trước.
Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2019, Việt Nam nhập khẩu tới 75.437 chiếc ô tô nguyên chiếc các loại, gấp hơn 6 lần so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống là 54.927 chiếc, gấp 6 lần; ô tô vận tải là 17.879 chiếc, gấp hơn 6 lần so với 6 tháng năm 2018. Kim ngạch nhập khẩu ô tô 6 tháng đầu năm đạt 1,68 tỷ USD, tăng 5 lần so với cùng kỳ năm trước.
Ô tô nhập khẩu từ Thái Lan nhiều nhất đạt 46.009 chiếc, tương đương 916,68 triệu USD, chiếm 61% trong tổng lượng ô tô nhập vào Việt Nam và chiếm 54,6% trong tổng kim ngạch, tăng mạnh 354% về số lượng và tăng 348,6% về kim ngạch so với so với cùng kỳ năm trước. Ô tô nhập khẩu từ Indonesia tăng đột biến gấp 1.904 lần về số lượng và gấp 1.085 lần về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, đạt 20.945 chiếc, tương đương 296,28 triệu USD, chiếm 27,8% trong tổng lượng ô tô nhập khẩu và chiếm 17,6% trong tổng kim ngạch.
 Nhập khẩu ô tô vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019

Thị trường6 tháng đầu năm 2019+/- so với cùng kỳ (%)*
Lượng (chiếc)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Tổng cộng75.4371.680.364.914509,15410,31
Thái Lan46.009916.676.490354,23348,63
Indonesia20.945296.277.561190.309,09108.469,93
Trung Quốc2.667113.988.182563,43939,38
Nhật Bản1.67388.595.960362,15302,52
Đức77850.839.319233,91351,59
Hoa Kỳ69424.162.058279,23106,87
Hàn Quốc58439.006.412370,97463,75
Nga54546.613.84952,2368,02
Anh32019.142.1031.423,81723,92
Ấn Độ9928.279.127  
Canada213.039.85775455,64
Pháp151.497.325-42,31-56,64

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)

TT kim loại thế giới ngày 31/7/2019: Giá đồng tại London tăng

Giá đồng tại London ngày 31/7/2019 tăng trước kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cắt giảm lãi suất, song có tháng giảm trong bối cảnh tăng trưởng tại nước tiêu thụ hàng đầu – Trung Quốc – chậm lại.

TT kim loại thế giới ngày 31/7/2019: Giá đồng tại London tăng

Fed dự kiến sẽ giảm lãi  suất lần đầu tiên trong hơn 1 thập kỷ đã hỗ trợ giá hàng hóa, bởi việc thúc đẩy tăng trưởng và đồng USD suy yếu khiến kim loại mua bằng đồng bạc xanh rẻ hơn khi mua bằng tiền tệ khác.

Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,2% lên 5.958 USD/tấn, song có tháng giảm do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung kéo dài 1 năm gây áp lực đối với tăng trưởng toàn cầu và nhu cầu kim loại.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cảnh báo Trung Quốc không chờ đợi nhiệm kỳ đầu tiên để hoàn tất bất kỳ thỏa thuận thương mại nào, và cho rằng nếu ông thắng cử lại trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11/2020, kết quả sẽ tồi tệ hơn đối với Trung Quốc.

Trung Quốc sẽ nỗ lực thúc đẩy nhu cầu và hỗ trợ nền kinh tế, song sẽ không sử dụng thị trường bất động sản như một hình thức kích thích ngắn hạn.

Hoạt động nhà máy của Trung Quốc giảm tháng thứ 3 liên tiếp trong tháng 7/2019, trong bối cảnh cuộc chiến thương mại, với chỉ số quản lý sức mua chính thức trong tháng 7/2019 đạt 49,7, cải thiện nhẹ so với 49,4 trong tháng 6/2019 và cao hơn dự kiến của các nhà phân tích.

Điều này cho thấy các biện pháp kích thích được công bố trước đây đang có một số tác động tích cực đến lĩnh vực sản xuất, nhà phân tích Helen Lau thuộc Argonaut Securities cho biết.

Các nhà phân tích giảm dự báo giá đồng và giá các kim loại công nghiệp khác trong năm nay trong mấy tháng  gần đây, khi nước tiêu thụ hàng đầu – Trung Quốc – nỗ lực để phục hồi nền kinh tế.

Có khoảng 18.000 tấn chì dự kiến sẽ không được đưa ra thị trường, khi Korea Zinc tiến hành bảo dưỡng nhà máy luyện chì đến cuối tháng 8/2019, song công ty này đã đảm bảo hàng dự trữ trước khi bảo dưỡng.

Giá nhôm tại London tăng 0,6%, nickel tăng 0,2% và chì tăng 0,2%, thiếc tăng 0,4%, kẽm giảm 0,4%.

Giá đồng kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm 0,7%, nickel tăng 1,1%, kẽm giảm 0,6%, chì giảm 0,9% và thiếc giảm 0,1%.

Giá các kim loại cơ bản ngày 31/7/2019:

Mặt hàngĐVTGiá% thay đổi
ĐồngUSD/lb2,67940,13%
ChìUSD/tấn2.041,500,00%
NickelUSD/tấn14.325,000,00%
NhômUSD/tấn1.803,00-0,44%
ThiếcUSD/tấn17.450,00-0,85%
KẽmUSD/tấn2.460,00-0,36%

Nguồn: VITIC/Reuters

Dự trữ dầu thô Mỹ giảm không ngừng, giá dầu tăng

Sau đợt giảm gần nhất, dự trữ dầu thô như vậy đã giảm đến 49 triệu thùng trong 7 tuần qua và hiện giờ ở mức thấp nhất tính từ tháng 11/2018.

Dự trữ dầu thô Mỹ giảm không ngừng, giá dầu tăng
Ảnh: RichTopia
Phiên giao dịch ngày thứ Tư, giá dầu thô giao kỳ hạn tăng. Giá dầu trên thị trường Mỹ như vậy tăng 5 phiên liên tiếp khi mà số liệu từ chính phủ cho thấy rằng dự trữ dầu thô nội địa Mỹ giảm đến 7 tuần liên tiếp – chuỗi thời gian sụt giảm dài nhất của dự trữ dầu thô trong 1 năm rưỡi.
Giá dầu cũng tăng nhờ quyết định hạ lãi suất của Fed.
Đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Tư, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao kỳ hạn tháng 9/2019 trên thị trường New York tăng 53 cent tương đương 0,9% lên 58,58USD/thùng và như vậy có phiên tăng thứ 5 liên tiếp.
Tính cả tháng, giá dầu Mỹ tăng được 0,2%, theo Dow Jones Market Data. Như vậy giá dầu WTI tại Mỹ đã tăng được 6 tháng.
Trên thị trường London, giá dầu Brent giao kỳ hạn tháng 9/2019 tăng 45 cent tương đương 0,7% lên 65,17USD/thùng và tính cả tháng giá dầu Brent mất 2,1%. Giá dầu Brent kỳ hạn tháng 10/2019 tăng 42 cent tương đương 0,7% lên 65,05USD/thùng.
Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ (EIA) trong ngày thứ Tư công bố rằng dự trữ dầu thô Mỹ trong tuần kết thúc ngày 26/7/2019 giảm 8,5 triệu thùng. Chuyên gia phân tích tham gia khảo sát của S&P Global Platts trong khi đó dự báo về mức giảm 3,9 triệu thùng. Viện Xăng dầu Mỹ trong ngày thứ Ba công bố về mức giảm 6 triệu thùng.
Giám đốc bộ phận nghiên cứu hàng hóa tại ClipperData, ông Matt Smith, nhận xét: “Chúng ta đã chứng kiến dự trữ dầu thô giảm đến 7 tuần”. Sau đợt giảm gần nhất, dự trữ dầu thô như vậy đã giảm đến 49 triệu thùng trong 7 tuần qua và hiện giờ ở mức thấp nhất tính từ tháng 11/2018.
Việc dự trữ dầu thô giảm 7 tuần đánh dấu quãng thời gian dự trữ dầu thô giảm dài nhất tính từ chuỗi giảm 10 tuần của giai đoạn từ 17/11/2017 đến 19/2/2018, theo phân tích của EIA.
TRUNG MẾN

Tỷ giá ngoại tệ 1/8: FED hạ lãi suất, giá USD trong nước vẫn vững vàng

 Mở cửa phiên giao dịch sáng nay (1/8), giá USD trong nước vẫn chưa biến động mặc dù FED vừa công bố quyết định hạ lãi suất cở bản đồng USD.

Lúc 6h30 sáng 1/8, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ ở mức 23.073 VND/USD.

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN là 22.700 đồng (mua vào) và 23.715 đồng (bán ra).

ty gia ngoai te 1/8: fed ha lai suat, gia usd trong nuoc van vung vang hinh 1
Giá USD trong nước vẫn ổn định sau quyết định hạ lãi suất của FED. (Ảnh minh hoạ: Trần Ngọc/VOV.VN)
Sáng nay, các ngân hàng thương thương mại cổ phần vẫn giữ tỷ giá đồng Việt Nam so với đô la Mỹ ở mức ổn định sau quyết định cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang (FED).
Cụ thể, lúc 6h40 sáng 1/8, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD/VND ở mức 23.140 đồng mua tiền mặt và 23.260 đồng bán ra. Ngân hàng BIDV cũng công bố cùng mức giá này.

Tỷ giá giao dịch tại ngân hàng Vietinbank là 23.149 VND/USD (mua vào) và 23.259 VND/USD (bán ra).

 ACB niêm yết ở mức: 23.150 – 23.250 VND/USD ở chiều tương ứng mua vào – bán ra.

 Theo số liệu vừa công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7/2019 giảm 0,56% so với tháng trước, giảm 0,27% so với tháng 12/2018, và tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước.

Tính từ đầu năm 2019, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng giảm 20-30 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Trên thị trường thế giới, tỷ giá ngoại tệ ngày 1/8 diễn biến theo xu hướng đồng USD trên thị trường thế giới vững giá do nền kinh tế nhiều khu vực đang đối mặt với triển vọng không rõ ràng, có phần bất định. Các nước đẩy mạnh giảm giá đồng nội tệ.

Hiện tại, lãi suất ở khắp nơi trên thế giới đang ở mức thấp trong khi kinh tế của nhiều nước vẫn khá trì trệ. Kinh tế Trung Quốc đang chậm lại, trong khi Liên minh châu Âu (EU) đang đứng trước hệ quả không đoán định được khi Anh rời EU (Brexit).

Đầu phiên giao dịch ngày 1/8 (giờ Việt Nam), trên thị trường thế giới, tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 98,08 điểm.

USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1143 USD; 108,64 yen đổi 1 USD  và 1,2216 USD đổi 1 bảng Anh./.

Trần Ngọc/VOV.VN

Giá vàng hôm nay 1/8: Tăng cao phi mã

Hôm nay 1/8, giá vàng tiếp tục tăng mạnh tiếp tục tăng mạnh bất chấp sức ép từ đồng USD.

Giá vàng giao tháng 8 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.433 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay cao hơn 9,7% (126,5 USD/ounce) so với đầu năm 2018. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 39,6 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn 200 ngàn đồng so với vàng trong nước.

gia vang hom nay 18 tang cao phi ma
Giá vàng hôm nay 1/8: Tăng cao phi mã

Giá vàng thế giới tăng mạnh chủ yếu do thị trường ghi nhận những bất ổn mới, trong khi giới đầu tư toàn cầu đang hướng sự chú ý vào cuộc hợp của FED bắt đầu diễn ra từ ngày 30.7 với dự báo cơ quan này sẽ thực hiện điều chỉnh hạ lãi suất lần đầu tiên trong một thập kỷ qua.

Hiện tại, lãi suất ở khắp nơi trên thế giới đang ở mức thấp trong khi kinh tế của nhiều nước vẫn khá trì trệ. Kinh tế Trung Quốc đang chậm lại, trong khi Liên minh châu Âu (EU) đang đứng trước hệ quả không đoán định được khi Anh rời EU (Brexit).

Trước đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã quyết định giữ nguyên lãi suất ở mức 0% và ngụ ý sẵn sàng cắt giảm lãi suất xuống mức âm, tương tự như các ngân hàng trung ương của Vương quốc Anh và Nhật Bản. Đây là một môi trường thuận lới đối với mặt hàng kim loại quý.

Tại thị trường vàng trong nước, chốt phiên ngày hôm qua 31/7 đa số các cửa hàng vàng tăng giá vàng 9999 trong nước khoảng 70 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên liền trước.

Tính tới cuối phiên giao dịch 31/7, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 39,63 triệu đồng/lượng (mua vào) và 39,83 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 39,60 triệu đồng/lượng (mua vào) và 39,82 triệu đồng/lượng (bán ra).

Phương Thảo

Xuất khẩu tôm nửa cuối năm sẽ có bứt phá

 Xuất khẩu tôm trong 6 tháng đầu năm 2019 giảm đến 12%, các doanh nghiệp kỳ vọng, 6 tháng cuối năm xuất khẩu (XK) mặt hàng chủ lực này sẽ có sự bứt phá.

xuat khau tom nua cuoi nam se co but pha
Tôm xuất khẩu đang đà tăng trưởng. Ảnh: T.H

Các thị trường chính đều giảm

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 6 tháng đầu năm 2019, XK tôm Việt Nam đạt 1,4 tỷ USD, giảm 12% so với cùng kỳ năm 2018. Giá tôm nguyên liệu giảm, giá XK chưa tăng, nhu cầu NK giảm từ các thị trường chính, cạnh tranh mạnh từ Ấn Độ, Ecuador là một trong những yếu tố khiến XK tôm Việt Nam chưa thể đảo chiều đi lên.

Nửa đầu năm nay, trong cơ cấu sản phẩm tôm XK của Việt Nam, tôm chân trắng chiếm 66,8%, tôm sú chiếm 22,6% và còn lại là tôm biển. XK tôm chân trắng đạt gần 963 triệu USD, giảm 12% so với cùng kỳ năm ngoái; XK tôm sú đạt gần 325 triệu USD, giảm 16%; XK tôm biển khác đạt gần 153 triệu USD, tăng 2%. XK tôm sú chế biến giảm mạnh nhất 36%.

Tuy nhiên, trong tháng 6/2019, XK tôm của Việt Nam tốc độ giảm chậm lại đạt 293,5 triệu USD, giảm 4,8% so với tháng 6/2018. Trong top 5 thị trường NK chính tôm Việt Nam, XK sang Nhật Đài Loan tăng trong khi XK sang Canada, ASEAN, Thụy Sỹ giảm.

Lũy kế 6 tháng đầu năm nay, XK sang top 5 thị trường chính đều giảm trong đó XK sang Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc giảm ít hơn nhờ tăng trưởng trong tháng 6.

Trong đó, XK tôm Việt Nam sang EU- thị trường NK tôm lớn nhất của Việt Nam  đạt 300,5 triệu USD, giảm 25,9% so với cùng kỳ năm 2018. Anh, Đức, Hà Lan là 3 thị trường NK chính tôm Việt Nam trong khối. XK tôm sang Anh, Đức, Hà Lan đều giảm lần lượt 9,5%, 12,5% và 50,2%.

XK tôm Việt Nam sang Trung Quốc giảm mạnh trong năm 2018 và những tháng đầu năm 2019 do Trung Quốc tăng mạnh NK tôm từ Ấn Độ, Ecuador (lợi thế giá thấp hơn tôm Việt Nam).

Bên cạnh những nguyên nhân như Trung Quốc siết chặt thương mại mậu biên, cạnh tranh với Ấn Độ và Ecuador, cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung làm xáo trộn thị trường, ảnh hưởng đến nhu cầu, đồng NDT mất giá cũng là một yếu tố gây ảnh hưởng đến XK tôm sang thị trường này.

Trong bối cảnh đồng NDT liên tục bị mất giá so với đồng USD đã tạo chênh lệch mất giá giữa đồng NDT so với VND, giá trị của VND so với NDT tăng lên. Do vậy, giá XK tôm từ Việt Nam sang Trung Quốc sẽ cao hơn, làm giảm sức cạnh tranh về giá của tôm Việt Nam.

Kỳ vọng nửa cuối năm

Sau khi giảm mạnh trong những tháng đầu năm 2019, xuất khẩu tôm của Việt Nam trong tháng 6 đã khởi sắc hơn. Các doanh nghiệp kỳ vọng trong 6 tháng cuối năm sẽ có bứt phá trong xuất khẩu mặt hàng chủ lực này.

XK tôm Việt Nam sang Trung Quốc tăng 10% đạt gần 47 triệu USD trong tháng 6/2019. Sáu tháng đầu năm nay, XK sang thị trường này giảm 4,9% đạt 233,5 triệu USD.

XK tôm Việt Nam sang Trung Quốc đã tăng trong 2 tháng 5 và 6 vừa qua. Ấn Độ đã qua vụ thu hoạch chính, XK tôm Việt Nam sang Trung Quốc dự kiến giảm ít hơn. Giá trị XK cả năm sang thị trường này có khả năng tương đương với năm ngoái.

XK tôm trong 2 tháng 5 và 6 mặc dù giảm nhưng tốc độ giảm đã ít hơn. XK tôm trong tháng 7/2019 dự kiến tăng nhẹ so với tháng 7/2018. XK tôm Việt Nam trong các tháng tiếp theo kỳ vọng sẽ nhích dần lên nhờ tác động từ các Hiệp định Thương mại, cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, nhu cầu NK từ các thị trường tăng trong nửa cuối năm và cạnh tranh từ Ấn Độ giảm bớt do đã qua vụ thu hoạch chính.

Tương tự, XK tôm sang Mỹ (thị trường NK tôm lớn thứ 3 của Việt Nam) trong tháng 6/2019 đạt gần 64 triệu USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế 6 tháng đầu năm nay, XK tôm sang thị trường này đạt 250,4 triệu USD, giảm 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Sau khi sụt giảm liên tục trong 4 tháng đầu năm nay, XK tôm Việt Nam sang Mỹ đã nhích lên trong 2 tháng 5 và 6.

Xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ trong thời gian qua phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh của các nguồn cung đối thủ (Ấn Độ, Ecuador, Trung Quốc…), cùng với thuế chống bán phá giá khá cao của thị trường này.

Tuy nhiên, tháng 4/2019, Bộ Thương mại Mỹ đã công bố kết quả sơ bộ thuế CBPG cho tôm Việt Nam trong giai đoạn xem xét hành chính lần thứ 13 (từ 1/2/2017 đến 31/1/2018) với thuế suất 0% cho 2 DN bị đơn bắt buộc và 29 DN bị đơn tự nguyện. Mặc dù đây chỉ là mức thuế sơ bộ nhưng cũng có thể được coi là nền tảng để đạt được mức thuế thấp nhất ở phán quyết cuối cùng sắp tới.

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) đã được ký kết tại Hà Nội vào 30/6/2019. Theo cam kết trong EVFTA, thủy sản Việt Nam xuất sang EU sẽ được xóa bỏ thuế quan hoàn toàn (trừ cá ngừ đóng hộp và cá viên áp dụng hạn ngạch thuế quan là 11.500 tấn) với lộ trình dài nhất là 7 năm. Riêng mặt hàng tôm sẽ khả quan hơn bởi thuế NK vào thị trường này sẽ giảm mạnh từ năm đầu tiên, sau đó giảm dần về 0% trong những năm tiếp theo.

Với những ưu đãi thuế quan và môi trường kinh doanh, các DN Việt Nam sẽ có lợi thế hơn so với nhiều quốc gia cùng XK tôm khác như Ấn Độ, Thái Lan trong nửa cuối năm nay.

Lê Thu

USD, chứng khoán tăng mạnh, kiềm chế đà tăng của giá vàng

Thị trường chứng khoán Mỹ đóng cửa ở mức cao kỷ lục trong phiên đêm qua theo giờ Việt Nam, cùng với đó, đồng USD cũng tăng mạnh. Hai yếu tố này đã kiềm chế đà tăng của giá vàng, dù xu hướng tăng được dự đoán sẽ sớm quay lại.

Mở cửa phiên sáng nay, giá vàng trong nước đồng loạt giảm nhẹ. Theo đó, vàng miếng SJC được Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết là 39,43 – 39,68 triệu đồng/lượng (định lượng 1-10 lượng); 39,43 – 39,70 triệu đồng/lượng (định lượng 0,5 lượng).

Trong khi đó, vàng nhẫn SJC tại doanh nghiệp này đang là 39,40 – 39,85 triệu đồng/lượng; vàng nữ trang 99,99 là 38,95 – 39,75 triệu đồng/lượng.

Như vậy, so với chốt phiên hôm qua, giá vàng SJC đã giảm nhẹ 60 nghìn đồng/lượng. Trên thị trường tự do, các doanh nghiêp cũng đồng loạt giảm giá vàng với biên độ giảm từ 30 – 70 nghìn đồng/lượng. Giá vàng đang dao dịch quanh mức 39,45 – 39,70 triệu đồng/lượng.

Trên thế giới, trong phiên giao dịch đêm qua, giá vàng đã giao dịch trong khoảng 1.417-1.430 USD/ounce, cao hơn so với phiên trước đó. Tuy nhiên, bước sang phiên châu Á, giá vàng lại quay đầu giảm và đang giao dịch tại 1.421,2 – 1.422,2 USD/ounce.

Giá vàng điều chỉnh giảm sau khi đồng USD và thị trường chứng khoán đồng loạt tăng mạnh. Các thông tin về nỗ lực nối lại đàm phán thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc từ đầu tuần này đã hỗ trợ cho đồng USD.ảnh 1

Giá vàng được dự báo sẽ sớm tăng trở lại

Trong khi đó, thị trường chứng khoán Mỹ phiên đêm qua theo giờ Việt Nam đã chứng kiến chỉ số S&P 500 đã đóng cửa ở mức cao kỷ lục mọi thời đại, đạt 3.019,56 điểm. Chỉ số NASDAQ composite cũng đóng cửa ở mức cao kỷ lục, đạt 8.321,50 điểm.

Dù giá vàng chịu áp lực nhưng các chuyên gia cho rằng xu hướng tăng sẽ sớm quay lại. Điều thú vị là thị trường chứng khoán và nhóm tài sản trú ẩn an toàn là kim loại quý đang có xu hướng cùng tăng song song.

Thông thường, hai loại tài sản này có mối tương quan ngược khi tiền chuyển từ loại tài sản này sang loại tài sản khác dựa trên môi trường tài chính.

Tuy nhiên, kịch bản “cùng tăng” có thể sẽ tiếp diễn trong thời gian tới khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất vào cuối tháng này. Biến số mà các nhà đầu tư chưa biết là liệu Fed sẽ cắt giảm 0,25% hay 0,5%.

Nếu việc cắt giảm là 0,5% thì dự kiến chứng khoán và vàng sẽ có biến động tăng mạnh. Nhưng nếu là 0,25% thì có thể hai kênh đầu tư này sẽ đi xuống, do kỳ vọng này đã được phản ánh vào giá chứng khoán và vàng thời gian qua.

Linh Nhật

Dự trữ ngoại hối tăng mạnh lên mức kỷ lục 68 tỷ USD

Các dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam hàng năm đã góp phần tạo kỷ lục mới trong tích lũy dự trữ ngoại hối ở mức 68 tỷ USD vào cuối tháng 6/2019.

Báo cáo kinh tế vĩ mô của Trường ĐH Ngân hàng TPHCM vừa được công bố mới đây cho thấy, các dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam hàng năm là nguồn cung quan trọng trong tích lũy dự trữ ngoại hối, góp phần tạo kỷ lục mới ở mức 68 tỷ USD vào cuối tháng 6/2019. Lượng dự trữ này tương đương khoảng 13,4 tuần nhập khẩu.

 Dự trữ ngoại hối tăng mạnh nhưng tăng trưởng cung tiền và tín dụng vẫn được kiểm soát cho thấy, Ngân hàng nhà nước đã điều hành ổn định tỷ giá. So với cuối tháng 12/2018, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng chỉ ở mức 6,54% và 7,33%. Do đó áp lực lạm phát đã không xuất hiện, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

du tru ngoai hoi tang manh len muc ky luc 68 ty usd hinh 1
Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng lên mức kỷ lục 68 tỷ USD. (Ảnh minh họa: KT)

Mặc dù vậy, báo cáo cũng dự báo các thách thức trong thời gian tới mà Việt Nam phải đối mặt, đó là cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung vẫn đang căng thẳng và diễn biến khó lường, điều này đã tác động mạnh đến các hoạt động kinh tế toàn cầu.

Hoạt động xuất khẩu Việt Nam ngay lập tức hứng chịu cú sốc này, tăng trưởng xuất khẩu 6 tháng đầu năm chỉ còn 7,3%, thấp hơn nhiều so với con số 17,8% đạt được ở tháng 6/2018. Hệ quả là thâm hụt thương mại đã quay trở lại ở mức 37 triệu USD trong khi một năm trước đó thặng dư cao ở mức 4,12 tỉ USD.

Cú sốc này đã phần nào bộc lộ rõ điểm yếu của nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào khu vực kinh tế nước ngoài. Sau 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8% không đủ để kéo tăng trưởng xuất khẩu toàn nền kinh tế do xuất khẩu khu vực FDI chỉ tăng 5,9%. Đáng nói hơn, thặng dư thương mại từ khu vực FDI đã đóng vai trò quan trọng để bù đắp thâm hụt thương mại từ khu vực kinh tế trong nước trong nhiều năm qua./.

Giá vàng ngày 27/5 thế giới tăng, trong nước giảm

Vàng thế giới quanh ngưỡng 1.423 USD/ounce, tương đương 39,89 triệu đồng/lượng khi quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank, cao hơn SJC 240.000 đồng mỗi lượng.

Lúc 9 giờ 5 phút, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC tại thị trường Hà Nội ở mức 39,4 – 39,67 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm 90.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với chốt phiên hôm qua.

Tại Tập đoàn Vàng bạc Phú Quý, giá vàng SJC thời điểm này được niêm yết ở mức 39,4 – 39,67 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm 50.000 đồng ở cả chiều mua vào và bán ra so với giá đóng cửa hôm qua.

Tập đoàn Doji cũng niêm yết giá vàng SJC cho thị trường Hà Nội ở mức 39,42 – 39,67 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm 50.000 đồng ở cả chiều mua vào và 100.000 đồng bán ra so với giá đóng cửa hôm qua.

Giá vàng ngày 27/5 thế giới tăng, trong nước giảm

Trên thế giới, giá vàng dao động quanh ngưỡng 1.423 USD/ounce, không có biến động so với cùng thời điểm phiên trước.

Mức giá này tương đương 39,89 triệu đồng/lượng khi quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank, cao hơn SJC 240.000 đồng mỗi lượng.

Sáng nay, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của VND với USD áp dụng ngày 25/7 là 23.072 VND/USD, giảm 4 đồng so với chốt phiên trước.

Với biên độ tỷ giá +/-3%, Ngân hàng Vietcombank niêm yết đồng USD từ 23.150-23.270 đồng/USD (mua vào/bán ra), giảm 5 đồng so với chốt phiên trước.

Ngân hàng Vietinbank công bố giá USD từ 23.148-23.268 đồng/USD, không đổi so với chốt phiên trước.

BIDV cũng không đổi so với phiên trước, hiện ngân hàng này niêm yết đồng USD từ 23.150-23.270 đồng/USD (mua vào/bán ra).

Trong khi ngân hàng Eximbank niêm yết từ 23.150-23.260 đồng/USD (mua vào/bán ra), không đổi so với phiên trước./.

BN

Hàng hóa TG tuần tới 20/7/2019: Giá dầu và đường giảm, cà phê và vàng tăng

Thị trường hàng hóa quốc tế vừa trải qua một tuần biến động mạnh. Lo ngại kinh tế toàn cầu suy yếu và khả năng Fed giảm lãi suất đã tác động lên tỷ giá đồng USD cũng như giá các hàng hóa nguyên liệu.

Hàng hóa TG tuần tới 20/7/2019: Giá dầu và đường giảm, cà phê và vàng tăng

Năng lượng: Giá dầu giảm mạnh dù tăng trong phiên cuối tuần
Phiên cuối tuần, giá dầu thô tăng mạnh sau khi lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran cho biết họ đã bắt giữ một tàu chở dầu của Anh vì vi phạm luật hàng hải quốc tế trong khi đi qua Eo biển Hormuz, làm gia tăng căng thẳng trên một trong những tuyến vận tải biển quốc tế quan trọng.
Giá dầu Brent kỳ hạn chốt phiên cuối tuần tăng 54 UScent lên 62,47 USD/thùng; dầu Tây Texas Mỹ (WTI) tăng 33 US cent lên 55,63 USD/thùng.
Một số dấu hiệu cho thấy Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm mạnh lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế cũng hỗ trợ giá dầu trong phiên này. Cụ thể, hai quan chức có ảnh hưởng của Fed đã có những phát biểu đưa đến nhận định ngân hàng này có thể cắt giảm lãi suất mạnh hơn dự kiến trong tháng này.
Trong khi đó, các công ty năng lượng Mỹ tuần qua giảm số lượng giàn khoan hoạt động tuần thứ ba liên tiếp khi thực hiện các kế hoạch cắt giảm chi tiêu. Trong tuần kết thúc ngày 19/7, số giàn khoan giảm 5, xuống 779, mức thấp nhất kể từ tháng 2/2018.
Tuy nhiên, tính chung cả tuần giá dầu giảm mạnh do những lo ngại rằng tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại có thể làm giảm nhu cầu. Dầu WTI giảm 7% và giá dầu Brent giảm 5,5%, đều là các mức giảm mạnh nhất kể từ cuối tháng Năm.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) không cho rằng giá dầu sẽ tăng đáng kể bởi nhu cầu đang tăng chậm lại và có tình trạng dư thừa trên các thị trường dầu thô toàn cầu.
IEA hạ dự báo nhu cầu dầu năm 2019 từ 1,2 triệu thùng/ngày xuống 1,1 triệu thùng/ngày, do tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm tốc, trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.
Kim loại quý: Giá vàng có thời điểm đạt mức cao kỷ lục 6 năm
Trong phiên cuối tuần, giá vàng giảm hơn 1% do USD tăng giá và các nhà đầu tư đã chốt lời sau khi giá vượt qua mức 1.450 USD để đạt đỉnh cao 6 năm do các tín hiệu ôn hòa từ Fed.
Vàng giao ngay cuối phiên này giảm 1,5% xuống còn 1.424,13 USD/ounce, sau khi chạm mức cao nhất kể từ đầu tháng 5/2013 là 1.52,60 USD/ounce; vàng giao sau giảm 0,1% xuống mức 1.426,70 USD/ounce.
Mặc dù giảm trong phiên cuối tuần nhưng theo công ty về phần mềm và dữ liệu tài chính FactSet, giá vàng tăng 1% trong tuần qua, mức tăng mạnh nhất kể từ tuần kết thúc ngày 21/6.
Theo dữ liệu thống kê của Dow Jones, mức cao trong phiên cuối tuần và mức chốt phiên 18/7 là những mức cao nhất của hợp đồng này kể từ giữa tháng 5/2013.
Những phát biểu của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tại New York, John Williams, được hiểu như một sự ủng hộ đối với việc Fed cắt giảm mạnh lãi suất tại cuộc họp vào cuối tháng này, khiến lãi suất trái phiếu và đồng USD đi xuống, và đây là hai điều kiện để giá vàng tăng.
Nhà phân tích về đầu tư tại XM.com, Marios Hadjikyriacos, cho rằng các thị trường coi những phát biểu đó là tín hiệu cho thấy Fed sẽ hành động tại cuộc họp sắp tới, tăng khả năng cắt giảm lãi suất đến 50 điểm cơ bản.
Các chuyên gia về hàng hóa và các nhà đầu tư quan tâm đến việc có khoảng 13 nghìn tỷ USD nợ công đang có lãi suất âm, có nghĩa những người cho vay được nhận về ít hơn so với khoản đầu tư ban đầu, điều đã làm tăng sức hấp dẫn của tài sản an toàn như vàng.
Trong khi đó, những căng thẳng gia tăng tại Trung Đông cũng đang tạo động lực đi lên cho các kim loại quý. Phát biểu tại Nhà Trắng ngày 18/7, Tổng thống Donald Trump cho biết Hải quân Mỹ bắn hạ máy bay không người lái của Iran ở vùng Vịnh. Tuy nhiên, phía Iran bác bỏ thông tin này.
Về những kim loại quý khác, cũng trong phiên cuối tuần, giá bạc giảm 1,2% xuống còn 16,14 USD/ounce, sau khi tăng lên mức cao nhất trong hơn một năm, nhưng tính chung cả tuần, giá bạc đã tăng khoảng 6%. Giá bạch kim giảm 0,2% xuống còn 846,98 USD/ounce, sau khi đạt mức cao nhất trong 2 tháng, trong khi palađi giảm 0,8% xuống còn 1.513,11 USD/ounce.
Kim loại công nghiệp: Giá thép tăng
Giá thép cây Trung Quốc chốt phiên cuối tuần giảm do nhu cầu tiêu thụ nguyên vật liệu xây dựng yếu, tuy nhiên, vẫn ghi nhận tuần tăng đầu tiên trong tháng này.
Giá cốt thép hợp đồng kỳ hạn tháng 10/2019 trên Sàn Thượng Hải giảm 0,3% xuống 4.001 CNY(582,08 USD)/tấn. Tuy nhiên, tính chung cả tuần, giá hợp đồng này tăng 0,2%. Giá thép cán nóng tăng 0,2% lên 3.904 CNY/tấn. Tính chung cả tuần giá tăng 1,3% sau 2 tuần giảm liên tiếp.
Nhu cầu tiêu thụ thép cây ở Trung Quốc thường chậm chạp trong những tháng mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8 khi nhiệt độ cao và lượng mưa liên tục cản trở các hoạt động xây dựng.
Giá quặng sắt tăng nhưng khối lượng giao dịch mỏng sau khi Sở giao dịch hàng hóa Đại Liên tăng phí giao dịch đối với tất cả các hợp đồng quặng sắt kỳ hạn, bắt đầu từ ngày 18/7/2019. Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 đã tăng 2,4% lên 916 CNY/tấn, đánh dấu tuần tăng thứ 6 liên tiếp.
Nông sản: Đường giảm trong tuần, cà phê tăng
Phiên cuối tuần, giá đường thô tăng lên khỏi mức thấp nhất 8 tuần của phiên trước do lo ngại nguồn cung dư thừa. Giá đường thô giao tháng 10/2019 chốt phiên đã tăng 0,04 cent, tương đương 0,4%, lên mức 11,59 cent/lb.Tính chung cả tuần, giá hợp đồng này đã giảm gần 5,8%. Giá đường trắng giao tháng 10/2019 đã tăng 3,10 USD, tương đương 1%, đạt 315,70 USD/tấn.
Giá cà phê Arabica giao tháng 9/2019 chốt phiên cuối tuần giảm 1,3 cent, tương đương 1,2%, xuống còn 1,073 USD/lb. Tính chung cả tuần, giá hợp đồng này lại tăng 0,4%. Đồng thời giá cà phê Robusta giao cùng kỳ hạn giảm 8 USD, tương đương 0,6%, còn 1.419 USD/tấn. Tính chung cả tuần, giá giảm gần 0,4%, tuần giảm thứ ba liên tiếp.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo đã tăng 4 phiên liên tiếp theo xu hướng giá tại Thượng Hải do doanh số bán ô tô tại Mỹ cao hơn trong tháng 6. Tại TOCOM, giá cao su kỳ hạn tháng 12/2019 tăng 0,5% lên 185,1 JPY(1,72 USD)/kg. Giá cao su TSR20 giao tháng 1/2020 đạt 153,1 JPY/kg. Tại Thượng Hải, giá cao su kỳ hạn tháng 9/2019 chốt phiên tăng khoảng 1% đạt mức 10.685 CNY(1.554,95 USD)/tấn.
Xuất khẩu cao su của Nhật Bản sang Mỹ đã tăng 4,8% trong 6 tháng đầu năm nay, tháng tăng thứ 9 liên tiếp, được thúc đẩy bởi các thiết bị và xe hơi được sản xuất từ chất bán dẫn.
Tại Singapore, giá cao su kỳ hạn tháng 8/2019 chốt phiên ở mức 142 US cent/kg, tăng 0,6%.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàngĐVTGiá 13/7Giá 20/720/7 so với 19/720/7 so với 19/7 (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng60,2155,63+0,33+0,60%
Dầu BrentUSD/thùng66,7262,47+0,54+0,87%
Dầu thô TOCOMJPY/kl41.860,0039.330,00+430,00+1,11%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu2,452,25-0,04-1,57%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon197,70184,05+0,63+0,34%
Dầu đốtUS cent/gallon198,01188,96+2,71+1,46%
Dầu khíUSD/tấn605,00576,00+7,00+1,23%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl59.840,0057.710,00+880,00+1,55%
Vàng New YorkUSD/ounce1.412,201.426,70-1,40-0,10%
Vàng TOCOMJPY/g4.890,004.926,00-51,00-1,02%
Bạc New YorkUSD/ounce15,2416,200,00-0,02%
Bạc TOCOMJPY/g52,6055,80-0,70-1,24%
Bạch kimUSD/ounce831,02845,49-7,17-0,84%
PalađiUSD/ounce1.547,281.508,56-20,31-1,33%
Đồng New YorkUS cent/lb269,40275,25+4,25+1,57%
Đồng LMEUSD/tấn5.935,006.065,00+82,00+1,37%
Nhôm LMEUSD/tấn1.822,001.848,00-6,00-0,32%
Kẽm LMEUSD/tấn2.438,002.425,00-40,00-1,62%
Thiếc LMEUSD/tấn18.200,0017.800,00-45,00-0,25%
NgôUS cent/bushel459,25435,75+6,00+1,40%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel523,00502,50+9,00+1,82%
Lúa mạchUS cent/bushel283,75272,25-3,00-1,09%
Gạo thôUSD/cwt11,9111,95+0,06+0,46%
Đậu tươngUS cent/bushel931,50919,25+20,25+2,25%
Khô đậu tươngUSD/tấn321,50317,50+4,70+1,50%
Dầu đậu tươngUS cent/lb28,7928,56+0,51+1,82%
Hạt cải WCECAD/tấn450,70449,60+4,20+0,94%
Cacao MỹUSD/tấn2.503,002.467,00+27,00+1,11%
Cà phê MỹUS cent/lb106,65107,30-1,30-1,20%
Đường thôUS cent/lb12,3011,59+0,04+0,35%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb103,40104,10+3,60+3,58%
BôngUS cent/lb62,6863,07+1,36+2,20%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet348,60353,70+19,00+5,68%
Cao su TOCOMJPY/kg177,00184,60-0,50-0,27%
Ethanol CMEUSD/gallon1,591,47+0,03+1,73%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters

Thu Hải – Vinanet

TT kim loại thế giới ngày 22/7/2019: Nickel giảm sau 2 tuần tăng mạnh

Giá nickel ngày 22/7/2019 giảm, khi hoạt động mua vào tăng mạnh đẩy giá kim  loại sử dụng trong sản xuất thép không gỉ lên mức cao nhất trong hơn 1 năm đã giảm trở lại.

TT kim loại thế giới ngày 22/7/2019: Nickel giảm sau 2 tuần tăng mạnh

Giá nickel giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 1,2% xuống 14.555 USD/tấn, trong khi giá nickel trên sàn Thượng Hải giảm 2,3% xuống 114.920 CNY (16.708,35 USD)/tấn.

Giá nickel trên sàn London đạt 15.115 USD/tấn, cao nhất kể từ tháng 6/2018 và tăng mạnh 20% chỉ trong 2 tuần qua trước khi giảm trong ngày thứ sáu (19/7/2019).

Sau các vấn đề nguồn cung và nhu cầu Trung Quốc tăng mạnh, đẩy giá nickel giao sau 3 tháng tăng vượt ngưỡng 15.000 USD/tấn.

Trung Quốc sẽ nới lỏng các chính sách kinh tế hơn nữa để đối phó với cuộc chiến thương mại kéo dài và tốn kém với Mỹ.

Anglo American AAL.L đã đệ trình một nghiên cứu về tác động môi trường cho 1 dự án có trị giá 3 tỉ USD nhằm duy trì sản lượng từ mỏ đồng hàng đầu Los Bronces tại Chile.

Công ty phát triển đất hiếm Northern Minerals NTU.AX Australia đã  huy động 30 triệu AUD (21 triệu USD) từ các cổ đông để mở rộng quỹ tại dự án Browns Range sau căng thẳng thương mại tập trung vào ngành công nghiệp.

Tại London, giá đồng tăng 0,2%, nhôm giảm 0,2% và chì giảm 0,8%. Tại Thượng Hải, giá đồng tăng 0,3%, trong khi nhôm giảm 0,4% và kẽm giảm 1,1%.

Chứng khoán châu Á giảm do các nhà đầu tư giảm bớt kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ cắt giảm lãi suất, trong khi căng thẳng Trung Đông gia tăng sau khi quân đội Iran bắt giữ 1 tàu chở dầu của Anh, đẩy giá dầu thô tăng.

Giá các kim loại cơ bản ngày 22/7/2019:

Mặt hàngĐVTGiá% thay đổi
ĐồngUSD/lb2,7449-0,13%
ChìUSD/tấn2.044,25-0,21%
NickelUSD/tấn14.680,00-0,92%
NhômUSD/tấn1.848,00-0,32%
ThiếcUSD/tấn17.800,00-0,25%
KẽmUSD/tấn2.425,00-1,62%

Nguồn: VITIC/Reuters

Ôtô nhập khẩu về Việt Nam cao kỷ lục, gấp 6 lần năm 2018

Theo Tổng cục Hải quan, nửa đầu năm đã có 75.437 ôtô nguyên chiếc nhập khẩu về Việt Nam, gấp 6 lần cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, số xe nhập về tháng 6 đã giảm mạnh.

Tính từ đầu năm đến hết tháng 6, các doanh nghiệp Việt đã nhập khẩu tổng cộng 75.437 ôtô nguyên chiếc các loại, tăng hơn 6 lần so với cùng kỳ năm trước.

Lượng xe nhập về 6 tháng cao kỷ lục

Giá trị xe nhập về cũng tăng tương ứng hơn 5 lần, đạt 1,63 tỷ USD.

Trong đó, số xe được nhập chủ yếu là xe con dưới 9 chỗ với 54.927 chiếc, tương đương 73% tổng lượng xe nhập về cả nước.

Nếu so với cùng kỳ năm trước, số lượng xe dưới 9 chỗ nhập về trong nửa đầu năm nay đã tăng gấp 6 lần và là con số cao kỷ lục những năm gần đây.

Đáng chú ý, cùng với lượng ôtô nhập khẩu nguyên chiếc tăng mạnh, doanh số tiêu thụ dòng xe này từ các đơn vị phân phối trong nước cũng tăng gấp 3 lần cùng kỳ.

Cụ thể, theo số liệu từ Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA), tổng doanh số bán hàng toàn thị trường nửa đầu năm nay đã tăng 21% so với cùng kỳ năm ngoài.

Đặc biệt, doanh số bán xe nhập khẩu nguyên chiếc tăng gấp 3 lần, đạt trên 62.542 chiếc, còn doanh số của xe lắp ráp trong nước giảm 14%, tiêu thụ tổng cộng 91.731 xe.

Trong đó, lượng tiêu thụ xe nhập khẩu nguyên chiếc tăng chủ yếu ở dòng xe con dưới 9 chỗ ngồi.

Oto nhap khau ve Viet Nam cao ky luc, gap 6 lan nam 2018 hinh anh 1

Tháng 6 lượng xe nhập về giảm mạnh

Riêng trong tháng 6, thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho hay, lượng ôtô nguyên chiếc các loại được đăng ký tờ khai hải quan nhập khẩu về nước đã giảm 26,5% (tương ứng 3.792 chiếc) so với tháng trước đó.

Trong tháng 6, có tổng cộng 10.540 xe được các doanh nghiệp nhập khẩu về Việt Nam với giá trị đạt 254 triệu USD. Trong khi đó, số ôtô nguyên chiếc các loại nhập khẩu được Tổng cục Hải quan ghi nhận trong tháng trước (tháng 5) đạt tới 14.332 chiếc, với trị giá 308 triệu USD.

Trong tháng, lượng ôtô được đăng ký làm thủ tục hải quan chủ yếu có xuất xứ từ 5 thị trường chính là Thái Lan (7.575 chiếc); Indonesia (1.468 chiếc); Trung Quốc (653 chiếc); Hàn Quốc (274 chiếc); và Nhật Bản (150 chiếc).

Số xe nhập khẩu từ 5 thị trường này chiếm tới 96% tổng lượng xe nhập khẩu vào Việt Nam trong tháng.

Với tổng cộng 7.145 xe ưới 9 chỗ được làm thủ tục thông quan, có giá trị gần 137 triệu USD trong tháng 6. Ước tính, mỗi chiếc xe dưới 9 chỗ nhập về Việt Nam gần đây có giá trị khoảng 450 triệu đồng. Trong đó, số xe được đăng ký tờ khai nhập khẩu chủ yếu ở khu vực cửa khẩu, cảng TP.HCM và Hải Phòng.

Oto nhap khau ve Viet Nam cao ky luc, gap 6 lan nam 2018 hinh anh 2
Số ôtô nhập khẩu nguyên chiếc về Việt Nam được tiêu thụ trong 6 tháng đầu năm nay đã tăng gấp 3 lần cùng kỳ. Ảnh: Tùng Tin.

Số xe nhập khẩu nguyên chiếc về Việt Nam tăng kỷ lục cũng giúp số thu hải quan từ mặt hàng này đạt hơn 21.500 tỷ đồng trong kỳ, gấp 5 lần so với số thu cùng thời điểm năm trước.

Số tăng thu từ ôtô nhập khẩu cũng là một trong hai số thu tăng mạnh nhất của hải quan nửa đầu năm nay, cùng với dầu thô.

Ngoài việc nhập khẩu ôtô nguyên chiếc tăng mạnh, các doanh nghiệp trong nước cũng đẩy mạnh việc nhập khẩu linh kiện và phụ tùng ôtô đi kèm.

Cụ thể, sau 6 tháng, tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng linh kiện và phụ tùng ôtô tại Việt Nam đã lên tới 1,95 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước.

Thị trường xuất khẩu linh kiện và phụ tùng ôtô cho các doanh nghiệp Việt thời gian qua chủ yếu cũng là Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản và Đức.

Quang Thắng

Tỷ giá liên ngân hàng tăng mạnh tuần qua

Trong khi tỷ giá trung tâm chỉ tăng nhẹ, tỷ giá liên ngân hàng nằm trong xu hướng tăng khá tích cực trong tuần vừa qua.

Tỷ giá liên ngân hàng tăng mạnh tuần qua
Ảnh minh họa.
Trong tuần từ 15/7 – 19/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng – giảm qua các phiên nên không có biến động lớn.
Chốt tuần 19/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 23.067 VND/USD, tăng 8 đồng so với cuối tuần trước đó.
Tỷ giá mua giao ngay vẫn được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 23.200 VND/USD. Tỷ giá bán ra được niêm yết ở mức thấp hơn 50 đồng so với trần tỷ giá, phiên cuối tuần ở mức 23.709 VND/USD.
Trong khi đó, tỷ giá liên ngân hàng nằm trong xu hướng tăng khá tích cực trong tuần vừa qua. Phiên cuối tuần 19/07, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 23.240 VND/USD, tăng 40 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá trên thị trường tự do ít biến động trong tuần vừa qua. Kết thúc ngày 19/07, tỷ giá tự do đóng cửa tại 23.210 – 23.240 VND/USD – tăng 10 đồng ở chiều mua vào và 20 đồng ở chiều bán ra so với phiên cuối tuần trước đó.
Sáng nay (22/7), Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.077 đồng, tăng 10 đồng so với mức công bố cuối tuần trước.
Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.769 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.385 VND/USD.
Trong khi đó, giá USD tại các ngân hàng thương mại sáng nay không có nhiều biến động.
Cụ thể, hai ngân hàng Vietcombank và Techcombank cùng giảm 10 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với cuối tuần trước, đang ở mức 23.180 – 23.300 VND/USD.
VietinBank và BIDV đang cùng niêm yết USD ở mức 23.180 – 23.300 VND/USD, trong đó, VietinBank tăng 4 đồng ở hai chiều còn BIDV không điều chỉnh tỷ giá.
ACB và Eximbank không điều chỉnh tỷ giá, vẫn đang mua bán USD ở mức lần lượt 23.190 – 23.290 VND/USD và 23.190 – 23.280 VND/USD.
Sacombank giảm 12 đồng ở mỗi chiều, xuống còn 23.178 – 23.278 VND/USD.
Trong khi đó, tỷ giá kỳ hạn USD tại ngân hàng Techcombank được điều chỉnh giảm.
Cụ thể, tỷ giá kỳ hạn USD 3 ngày đang được niêm yết ở mức 23.183 – 23.311 VND/USD, tại kỳ hạn 30 ngày, giá USD đang ở mức 23.213 – 23.410 VND/USD, tại kỳ hạn 90 ngày là 23.280 – 23.630 đồng, giảm 10 đồng ở cả hai chiều so với cuối tuần trước.
Tại kỳ hạn 360 ngày giá USD đang là 23.586 – 24.640 VND/USD, giảm 9 đồng chiều mua vào và giảm 10 đồng chiều bán ra.

Vàng trong nước và thế giới đồng loạt giảm phiên đầu tuần

Giá vàng trong phiên giao dịch hôm nay (22-7) đã đồng loạt giảm ở cả thị trường trong nước lẫn thế giới.

vang trong nuoc va the gioi dong loat giam phien dau tuan

Cụ thể, chốt phiên giao dịch tại Mỹ, giá vàng thế giới giao dịch tại thị trường châu Á ở quanh mức 1.423 USD/oz, giảm nhẹ hơn 1 USD/oz so với chốt phiên cuối tuần trước.

Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã phát đi tín hiệu rằng: Cơ quan này đã sẵn sàng hạ lãi suất trong buổi họp chính sách vào cuối tháng 7 này. Fed cũng dự báo có thể tiếp tục giảm lãi suất thêm lần nữa. Mặc dù Fed dự kiến hạ lãi suất, nhưng giá vàng thế giới phiên hôm nay không có biến động mạnh.

Trong khi đó, ở thị trường trong nước, mở của phiên giao dịch sáng nay (22-7), giá vàng SJC tại Công ty VBĐQ Sài Gòn đang là 39,38 – 39,62 triệu đồng/lượng, giảm 20.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 80.000 đồng/lượng ở chiều bán ra so với chốt phiên giao dịch cuối tuần trước. Chênh lệch giá bán cao hơn giá mua 240.000 đồng/lượng.

Cùng thời điểm, tại Hà Nội, Tập đoàn DOJI niêm yết giá mua vàng ở mức 39,38 – 39,73 triệu đồng/lượng, tăng 30.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 20.000 đồng/lượng ở chiều bán ra so với thời điểm chốt phiên giao dịch cuối tuần trước. Giá mua vào đang thấp hơn giá bán ra 350.000 đồng/lượng.

Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng SJC ở quanh mức 39,35 – 39,75 triệu đồng/lượng, ngang giá so với chốt phiên trước. Chênh lệch mua – bán 300.000 đồng/lượng.

CK

PVEP tăng sản lượng dầu khai thác

6 tháng đầu năm 2019, Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) đã khai thác 2,32 triệu tấn quy dầu, tổng doanh thu ước tính 19.021 tỉ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 5.525 tỉ đồng…

Trong 6 tháng đầu năm 2019, để ứng phó với tình hình giá dầu thô trên thị trường thế giới diễn biến phức tạp đó, trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) giao, PVEP đã chỉ đạo các doanh nghiệp thành viên và Người đại diện của PVEP tại các dự án dầu khí, định kỳ tổ chức rà soát, kiểm tra, kịp thời đưa ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn, nhằm mục tiêu sản xuất an toàn, liên tục và hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch; quán triệt trong toàn Tổng công ty về thực hiện các giải pháp tối ưu, tiết giảm chi phí để giảm giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

pvep tang san luong dau khai thac
Khai thác dầu khí tại mỏ Rạng Đông

Với những nỗ lực đó, PVEP đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch 6 tháng đầu năm 2019 được giao.

Cụ thể, tổng sản lượng khai thác 2,32 triệu tấn (đạt 109% kế hoạch 6 tháng và 53% kế hoạch năm), trong đó, khai thác dầu 1,63 triệu tấn (đạt 111% kế hoạch 6 tháng) và sản lượng khí bán 691 triệu m3 (đạt 106% kế hoạch 6 tháng).

PVEP đã tập trung triển khai các dự án phát triển mỏ có kế hoạch First Oil/First Gas trong năm 2019, đưa mỏ Cá Tầm vào khai thác đúng tiến độ vào ngày 25-1-2019; kiểm soát vận hành hệ thống ổn định các mỏ hiện có, bảo đảm đưa các giếng vào khai thác đúng hạn trong năm 2019, triển khai công tác phát triển tại các dự án theo kế hoạch.

Hoạt động đầu tư của PVEP được rà soát, tối ưu và bảo đảm các thủ tục đầu tư trước khi thực hiện. Giá trị thực hiện đầu tư (Capex) 6 tháng đầu năm 2019 ước khoảng 107,51 triệu USD (tương đương 2.473 tỉ đồng); chi phí vận hành khai thác (Opex) ước khoảng 202,35 triệu USD (tương đương 4.654 tỉ đồng).

Với việc hoàn thành sản lượng khai thác, PVEP đã hoàn thành các chỉ tiêu tài chính 6 tháng được PVN giao. Tổng doanh thu ước tính 19.021 tỉ đồng (đạt 116% kế hoạch 6 tháng, đạt 57% kế hoạch năm). Lợi nhuận trước thuế ước tính 6.685 tỉ đồng (đạt 189% kế hoạch 6 tháng, đạt 92% kế hoạch năm). Lợi nhuận sau thuế trước phân bổ chi phí ước tính 3.518 tỉ đồng (đạt 175% kế hoạch 6 tháng, đạt 85% kế hoạch năm). Nộp ngân sách Nhà nước 5.525 tỉ đồng (đạt 121% kế hoạch 6 tháng, đạt 59% kế hoạch năm).

PVEP đã sắp xếp lại bộ máy điều hành theo hướng tinh giản, gọn nhẹ; tiếp tục rà soát, hệ thống hóa và hoàn thiện các quy trình, văn bản pháp lý nội bộ phục vụ công tác quản lý, điều hành chặt chẽ và chuyên nghiệp.

Thực hiện chủ trương của Chính phủ, PVN về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí nhằm tối ưu chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, ngay từ các tháng đầu năm 2019, PVEP đã định hướng kế hoạch triển khai cụ thể với mục tiêu tối ưu hoạt động đầu tư và tiết giảm chi phí, bảo đảm hiệu quả hoạt động của các dự án.

Công tác bảo đảm an toàn, an ninh tại các công trình, dự án trong và ngoài nước được duy trì nghiêm túc, không để xảy ra tai nạn sự cố nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất cũng như ảnh hưởng đến người lao động đang làm việc. PVEP đã chủ động theo dõi, triển khai ứng phó, phòng chống kịp thời với các hiện tượng thời tiết bất thường trên biển, tuân thủ theo đúng quy định của PVN/PVEP, bảo đảm an toàn cho các hoạt động của Tổng công ty và các doanh nghiệp.

Các hoạt động an sinh xã hội, chăm lo sức khỏe đời sống cán bộ, người lao động luôn được PVEP và các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội quan tâm, thực hiện đầy đủ, trách nhiệm.

Trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm 2019, thời gian tới, PVEP sẽ tiếp tục theo dõi sát sao sản lượng khai thác thực tế so với kế hoạch được giao, thường xuyên cập nhật số liệu khai thác, rà soát và phân tích để có những kiến nghị kịp thời, hiệu quả nhằm tối ưu khai thác, thực hiện các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu nhằm bảo đảm sản lượng khai thác dầu khí trong và ngoài nước theo kế hoạch được giao, phấn đấu về đích trước thời hạn các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh, đóng góp vào việc hoàn thành kế hoạch của PVN.

Hiền Anh

Xuất khẩu cá tra: Đón đầu cơ hội từ EVFTA

Kim ngạch xuất khẩu cá tra – một trong 2 mặt hàng chủ lực trong nhóm thủy sản xuất khẩu của nước ta được kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), tháng 5/2019, xuất khẩu cá tra sang thị trường EU tiếp tục tăng gần 18% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến hết tháng 5/2019, tổng giá trị XK cá tra, basa sang thị trường này đạt 118,7 triệu USD, tăng 29,8%, chiếm 15% tổng XK cá tra. Riêng XK sang hai nước Anh và Đức tiếp tục tăng trưởng khả quan mức từ hai đến ba con số so với cùng kỳ năm 2018.

Xuất khẩu cá tra sang EU được kỳ vọng sẽ tăng trưởng nhờ EVFTA

Xuất khẩu cá tra sang EU được kỳ vọng sẽ tăng trưởng nhờ EVFTA.

Ngày 30/6/2019 Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (IPA) giữa Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam đã được ký kết tại Hà Nội. Nếu được đưa vào thực thi, EVFTA được đánh giá sẽ là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh. Mức cam kết trong EVFTA có thể coi là mức cam kết cao nhất mà Việt Nam đạt được trong các FTA đã được ký kết cho tới nay.

VASEP khuyến cáo, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam cũng cần nắm bắt lợi thế này để gia tăng hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới. Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần phải lưu ý về khả năng tăng hàng rào phi thuế quan đối với sản phẩm nhập khẩu, trong đó, các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng sẽ có thể ngặt nghèo hơn nữa.

Vấn đề hiện nay đối với cá tra Việt Nam tại thị trường EU chính là làm sao tăng được hình ảnh đẹp về cả chất lượng và giá cả đối với người tiêu dùng và khách hàng. Vẫn nằm chủ yếu ở phân khúc thị trường trung bình với giá cả bình dân, trong thời gian tới, các doanh nghiệp cũng cần lưu ý ngay từ khâu bao gói cho tới tiếp thị và đẩy XK vào đa dạng phân khúc thị trường.

Trong thời gian tới, sau khi EVFTA có hiệu lực, cá tra cũng giống như sản phẩm thủy sản khác cũng sẽ đứng trước nhiều thách thức và đòi hỏi cao hơn từ phía khách hàng như: Cam kết về chất lượng, mẫu mã, giá cả, tính chuyên nghiệp… hoặc việc tăng chi phí sản xuất, các quy định về lao động và môi trường có thể bị nâng lên. Đây là những vấn đề các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam cần nắm bắt để có những chủ động chuẩn bị cho hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới.

Theo Bảo Ngọc/congthuong.vn

IMF dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,5% trong năm 2019

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vừa đưa ra dự báo về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dự kiến sẽ giảm từ mức cao 10 năm là 7,1% vào năm 2018 xuống 6,5% trong cả năm 2019.

Báo nói Công luận
Cơ cấu thương mại đa dạng và các hiệp định thương mại tự do mới ký kết đang thúc đẩy quá trình cải cách tại Việt Nam. (Ảnh TL)
Cơ cấu thương mại đa dạng và các hiệp định thương mại tự do mới ký kết đang thúc đẩy quá trình cải cách tại Việt Nam. (Ảnh TL)

IMF cho biết căng thẳng thương mại và những biến động bên ngoài đã ảnh hưởng đến Việt Nam vào năm 2018, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững nhờ tăng trưởng lành mạnh về thu nhập cũng như hoạt động tiêu dùng của tầng lớp trung lưu, mùa màng nông nghiệp bội thu và sự phát triển nhanh của ngành chế tạo.

Những động lực kinh tế mạnh mẽ sẽ tiếp tục được duy trì trong năm 2019 với chi phí lao động khá cạnh tranh và các yếu tố cơ bản mạnh mẽ bao gồm cơ cấu thương mại đa dạng và các hiệp định thương mại tự do mới ký kết đang thúc đẩy quá trình cải cách tại Việt Nam. Tuy nhiên, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam dự kiến sẽ “hạ nhiệt” và đạt mức tăng 6,5% vào năm 2019, duy trì tốc độ này trong năm 2020 cũng như trung hạn do sự suy yếu của các yếu tố bên ngoài.

IMF cũng dự báo tỷ lệ lạm phát của Việt Nam sẽ tăng nhẹ lên 3,6% trong năm 2019 và 3,8% trong năm 2020 nhưng vẫn duy trì ở dưới mức mục tiêu 4% của Chính phủ. Cơ quan này nhận định căng thẳng thương mại và bất ổn toàn cầu đã ảnh hưởng không nhỏ tới Việt Nam trong năm 2018 nhưng nền kinh tế vẫn vững vàng nhờ thu nhập và tiêu dùng của nhóm trung lưu tăng ổn định, mùa màng thuận lợi cùng khu vực sản xuất phát triển mạnh.

Trong báo cáo, IMF đánh giá cao những chính sách thận trọng của Chính phủ Việt Nam, góp phần tích cực cho sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong bối cảnh căng thẳng thương mại toàn cầu và các yếu tố bất ổn bên ngoài. Cơ quan này hoan nghênh cam kết tiếp tục bình ổn kinh tế vĩ mô và cải cách trên diện rộng của chính phủ Việt Nam và đồng tình với ưu tiên tập trung tăng cường quản trị, thúc đẩy năng suất lao động và tăng trưởng dựa trên khu vực kinh tế tư nhân.

IMF kêu gọi Việt Nam tiếp tục cải cách nhằm giảm các rào cản vẫn còn tồn tại đối với đầu tư, bao gồm việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng và vốn của nhà đầu tư, từ đó thúc đẩy nguồn vốn đầu tư tư nhân và tăng năng suất lao động.

Trước đó, trong báo cáo Điểm lại công bố ngày 1/7, WB cũng nhận định kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại trong bối cảnh bất định cao với tác động của những yếu tố bất lợi bên ngoài lên các ngành kinh tế quan trọng. WB dự báo tăng trưởng GDP trong năm 2019 theo giá so sánh của Việt Nam sẽ giảm còn 6,6%, do sức cầu bên ngoài yếu đi và chính sách tài khóa, tín dụng tiếp tục bị thắt chặt.

IMF lưu ý rằng Việt Nam nên tập trung hơn nữa vào chất lượng các biện pháp điều chỉnh để giữ nợ công giảm dần, tạo dư địa để ưu tiên phát triển cho cơ sở hạ tầng và chi tiêu xã hội, chuẩn bị cho giai đoạn già hóa dân số tiềm ẩn và đối phó với các tác động của biến đổi khí hậu cũng như nền kinh tế chuyển dịch theo hướng số hóa.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế đưa ra vài khuyến nghị cần ưu tiên để cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam, bao gồm giảm sự can thiệp, tăng cường giám sát doanh nghiệp nhà nước và kiểm soát tham nhũng. Khuyến nghị những rào cản về hành chính đối với khu vực kinh tế tư nhân và nước ngoài cần phải tiếp tục cắt giảm hơn nữa nhằm thúc đẩy liên kết giữa khối doanh nghiệp tư nhân và FDI, tăng tính cạnh tranh và năng suất lao động, thúc đẩy đầu tư và chuyển giao công nghệ.

IMF cho rằng quy định sở hữu và cho thuê đất nên được thay đổi nhằm giảm sự tập trung vào các cơ quan nhà nước và các cuộc đấu giá đất cạnh tranh nên được đưa thành tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, IMF cho rằng khả năng tiếp cận tín dụng tại Việt Nam hiện bị ảnh hưởng với trần tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và thị phần lớn trong hệ thống ngân hàng vẫn thuộc về các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước. IMF khuyến nghị tỷ lệ sở hữu nhà nước trong các ngân hàng nhà nước nên ở mức dưới 65%, đồng thời nâng trần sở hữu của nước ngoài.

Đức Minh

Số liệu thị trường hàng hóa – dịch vụ tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2019

Số liệu thị trường hàng hóa - dịch vụ tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2019

Giá cả một số mặt hàng chủ yếu tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2019

Số liệu thị trường hàng hóa - dịch vụ tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2019 - Ảnh 1

1. Lúa gạo

– Tại miền Bắc: Giá thóc, gạo tẻ thường tháng 6/2019 ổn định so với tháng 5/2019. Cụ thể, giá thóc tẻ thường dao động phổ biến ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg, giá gạo tẻ thường/gạo 5% tấm dao động phổ biến ở mức 11.000 – 14.000 đồng/kg.

– Tại miền Nam: Giá thóc tại kho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long loại thường tháng 6/2019 phổ biến dao động 4.200 – 5.850 đồng/kg, giảm 250 – 300 đồng/kg. Giá gạo tẻ thường/gạo 5% tấm không bao bì giao tại mạn tàu dao động từ 7.150 – 7.700 đồng/kg, giảm 300 – 500 đồng/kg (Bảng 1).

2. Thực phẩm tươi sống

So với tháng 5/2019, giá các mặt hàng thực phẩm tươi sống trong tháng 6/2019 tương đối ổn định, do nhu cầu thị trường không có nhiều biến động, ngoại trừ giá thịt lợn hơi có xu hướng tăng từ đầu tháng đến nay, do ảnh hưởng của Dịch tả lợn châu Phi, nguồn cung mặt hàng thịt lợn trên thị trường theo đó cũng giảm (Bảng 2).

Số liệu thị trường hàng hóa - dịch vụ tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2019 - Ảnh 2

3. Phân bón Urê

Giá phân bón urê trong nước tháng 6/2019 tương đối ổn định so với tháng trước. Cụ thể, tại miền Bắc, phổ biến khoảng 8.000 – 8.600 đồng/kg; tại miền Nam, phổ biến khoảng 7.900 – 8.500 đồng/kg.

4. Nguyên vật liệu xây dựng

– Giá bán lẻ xi măng tháng 6/2019 cơ bản ổn định so với tháng 5/2019. Cụ thể, mức giá tại các máng xuất của các công ty xi măng thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam đối với loại xi măng PCB 40 bao trung bình dao động ở mức 990.000 đồng/tấn đến 1.625.000 đồng/tấn; đối với xi măng PCB 30 bao trung bình dao động ở mức 988.000 đồng/tấn đến 1.230.000 đồng/tấn.

– Giá bán lẻ thép xây dựng bán lẻ phổ biến trên thị trường tháng 6 cụ thể như sau: Tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động ở mức 11.600 -13.500 đồng/kg; tại các tỉnh miền Nam dao động ở mức 11.800 -13.800 đồng/kg.

5. Khí hóa lỏng – LPG

Giá bán lẻ khí hóa lỏng – LPG trong tháng 6/2019 tại miền Bắc phổ biến ở mức 325.000 đồng/bình 12kg; tại miền Nam giá bán lẻ phổ biến ở mức 320.000 đồng/bình 12kg.

Giảm 9,3% tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa trong tháng 6/2019

Tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong tháng 6/2019 đạt 40,92 tỷ USD, giảm 9,3% so với tháng trước.

Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong tháng 6/2019 đạt 40,92 tỷ USD, giảm 9,3% so với tháng trước, trong đó xuất khẩu đạt 21,43 tỷ USD, giảm 2,2% so với tháng trước (tương ứng giảm 477 triệu USD); nhập khẩu đạt 19,49 tỷ USD, giảm 15,9% (tương ứng giảm 3,7 tỷ USD).

Kết thúc 1/2 chặng đường của năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 243,48 tỷ USD, tăng 8,0% (tương ứng tăng 18,1 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 122,53 tỷ USD, tăng 7,2% và nhập khẩu đạt 120,94 tỷ USD, tăng 8,9%.

Trong tháng 6, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 1,93 tỷ USD. Kết quả này góp phần đưa mức thặng dư thương mại hàng hóa của cả nước trong nửa đầu năm 2019 đạt thặng dư 1,59 tỷ USD.

Tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 6 đạt 25,76 tỷ USD, giảm 8,6% so với tháng trước, đưa trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 6 tháng đạt 153,87 tỷ USD, tăng 6%, tương ứng tăng 8,67 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2018.

Cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 6 có mức thặng dư trị giá 3,06 tỷ USD, đưa cán cân thương mại trong 6 tháng từ đầu năm lên mức thặng dư trị giá 15,04 tỷ USD.

 Ảnh minh họa.

Về xuất khẩu, trong 2 quý đầu năm 2019, trao đổi thương mại hàng hóa của Việt Nam với châu Mỹ đạt 44,06 tỷ USD, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm 2018, tiếp tục là châu lục đạt mức tăng trưởng cao nhất. Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với châu Á tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất (65,6%) trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước. Trị giá xuất nhập khẩu trong 6 tháng với thị trường này đạt 159,69 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó trị giá xuất khẩu là 62,5 tỷ USD, tăng 2,9% và trị giá nhập khẩu là 97,2 tỷ USD, tăng 8,9%.

Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam với các châu lục khác lần lượt là: châu Âu: 31,75 tỷ USD, tăng 1,7%; châu Đại Dương: 4,66 tỷ USD, tăng 7,7% và châu Phi: 3,31 tỷ USD, giảm 2,4% so với 6 tháng/2018.

Về nhập khẩu hàng hóa trong tháng 6 là 19,49  tỷ USD, giảm 15,9% về số tương đối, tương đương giảm 3,7 tỷ USD về số tuyệt đối so với tháng trước. Trong đó, giảm mạnh ở các nhóm hàng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện giảm 510 triệu USD, tương ứng giảm 11,8%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng giảm 456 triệu USD, tương ứng giảm 13,9%; vải các loại giảm 252 triệu USD, tương ứng giảm 18,4%; xăng dầu các loại giảm 212 triệu USD, tương ứng giảm 40,9%…

Tính đến hết tháng 6, trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 120,94 tỷ USD. Trong đó, đã có tới 24 nhóm hàng chính đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 83% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước. Với kết quả này, trị giá nhập khẩu hàng hóa trong 6 tháng/2019 cao hơn cùng kỳ năm 2018 tới 9,88 tỷ USD, tương ứng tăng 8,9% so với 2 quí đầu năm 2018. Các mặt hàng tăng chủ yếu là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 3,8 tỷ USD, tương ứng tăng 18,9%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 2,06 tỷ USD, tương ứng tăng 13,2%; dầu thô tăng 1,48 tỷ USD, tương ứng tăng gần 3,5 lần; ô tô nguyên chiếc các loại tăng 1,35 tỷ USD, tương ứng tăng 5,1 lần… so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó có một số nhóm hàng có trị giá giảm như: xăng dầu các loại giảm 1,96 tỷ USD, tương ứng giảm 41,9%; lúa mì giảm 304 triệu USD, tương ứng giảm 46,4%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 170 triệu USD, tương ứng giảm 2,8%…

Thanh Minh

Tỷ giá ngoại tệ 19/7: USD tiếp tục suy giảm

USD đang ở mức 1,1262 USD đổi 1 euro, 1 USD đổi 107,545 yên. USD giao dịch với giá cao nhất là: 23,295 VND / 1 USD.

Ty gia ngoai te 19/7: USD tiep tuc suy giam
Thị trường thế giới
Sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho rằng USD đang được định giá quá cao. Đầu giờ sáng 19/7 USD tiếp tục giảm khi nhận xét  Chủ tịch Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ (Fed) tại New York – John Williams đã đặt cược giảm lãi suất.
Đồng bạc xanh đã mở rộng khoản lỗ so với đồng euro, đồng yên và các loại tiền tệ chính khác vào thứ 5 khi nhận xét từ New York Fed – John Williams (NYSE: WMB) kỳ vọng rằng ngân hàng trung ương sẽ giảm lãi suất vào cuối tháng.

Đồng euro đã tăng 0,32% ở mức 1,1262 USD đổi 1 euro.

Trong khi đồng bạc xanh giảm 0,37% ở mức 1 USD đổi 107,545 yên.
Thị trường trong nước

Ngân hàng mua ngoại tệ (USD)

Ngân hàng SCB đang mua tiền mặt USD với giá thấp nhất là: 23,085 VND/ 1 USD

Ngân hàng Agribank đang mua chuyển khoản USD với giá thấp nhất là: 23,150 VND/ 1 USD

Ngân hàng HSBC, MBBank đang mua tiền mặt USD với giá cao nhất là: 23,185 VND / 1 USD

Ngân hàng MBBank đang mua chuyển khoản USD với giá cao nhất là: 23,195 VND / 1 USD

Ngân hàng bán ngoại tệ (USD)

Ngân hàng Agribank đang bán tiền mặt USD với giá thấp nhất là: 23,250 VND / 1 USD

Ngân hàng  Đông Á đang bán chuyển khoản USD với giá thấp nhất là: 23,270 VND / 1 USD

Ngân hàng MBBank, VietinBank đang bán tiền mặt USD với giá cao nhất là: 23,295 VND / 1 USD

Ngân hàng HSBC đang bán chuyển khoản USD với giá cao nhất là: 23,285 VND / 1 USD

Quỳnh Hoa

Giá vàng hôm nay 19/7: Trụ vững ở mức cao

Theo giới chuyên gia, giá vàng có thể tăng mạnh hơn nữa xoay quanh diễn biến thương chiến Mỹ – Trung và việc cắt giảm lãi suất từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.

gia vang hom nay 197 tru vung o muc cao
Giá vàng hôm nay 19/7: Trụ vững ở mức cao


Giá vàng 
giao tháng 8 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.415 USD/ounce.Đầu giờ sáng hôm nay 19/7 (theo giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.421 USD/ounce.

Giá vàng thế giới tăng bật trở lại sau khi xuống chạm ngưỡng 1.400 USD/ounce. Đây được đánh giá là mức tăng mạnh sau thời gian vàng bị chững giá.

Giá vàng thế giới treo trên sát đỉnh cao 6 năm bất chấp áp lực chốt lời khá mạnh. Trong khi đó, nhận định của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) về đồng USD là thông tin hỗ trợ cho vàng.

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đồng USD hiện đang bị định giá cao hơn khoảng 6-12% so với giá trị thực, trong khi đồng euro, yên Nhật và Nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc được xem là phù hợp với các yếu tố cơ bản.

Nhiều chuyên gia nhận định, giá vàng khởi sắc sau tuyên bố thương chiến Mỹ – Trung còn kéo dài, nếu 2 thực sự ký một thỏa thuận thì có thể mất khá nhiều thời gian của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Trong khi đó, Trung Quốc đáp trả bằng việc đưa một người khá cứng rắn vào bàn đàm phán với Mỹ.

Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa tuyên bố cho rằng vẫn còn một chặng đường dài trước khi Washington và Bắc Kinh có thể thực hiện một thỏa thuận thương mại, trong khi vẫn đe dọa sẽ áp thuế nhiều hơn đối với hàng hóa Trung Quốc .

Tại thị trường trong nước, hôm qua 18/7, giá vàng được SJC Hà Nội niêm yết ở mức 39,25 triệu đồng/lượng (tăng 250.000 đồng/lượng chiều mua vào) và 39,57 triệu đồng/lượng (tăng 350.000 đồng /lượngchiều bán ra) so với phiên sáng ngày hôm qua.

Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji tại Hà Nội niêm yết ở mức 39,30 triệu đồng/lượng (tăng 200.000 đồng/lượng chiều mua vào) và 39,60 triệu đồng/lượng (tăng 270.000 đồng/lượng chiều bán ra).

Phương Thảo

Hải Phòng phải thành “cứ điểm” của các doanh nghiệp logistics mạnh

Hải Phòng phải trở thành “cứ điểm” của các doanh nghiệp logistics mạnh. Đầu tư hạ tầng phải có chọn lọc, quy mô và tính hiện đại.

Những năm gần đây, hạ tầng logistics tại Việt Nam từng bước được nâng cấp, phát triển: Hệ thống cảng trải dài từ Bắc vào Nam, trong đó có 2 cảng cửa ngõ là Cảng quốc tế Hải Phòng và Cảng Cái Mép – Thị Vải; hệ thống sân bay được mở rộng, thêm các hãng hàng không mới; các tuyến đường cao tốc phát triển; hình thành nhiều trung tâm logistics hiện đại.

hai phong phai thanh "cu diem" cua cac doanh nghiep logistics manh hinh 1
Hải Phòng cần trở thành “cứ điểm” của các doanh nghiệp logistics mạnh. Ảnh minh họa: KT.

Tuy nhiên, dịch vụ logistics còn nhiều bất cập, như: chi phí logistics cao, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn thấp, tính kết nối hạ tầng chưa đồng bộ…

Đối với Hải Phòng, dịch vụ logistics dựa trên 3 nền tảng trọng tâm là: Dịch vụ cảng, dịch vụ sau cảng và vai trò trung chuyển; trong đó, vai trò trung chuyển của Hải Phòng rất lớn, đặc biệt thể hiện tính kết nối, làm động lực cho liên kết vùng và quốc tế.

Theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, Bộ Công thương, với vị trí và vai trò như vậy, thành phố Hải Phòng cần tạo nên đột phá về logistics.

“Hải Phòng phải trở thành “cứ điểm” của các doanh nghiệp logistics mạnh. Đầu tư hạ tầng phải có chọn lọc, quy mô và tính hiện đại. Ví dụ: Các kho phải là kho thông minh, theo dõi bằng phương tiện hiện đại. Hiện, nhân lực cho logistics còn thiếu, Hải Phòng có thể tập trung trong phát triển nhân lực cho logistic. Vai trò của các cơ quan chính quyền trong đẩy mạnh và hỗ trợ doanh nghiệp cũng rất quan trọng”, ông Hải nhấn mạnh.

Với Hải Phòng, logistics không chỉ giúp thành phố cảng phát huy thế mạnh mà phải trở thành động lực, nội lực quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế xã hội, tăng trưởng GDP, hiện đại hóa nền kinh tế, đẩy mạnh sự lan tỏa của thành phố Hải Phòng ra khu vực.

Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh cho rằng, thành phố Hải Phòng cần khẩn trương nghiên cứu xây dựng và ban hành kế hoạch hành động để triển khai Quyết định 200 của Thủ tướng về phát triển hệ thống logistics, cũng như kế hoạch cải thiện chỉ số LPI của logistics mà Bộ Công thương đã ban hành.

“Chúng ta phải nhìn tổng thể Hải Phòng trong tương lai phát triển và hội nhập của Việt Nam, trong bối cảnh của các hiệp  định thương mại tự do mà chúng ta đang tham gia, đặc biệt trong những liên kết mà do tính chất đặc thù của cơ cấu kinh tế và địa chính trị của chúng ta quyết định”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh kiến nghị./.

Da giầy với mục tiêu xuất khẩu 21,5 tỷ USD

Ngành da giày dự báo trong năm 2019 này sẽ kinh doanh tiếp tục khả quan…

Ảnh minh họa

Ngành da giày dự báo trong năm 2019 này sẽ kinh doanh tiếp tục khả quan. Hiện tại, các doanh nghiệp của ngành đang nỗ lực tối đa để tận dụng các cơ hội khi điều kiện thị trường nhiều thuận lợi.

Triển vọng của ngành da giầy vẫn tiếp tục được đánh giá cao khi nhu cầu tiêu dùng giầy dép tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam vẫn tăng trong năm 2019.

Không chỉ vậy, cơ hội cho doanh nghiệp ngành giầy Việt Nam còn được hậu thuẫn thêm khi Trung Quốc tiếp tục chủ trương giảm đầu tư trong các lĩnh vực dệt may và da giày để tập trung cho các ngành công nghệ cao, từ đó khả năng cạnh tranh về lâu dài sẽ hạn chế hơn, vì vậy nhiều đơn hàng gia công giày dép, túi xách sẽ tiếp tục xu hướng dịch chuyển từ Trung Quốc sang các nước khác, trong đó có Việt Nam.

Sau khi gặp nhiều khó khăn thì những năm trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu da giầy không ngừng gia tăng.

Cụ thể, năm 2015, kim ngạch của ngành đạt gần 15 tỷ USD, năm 2016 cũng thu về trên 16 tỷ USD; từ năm 2017, xuất khẩu giày dép và túi xách bắt đầu bứt phá, kim ngạch của ngành năm này đạt gần 18 tỷ USD, và năm 2018 vẫn duy trì đà tăng trưởng với tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt 19,63 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Tại Đại hội nhiệm kỳ VII 2019 – 2024 vừa diễn ra chiều 10/7 tại Tp.HCM, Hiệp hội Da giày – Túi xách Việt Nam (Lefaso) đã công bố, trong 6 tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày đạt trên 10,33 tỷ USD.

Trong đó, giày dép đạt 8,53 tỷ USD, túi xách đạt 1,8 tỷ USD. Với kết quả nửa năm như vậy, nhiều hy vọng về con số kim ngạch sẽ đạt 21,5 tỷ USD trong năm 2019,  tăng 10% so với năm 2018 như mục tiêu đề ra.

Hiện, thị trường xuất khẩu giày dép lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là Hoa Kỳ, tiếp đến là EU, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

So về trình độ tay nghề, ngành da giày Việt Nam không hề thua kém và được đánh giá cao về kỹ thuật. Bằng chứng là, da giày Việt xuất khẩu tới hàng trăm thị trường, thu về hàng chục tỷ USD giá trị trong những năm qua, như thống kê có đến 50 nước có kim ngạch xuất khẩu trên 1 triệu USD. Lefaso còn đánh giá rằng, Việt Nam hiện đã vươn lên đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 3 về sản xuất da giày trên thế giới.

Hiện tại, ngành da giày đang thu hút trên 2.000 DN tham gia, giải quyết việc làm cho 1,5 triệu lao động và là một trong những ngành có đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước.

Trong thời gian tới, ngành sản xuất da giày là một trong những ngành được đánh giá nhận nhiều cơ hội khi nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng. Các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP, EVFTA… được giới phân tích đánh giá là sẽ mang đến nhiều cơ hội lớn cho nhiều ngành hàng, trong đó có da giầy.

Trong năm 2019 này, theo dự báo của Lefaso, sản xuất da giày sẽ tăng trưởng từ 10-11%; xuất khẩu da giày sẽ chiếm khoảng 9% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Trong năm nay tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm da giày đạt 60%…

Song song đó, để giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, Lefaso hỗ trợ các doanh nghiệp tham dự các hội chợ nước ngoài theo chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả các giải pháp hỗ trợ mạnh mẽ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian tới. Nâng cao hiệu quả về giải pháp phát triển nguồn nhân lực của ngành nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới. Đẩy mạnh đào tạo để nâng cao năng lực quản lý sản xuất của doanh nghiệp.

Đặc biệt, khuyến khích và kêu gọi các doanh nghiệp trong ngành chú trọng hơn việc xây dựng thương hiệu của mình nhằm có thể tiến ra thị trường quốc tế bằng tên riêng cho các sản phẩm.

LÊ MÂY

Giá vàng hôm nay 15/7: Tiếp tục tăng mạnh

Vàng thế giới đang chịu ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố như khả năng cắt giảm lãi suất USD, tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung và căng thẳng leo thang ở Trung Đông.
gia vang hom nay 157 tiep tuc tang manh
Giá vàng hôm nay 15/7: Tiếp tục tăng mạnh

Thị trường đang đặt cược khả năng FED hạ lãi suất 0,5 điểm phần trăm trong cuộc họp ngày 30-31/7 ở mức 30%.Giá vàng thế giới trụ vững trên mức 1.400 USD/ounce, tăng 8 USD/ounce so với ngày 12.7, đóng cửa cuối tuần ở mức 1.417 USD/ounce.

Phil Flynn, nhà phân tích thị trường cao cấp của Tập đoàn Price Futures cho biết, sau phiên điều trần của chủ tịch FED Powell, thì căng thằng địa chính trị với Iran và nỗi lo chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ mang lại lợi thế cho vàng.

Giá vàng còn chịu tác động liên tục về địa chính trị, tình hình kinh tế thế giới, tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Khi Mỹ và Trung Quốc chuẩn bị tái khởi động đàm phán thương mại, rất ít nhà hoạch định chính sách ở Bắc Kinh nhìn thấy lộ trình rõ ràng hướng đến một thỏa thuận lâu dài.

Giá vàng hiện đang giao dịch ở mức tăng. Đây là cơ hội thích hợp để người dân và các nhà đầu tư mua bán và tích trữ vàng, chờ thời điểm chốt lời.

Tại thị trường trong nước, giá vàng hôm qua 14/7, giá vàng SJC tại Công ty VBĐQ Sài Gòn niêm yết ở mức 39 – 39,25 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giữ nguyên giá so với đầu phiên giao dịch cùng ngày. Chênh lệch giá bán cao hơn giá mua 250.000 đồng/lượng.

Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng 39,08 – 39,33 triệu đồng/lượng, tăng 30.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 20.000 đồng/lượng ở chiều bán ra so với đầu phiên giao dịch. Chênh lệch giá mua – bán đang là 250.000 đồng/lượng.

Phương Thảo

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 15/7: USD tiếp tục chuỗi ngày lao dốc

Giá USD trên thị trường quốc tế tiếp tục giảm phiên thứ 3 liên tiếp khi lạm phát không thể ngăn cản kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất vào cuối tháng Bảy.

ty gia ngoai te hom nay 157 dong usd tiep tuc chuoi ngay lao doc
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 15/7: Đồng USD tiếp tục chuỗi ngày lao dốc

Thị trường đang bám sát những tín hiệu mới từ Fed. Trong phiên họp trước Quốc hội, ông Powell cho rằng nền kinh tế Mỹ bị ảnh hưởng từ hoạt động từ các nhà máy đáng thất vọng, lạm phát tăng và cuộc chiến thương mại tiếp tục căng thẳng.Chỉ số đô la Mỹ, đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ sáu loại tiền tệ chính, đã giảm 0,1% xuống 96,6615.

Chủ tịch Fed nói rằng trong vòng khoảng 1 tháng trở lại đây, đã có thêm nhiều dữ liệu củng cố đánh giá của FED rằng “hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư đồng loạt yếu đi trên toàn thế giới”. Ông Powell liên tục đối mặt áp lực lớn từ Tổng thống Donald Trump kêu gọi Fed cắt giảm lãi suất.

Tổng thống Mỹ Donald Trump sau nhiều lần đe dọa sa thải Chủ tịch Fed là Jerome Powell, thì mới đây đã cho biết ông dự định đề cử Christopher Waller – Phó chủ tịch Điều hành Fed khu vực St. Louis và Judy Shelton – cố vấn kinh tế cho ông Trump trong chiến dịch tranh cử năm 2016 vào hội đồng của Fed.

Tại thị trường trong nước,tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá ở mức 23.059 VND/USD, không đổi so với phiên giao dịch trước đó.

Tỷ giá tại Sở Giao dịch Ngân hàng nhà nước (NHNN) mua vào ở mức 23.200 VND/USD (không đổi) và bán ra ở mức 23.701 VND/USD (giảm 5 đồng so với phiên trước đó).

Tỷ giá Vietcombank niêm yết ở mức: 23.140 đồng – 23.260 đồng (mua – bán), không đổi ở cả hai chiều so với phiên trước.

Giá 1 USD đổi sang VND tại BIDV niêm yết theo tỷ giá: 23.140 đồng – 23.260 đồng (mua – bán), không đổi so với phiên giao dịch trước đó.

Phương Thảo

Giá dầu thô đồng loạt tăng mạnh

Trong phiên giao dịch hôm nay (10-7), giá dầu thô đã tăng mạnh sau những căng thẳng ở vùng Vịnh cùng với việc dự trữ dầu thô của Mỹ giảm.

gia dau tho dong loat tang manh

Cụ thể, chốt phiên giao dịch tại thị trường Mỹ, trên sàn New York Mercantile Exchanghe, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 8-2019 đứng ở mức 58,56 USD/thùng, tăng 0,73 USD/thùng trong phiên. Tuy nhiên, nếu so với cuối giờ sáng ngày hôm qua, giá dầu WTI giao tháng 8-2019 đã tăng 1,11 USD/thùng.

Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 9-2019 đứng ở mức 64,64 USD/thùng, tăng 0,48 USD/thùng trong phiên và tăng 0,66 USD/thùng so với cuối giờ sáng qua.

Giá dầu thế giới tăng mạnh trong bối cảnh căng thẳng Mỹ – Iran liên tục leo thang khi các bên liên quan đưa ra những tuyên bố cứng rắn về vấn đề hạt nhân của Iran.

Dự trữ dầu thô của Mỹ giảm nhiều hơn so với dự kiến trong tuần trước, giảm 8,1 triệu thùng trong tuần tính tới ngày 5-7 xuống 461,4 triệu thùng, so với dự đoán của giới phân tích giảm 3,1 triệu thùng. Dự trữ dầu thô tại Cushing, Oklahoma, kho cảng phân phối dầu WTI giảm 754.000 thùng.

Ngoài ra, giá dầu thế giới cũng đang được hỗ trợ phần nào bởi quyết định kéo dài thời gian cắt giảm sản lượng của OPEC.

CK

Xuất khẩu thủy sản đạt gần 4 tỷ USD

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá trị xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 đạt gần 4 tỷ USD, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Xuất khẩu thủy sản 6 tháng đạt gần 4 tỷ USD. Ảnh: Hoàng Nhị -TTXVN

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 6/2019 ước đạt 794 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 đạt gần 4 tỷ USD, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam, chiếm 55,1% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản cho biết, trong các tháng đầu năm 2019, nhu cầu nhập khẩu của các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Mỹ không có nhiều dấu hiệu tích cực.

Đáng chú ý, gần đây chính phủ Mỹ đã áp thuế 25% lên các mặt hàng thủy sản từ Trung Quốc, đặc biệt là trong phân khúc các sản phẩm thủy sản chế biến có giá trị gia tăng cao vốn là thế mạnh của nước này. Tuy nhiên, đây sẽ là cơ hội cho các quốc gia khác tăng xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ.

Trong khi sản phẩm tôm từ một số công ty của Việt Nam đã được Mỹ gỡ áp thuế chống phá giá, thì sản phẩm cá tra lại bị tăng lên. Do đó, về ngắn hạn, các doanh nghiệp nên đẩy mạnh xuất khẩu tôm sang thị trường này, đồng thời, tăng cường mở rộng xuất khẩu cá tra sang các thị trường truyền thống khác như Trung Quốc, EU và ASEAN.

Về dài hạn, các cơ sở chế biến thủy sản cần nâng cấp, mở rộng hệ thống bảo quản tích trữ, các nhà máy tiệt trùng, chế biến… tương đương với chất lượng các nhà máy của Trung Quốc. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện năng lực sản xuất – một điều kiện để Bộ Thương mại Mỹ xem xét khi áp mức thuế phá giá, qua đó tăng cơ hội tiếp cận thị trường Mỹ hơn cho doanh nghiệp.

Cũng theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, tại thị trường trong nước, giá bán buôn cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng 6/2019 tiếp tục xu hướng giảm khoảng 2.000 đồng/kg so với tháng trước xuống còn 22.000 – 23.000 đồng/kg đối với cá tra loại I (800 – 900g/con), trong khi giá thu mua chỉ khoảng 20.000 – 21.000 đồng/kg.

Nhìn chung thị trường cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long trong nửa đầu năm 2019 có xu hướng suy yếu dần sau một năm liên tục tăng nóng. Cụ thể, giá đã giảm gần 16.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018, giảm gần 10.000 đồng/kg so với đầu năm nay và đang ở mức thấp nhất trong khoảng 2 năm qua.

Do ảnh hưởng bởi giá cá tra nguyên liệu giảm nên nhu cầu giống thả nuôi trong dân cũng giảm, đồng thời giá cá giống cũng giảm mạnh. Cụ thể, cá giống loại 30 con/kg dao động ở mức 18.000 – 20.000 đồng/kg (trong khi cuối năm 2018 giá cá giống là 60.000 – 65.000 đồng/kg). Nguyên nhân giá giảm là do xuất khẩu giảm mạnh, đặc biệt là xuất khẩu sang 2 thị trường lớn là Mỹ và Trung Quốc.

Trong khi đó, thị trường tôm nguyên liệu trong tháng 6/2019 có xu hướng tăng giá đối với tôm sú nhờ sức tiêu thụ thị trường nội địa tăng mạnh vào thời điểm du lịch. Cụ thể, tại Bạc Liêu, giá tôm sú ướp đá nguyên liệu cỡ 20 con/kg tăng 30.000 đồng/kg lên 240.000 đồng/kg; cỡ 30 con/kg tăng 50.000 đồng/kg lên 210.000 đồng/kg và cỡ 40 con/kg tăng 20.000 đồng/kg lên 150.000 đồng/kg.

Tuy nhiên, giá tôm thẻ chân lại trắng giảm do nguồn cung tăng vào vụ thu hoạch. Giá tôm thẻ ướp đá (cỡ 60 con/kg) giảm 14.000 đồng/kg so với tháng trước xuống 88.000 – 90.000 đồng/kg; cỡ 70 con/kg giảm 12.000 đồng/kg còn 80.000 – 82.000 đồng/kg và cỡ 100 con/kg giảm 6.000 đồng/kg còn 70.000 – 72.000 đồng/kg.

Nguyên nhân giá tôm giảm là do thời tiết mưa nắng thất thường làm môi trường ao nuôi thay đổi đột ngột, buộc nông dân phải thu hoạch đồng loạt để tránh rủi ro. Do đó, đã khiến cho nguồn cung tôm thẻ tăng vọt, đẩy giá sụt giảm./.

Thành Trung/BNEWS/TTXVN

Lợi nhuận cảng Cam Ranh tiếp tục tăng ấn tượng

Trong 6 tháng đầu năm, cảng Cam Ranh đạt mức tăng lợi nhuận lên đến 74% so với cùng kỳ năm 2018.

Keyword đầu tiên có dấu
Hoạt động kinh doanh của cảng Cam Ranh liên tiếp đạt được những kết quả ấn tượng trong những năm gần đây – Ảnh minh họa

Đại diện Công ty CP Cảng Cam Ranh (đơn vị thành viên của Tổng công ty Hàng hải VN) cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2019, tổng sản lượng hàng thông qua cảng Cam Ranh đạt hơn 1,5 triệu tấn, tăng trưởng 33% so với cùng kỳ năm 2018. Doanh thu đạt 71 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 12 tỷ đồng, tăng 74% so với cùng kỳ năm trước và đạt 62% so với kế hoạch.

“Để có được mức tăng trên, thời gian qua, cảng Cam Ranh đã tập trung hỗ trợ và làm tốt công tác chăm sóc khách hàng, đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, cải tiến quy trình công nghệ xếp dỡ để nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài việc giữ được thị trường hiện có, cảng còn phát triển thêm các đầu mối khách hàng mới. Trong đó có một số nhà đầu tư, đơn vị logictics đã đến cảng đàm phán, thỏa thuận để đưa hàng thiết bị điện gió của các dự án khu vực Nam Trung bộ và Tây nguyên nhập qua cảng”, đại diện cảng Cam Ranh cho hay.

Những năm gần đây, hoạt động sản xuất kinh doanh của cảng Cam Ranh liên tục ghi nhận kết quả ấn tượng. Trước đó, năm 2018, lần đầu tiên kể từ khi đưa vào khai thác, sản lượng hàng thông qua cảng này vượt mốc 2 triệu tấn năm, đạt gần 2,5 triệu tấn. Các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch kinh doanh đều đạt và vượt xa so với kế hoạch đề ra.

Cảng Cam Ranh chính thức chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần vào giữa năm 2015. Hiện nay, cảng Cam Ranh là một trong những cảng biển có lượng tàu, hàng hóa thông qua lớn trong khu vực Nam Trung Bộ với 2 cầu tàu tổng chiều dài hơn 600m có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải đến 50.000 DWT.

N.Khánh

Vàng trong nước tiếp tục tăng dù giá thế giới đang chững lại

Vàng trong nước sáng nay tiếp tục tăng khoảng 100 ngàn đồng mỗi lượng, trong khi giá vàng thế giới đang chững lại thậm chí giảm ở thị trường châu Á.

Giá vàng trong nước vẫn tăng mặc vàng thế giới chững lại.

Sáng nay, Tập đoàn DOJI niêm yết giá mua bán vàng miếng SJC tại 38,65- 38,95 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), tăng 100 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên liền trước.

Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 38,65 – 38,87 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), tăng 100 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào, bán ra so với cuối giờ ngày hôm qua.

Đây là phiên tăng mạnh thứ 2 liên tiếp của vàng trong nước. Mở cửa phiên hôm qua, giá vàng được các công ty niêm yết tăng 200-300 ngàn đồng mỗi lượng dù vàng thế giới đã chững lại trong nhiều phiên gần đây.

Tới đầu giờ sáng 10-7 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.395 đô la Mỹ/ounce, tăng 3 đô la/ounce so với đầu giờ sáng qua.

Giá vàng giao tháng 8 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.396 đô la/ounce.

Trong khi đó giá vàng phiên châu Á sáng nay lại có xu hướng giảm. Mỗi ounce hiện quanh mức 1.392 đô la, thấp hơn 5 đô la so với cuối phiên hôm qua.

Vàng thế giới hiện đang giao dịch cầm chừng khiến giá kim loại quý này đứng giá ở mức cao. Các nhà đầu tư vẫn đang trông chờ vào phiên điều trần của ông Jerome Powell, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, trong tuần này để có thêm gợi ý về định hướng của chính sách tiền tệ trong tương lai.

Ngoài ra, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng, kéo giá đồng đô la lên cao khiến vàng mất động lực tăng.

Nguyễn Loan

Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản 6 tháng đầu năm 2019 đạt gần 5,23 tỷ USD

Sáng 5-7, tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức Hội nghị sơ kết công tác chỉ đạo, điều hành 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019.

Theo báo cáo tại hội nghị, tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp Quý 1-2019 tăng 4,32%; Quý 2-2019 tăng 4,53%, cao hơn 0,08% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 6 tháng đầu năm 2019, cả nước trồng được khoảng 108.456 ha rừng, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2108. Trong đó: Rừng phòng hộ, đặc dụng 1.959 ha; rừng sản xuất 106.497 ha. Về khai thác rừng trồng tập trung toàn quốc 6 tháng đầu năm 2019 khoảng 105.000 ha, sản lượng đạt 9,7 triệu m3, tăng 4,86% so với cùng kỳ năm 2018. Nguồn nguyên liệu trong nước đang tiếp tục được nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng từng bước đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp chế biến gỗ và xuất khẩu.

Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản 6 tháng đầu năm 2019 đạt gần 5,23 tỷ USD
Sản xuất gỗ tại Công ty TNHH Hố Nai, Biên Hòa, Đồng Nai.

Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản 6 tháng đầu năm 2019 đạt gần 5,23 tỷ USD, đạt 50% kế hoạch năm; xuất siêu khoảng gần 4 tỷ USD. Điểm đến của 87% giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam là các thị trường truyền thống (Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc và Hàn Quốc) có yêu cầu khắt khe về chất lượng, mẫu mã sản phẩm và nguồn gốc xuất xứ.

Trong 6 tháng cuối năm 2019, ngành lâm nghiệp sẽ tích cực và chủ động gặp gỡ, làm việc và đàm phán mở của thị trường và tháo gỡ các khó khăn trong xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc; cung cấp thông tin về ngành chế biến gỗ Việt Nam và các quy định của Việt Nam về gỗ hợp pháp.

Tin, ảnh: NGUYỄN KIỂM

Giá cà phê hôm nay 5/7: Tăng mạnh trở lại 400 đồng/kg

Mở cửa phiên giao dịch hôm nay, giá cà phê nguyên liệu tăng 400 đồng, hiện giá cà phê Tây Nguyên dao động trong khoảng 33.600 – 34.900 đồng/kg.

Tại thị trường trong nước, mở cửa phiên giao dịch hôm nay, giá cà phê nguyên liệu tăng 400 đồng, hiện giá cà phê Tây Nguyên dao động trong khoảng 33.600 – 34.900 đồng/kg.

Cụ thể, giá cà phê hôm nay tại huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) ở mức 33.600 đồng/kg, giá cà phê tại Di Linh, Lâm Hà thấp đang có giá 33.700 đồng/kg. Giá cà phê hôm nay tại huyện Cư M’gar (ĐắkLắk), Ea H’leo (ĐắkLắk) dao động trong khoảng 34.700 – 34.900 đồng/kg. Tại huyện Buôn Hồ giá cà phê ở mức 34.700 đồng/kg.

Giá cà phê tại Ia Grai – Gia Lai hôm nay ở mức 34.900 đồng/kg. Giá cà phê tại Đắk Hà Kon Tum và Gia Nghĩa (Đắk Nông) có giá 34.600 đồng/kg.

Mở cửa phiên giao dịch hôm nay, giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London tăng. Giá cà phê robusta kỳ hạn tại London giao tháng 9/2019 đang tăng 17 USD/tấn (mức tăng 1,15%) đứng ở mức 1.484 USD/tấn. Trong khi tại New York, giá cà phê arabica tháng 9/2019 đứng ở mức 117,35 cent/lb.

Giá cà phê hôm nay 5/7: Tăng mạnh trở lại 400 đồng/kg
Giá cà phê hôm nay tiếp tục tăng.

Các chuyên gia nghiên cứu cho biết sản lượng cà phê, đặc biệt là cà phê arabica, có thể sẽ giảm khi hiện tượng nóng lên toàn cầu gia tăng và thời tiết khắc nghiệt làm giảm điều kiện địa lí ở những khu vực cà phê phát triển tốt nhất.

Điều này cũng làm tăng dịch bệnh cho cây với bệnh rỉ sắt trên lá cà phê ảnh hưởng đến 70% trang trại cà phê ở Trung Mỹ trong năm 2017. Trong khi, tương lai của cây cacao có vẻ khả quan hơn.

Trong khi nghiên cứu xác định cây cacao ít bị ảnh hưởng hơn bởi sự nóng lên toàn cầu so với cà phê, các nhà nghiên cứu tin rằng nông dân có thể điều chỉnh sản xuất nông lâm kết hợp để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.

Cà phê và cacao thường được trồng dưới mô hình nông lâm kết hợp, phương thức mà các cây khác được đưa vào hệ thống canh tác.

“Theo truyền thống, cà phê và ca cao đều được trồng dưới bóng cây để giảm tác động của nhiệt và bảo vệ đất nhưng cây che bóng thường bị bỏ qua trong hầu hết các nghiên cứu về biến đổi khí hậu trong tương lai”, Roeland Kindt, nhà sinh thái học cao cấp tại Trung tâm nông lâm thế giới nhận định.

Cách tiếp cận mô hình nông lâm kết hợp cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái bổ sung làm cho hệ thống sản xuất trở nên ổn định hơn, ví dụ như giữ nguồn nước và cung cấp môi trường sống cho chim và côn trùng săn mồi ngăn chặn dịch hại tự nhiên.

“Hệ thống nông lâm kết hợp là ví dụ rõ ràng về cách tương tác tích cực giữa các cây có thể cải thiện điều kiện phát triển khắc nghiệt và tạo điều kiện tăng năng suất nông nghiệp.

Nghiên cứu của chúng tôi khám phá loài cây nào có thể áp dụng tốt nhất trong các đồn điền cà phê và cacao trong tương lai để tạo ra các vi khí hậu lành tính hơn”, theo Milena Holmgren, chuyên gia nghiên cứu về khả năng phục hồi của hệ sinh thái đối với biến đổi khí hậu tại Đại học Wageningen.

Rose
Theo Đời sống Plus/GĐVN

Giá hồ tiêu hôm nay 5/7: Vẫn tiếp tục không đổi

Giá hồ tiêu hôm nay dao động từ 44.000 – 46.500 đồng/kg. Hiện giá tiêu tại Bà Rịa – Vũng Tàu đứng ở mức 46.500 đồng/kg, đây vẫn là địa phương có giá cao nhất cả nước.

Cụ thể, giá tiêu tại Đắk Nông (Gia Nghĩa) có giá 45.500 đồng/kg. Giá tiêu tại Đắk Lắk (Ea H’leo) giữ ở mức 45.500 đồng/kg. Giá tiêu tại Đồng Nai đứng giá dao động quanh ngưỡng 44.500 đồng/kg. Giá tiêu tại Chư sê (Gia Lai) đứng ở mức 45.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Bình Phước tăng lên mức 46.500 đồng/kg.

Thị trường giá nông sản trong nước theo sát diễn biễn giá nông sản thế giới. Thị trường xuất khẩu nông sản càng lúc càng cạnh tranh gay gắt, không chỉ giá mà còn sản lượng. Vì thế giá nông sản thế giới biến động sẽ tác động thị trường giá nông sản tại Việt Nam. Giá cả thị trường nông sản như hồ tiêu, cà phê tăng sẽ giúp người nông dân gắn bó với nông nghiệp.

Giá hồ tiêu hôm nay 5/7: Vẫn tiếp tục không đổi
Giá hồ tiêu hôm nay dao động từ 44.000 – 46.500 đồng/kg.

Thị trường châu Âu có dân số chỉ bằng 1/6 châu Á nhưng nếu tính theo đầu người thì nhu cầu về mặt hàng hồ tiêu lại cao gấp 5 lần. Năm 2018, châu lục này nhập hơn 46.830 tấn, tăng 3.200 tấn so năm 2017.

Khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực, hơn 90% các dòng thuế mặt hàng hồ tiêu sẽ về 0%. Những ưu đãi về thuế quan của EVFTA sẽ mở ra cơ hội cho hồ tiêu Việt tiếp cận thị trường rộng lớn.

Khảo sát của Cục Bảo vệ thực Vật trong giai đoạn 2017 – 2018 cho thấy khoảng 75% sản phẩm hồ tiêu Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu của châu Âu về mức dư lượng tối đa cho phép (MRL), chủ yếu chỉ xuất được vào các thị trường dễ tính. Đây cũng là nguyên nhân khiến tiêu Việt Nam thường có giá thấp hơn so với mặt bằng chung của thế giới.

Thời gian tới, thị trường tiêu có thể có nhiều biến động. Tuy nhiên người nông dân và doanh nghiệp cần cải thiện chất lượng, hình thành được vùng nguyên liệu, các doanh nghiệp mới bắt tay vào đầu tư kỹ thuật, chuyển giao công nghệ trồng tiêu cho nông dân theo hướng an toàn thực phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của các thị trường nhập khẩu. Như vậy hồ tiêu Việt Nam mới tận dụng được cơ hội từ EVFTA.

Rose
Theo Đời sống Plus/GĐVN

Giá USD hôm nay 5/7 biến động nhẹ

Sáng nay giá USD và giá đồng Nhân dân tệ (CNY) đều biến động nhẹ.

Sáng nay giá USD và giá đồng Nhân dân tệ (CNY) đều biến động nhẹ. – TTXVN

Giá ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại

Tại các ngân hàng thương mại, sáng nay giá USD và giá đồng Nhân dân tệ (CNY) đều biến động nhẹ.

Lúc 8 giờ 15 phút, giá USD tại Vietcombank niêm yết ở mức 23.190 – 23.310 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi so với cùng thời điểm sáng qua.

Tương tự, tại BIDV, giá USD cũng được niêm yết ở mức 23.190 – 23.310 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở chiều mua và 15 đồng ở chiều bán so với cùng thời điểm sáng qua.

Giá đồng CNY tại BIDV niêm yết ở mức 3.341 – 3.427 VND/CNY (mua vào – bán ra), tăng 4 đồng ở chiều mua và bán so với cùng thời điểm sáng qua.

Tại Techcombank, giá đồng bạc xanh niêm yết ở mức 23.170 – 23.310 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở  chiều mua và giảm 5 đồng ở chiều bán so với cùng thời điểm sáng qua.

Giá CNY tại ngân hàng này niêm yết ở mức 3.253 – 3.514 VND/CNY (mua vào – bán ra), tăng 5 đồng ở cả chiều mua và chiều bán so với cùng thời điểm sáng qua.

Tỷ giá trung tâm không đổi

Tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam (VND) và đô la Mỹ (USD) sáng 5/7 được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 23.061 VND/USD, không đổi so với hôm qua.

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.752 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.369 VND/USD./.

Văn Giáp/BNEWS/TTXVN

Giá vàng trong nước quay đầu tăng, thế giới giảm

Trái ngược với xu hướng đi xuống của thế giới, giá vàng trong nước sáng nay (5/7) đã đảo chiều tăng khoảng 100 nghìn đồng/lượng. Hiện giá SJC bán ra đang giữ ở mức trên 39 triệu đồng/lượng.

Cụ thể, lúc gần 9h sáng nay, giá vàng SJC của Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn cũng được niêm yết ở mức 38,9 triệu đồng/lượng (mua vào) và 39,4 triệu đồng/lượng (bán ra), đảo chiều tăng tương đương 100 nghìn đồng/lượng so với giá bán sáng ngày hôm qua.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Cùng thời điểm, giá vàng SJC của Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI được niêm yết ở mức 38,85 triệu đồng/lượng (mua vào) và 39,12 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào, bán ra giữ nguyên mức đã niêm yết sáng qua.
Trong khi đó, trên thị trường New York, giá vàng trong phiên giao dịch đêm qua (4/7 – theo giờ Việt Nam) lại tiếp tục đi xuống do đồng đô la Mỹ tăng lên và sức cầu mua vàng vẫn ở mức cao, trong bối cảnh giới đầu tư thận trọng trước khả năng Mỹ và Trung Quốc có thể đạt được một thỏa thuận thương mại.
Ở cuối tuần trước, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nhất trí “đình chiến” thương mại. Theo đó, hai bên tạm ngưng việc áp thêm thuế lên hàng hóa của nhau và nối lại cuộc đàm phán thương mại lâm bế tắc từ đầu tháng 5. Tuy nhiên, hiện các nhà đàm phán hai nước chưa gặp trực tiếp mà mới chỉ liên lạc qua điện thoại.
Chốt phiên giao dịch tại thị trường New York, giá vàng giao ngay đã giữ ở mức 1.415,9 USD/ounce, giảm 3,3 USD/ounce, tương đương 0,23%.
Minh Ngọc

Việt Nam bất ngờ xuất siêu 1,6 tỷ USD

Đây là cập nhật mới từ Tổng cục Hải quan, được Chính phủ công bố tại phiên họp thường kỳ tháng 6 trực tuyến với 63 tỉnh và thành phố, diễn ra sáng nay (4/7).

Việt Nam bất ngờ xuất siêu 1,6 tỷ USD

Với số liệu cập nhật mới và công bố tại cuộc họp sáng nay của Chính phủ, Việt Nam đã trở lại xuất siêu khá mạnh thay vì nhập siêu nhẹ cập nhật trước đó.

Cụ thể, về tình hình kinh tế 6 tháng đầu năm, bên cạnh các dữ liệu vĩ mô đã công bố, số liệu của Tổng cục Hải quan đưa ra tại phiên họp cho thấy, cập nhật ngày 2/7/2019, xuất khẩu đạt 122,4 tỷ USD, nhập khẩu 120,8 tỷ USD, xuất siêu 1,6 tỷ USD.
Kết quả trên có thay đổi lớn so với dữ liệu ước tính và cập nhật cuối tháng 6 vừa qua.
Cụ thể, theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2019 của Tổng cục Thống kê công bố trước đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2019 ước tính đạt 245,48 tỷ USD, cao nhất của 6 tháng từ trước đến nay.
Và cũng theo báo cáo trên, cán cân thương mại hàng hóa tháng 6/2019 ước tính xuất siêu 400 triệu USD; tính chung 6 tháng đầu năm 2019, ước tính nhập siêu 34 triệu USD (bằng 0,03% tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng).
Như vậy, với số liệu cập nhật mới và công bố tại cuộc họp sáng nay của Chính phủ, Việt Nam đã trở lại xuất siêu khá mạnh thay vì nhập siêu nhẹ cập nhật trước đó.

THANH BÌNH

Giá vàng SJC đi ngược chiều thế giới

Giá vàng trong nước quay đầu giảm trong khi giá kim loại quý trên thị trường thế giới tiếp tục lên đỉnh 6 năm.

Giá vàng SJC đi ngược chiều thế giới

Ảnh minh họa.

Khảo sát lúc 9h40 sáng nay (4/7), giá vàng miếng SJC tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đang ở ngưỡng 38,80 – 39,10 triệu đồng/lượng, giảm 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với giá khảo sát sáng qua.
Chênh lệch giá mua vào – bán ra vẫn ở mức 300 nghìn đồng/lượng.
Trong khi đó, tại Tập đoàn Doji, giá vàng Doji bán lẻ tại Hà Nội cũng quay đầu giảm 200 nghìn đồng/lượng chiều mua vào và giảm 250 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra, hiện đang ở mức 38,8 – 39,30 triệu đồng/lượng.
Biểu đồ: Kitco  
Cùng thời điểm, giá vàng giao ngay trên sàn Kitco đang giao dịch ở mức 1.419 USD/ounce, tăng 0,9 USD, tương đương 0,06% so với chốt phiên trước.
Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank sáng nay, hiện giá vàng thế giới khoảng 39,85 triệu đồng/lượng, cao hơn giá vàng trong nước 1,05 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, kết thúc phiên giao dịch đêm qua (giờ Việt Nam), giá vàng giao kỳ hạn tháng 8/2019 tăng 12,90 USD/ounce tương đương 0,9%, lên 1.420,90 USD/ounce. Trước đó trong phiên giá vàng đã có lúc chạm mức 1.441 USD/ounce.
Giá vàng của kỳ hạn gần nhất đóng cửa ở mức cao nhất tính từ ngày 14/5/2013, theo tính toán của Dow Jones Market Data.
Theo đánh giá của giới chuyên gia, sức hấp dẫn của kim loại quý gia tăng khi các báo cáo không mấy lạc quan làm tăng kỳ vọng khả năng chính sách tiền tệ toàn cầu được nới lỏng.
Cụ thể, báo cáo mới công bố cho thấy, thâm hụt thương mại Mỹ tăng 8,4% trong tháng 5/2019 lên mức cao nhất tính từ đầu năm 2019. Chỉ số của lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng, nhà hàng và bệnh viện rơi xuống mức 55,1% trong tháng trước từ mức 56,9% trong tháng 5/2019.

LINH LINH

 

EVFTA: Cơ hội nhiều, thách thức cũng lớn đối với nông nghiệp Việt Nam

EVFTA đem lại cơ hội lớn khi thuế hàng loạt mặt hàng nông sản xuất khẩu sang EU sẽ dần giảm xuống về 0%. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp Việt Nam phải đối mặt với thách thức không nhỏ về quy tắc xuất xứ và áp lực cạnh tranh.

EVFTA: Cơ hội nhiều, thách thức cũng lớn đối với nông nghiệp Việt Nam

Tại Hội nghị cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Việt Nam khi tham gia các hiệp định thương mại tự do, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết ngày 25/6/2019, Hội đồng châu Âu (EC) đã thông qua quyết định ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA) giữa Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam. “Dự kiến, cả hai hiệp định sẽ được kí vào ngày 30/6/2019 tại Hà Nội”, Bộ trưởng Bộ Công Thương cho biết.
Theo Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hiệp định EVFTA sẽ mang lại lợi ích về thuế quan đối với hàng loạt sản phẩm như thủy sản, gạo, chăn nuôi… Ví dụ như đối với nhóm hàng thịt trâu bò tươi, ướp lạnh, đông lạnh, thịt heo tươi, đông lạnh… cơ bản thuế sẽ giảm xuống còn 0%. Đối với mặt hàng rau quả, 530/556 dòng thuế về 0% khi hiệp định có hiệu lực. Bên cạnh đó, 93% sản phẩm cà phê, hồ tiêu được giảm về 0% khi hiệp định EVFTA đi vào hiệu lực.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường nhận định EVFTA tiếp tục là một trong những FTA thế hệ mới được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam “thay da đổi thịt”.
Bên cạnh đó, hiệp định thương mại tự do này còn là cơ hội để Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, tham gia chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Áp lực cạnh tranh lớn hơn
Tiến sĩ Trần Công Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, cho biết tham gia EVFTA, ngành nông nghiệp Việt Nam phải đối mặt với áp lực cạnh tranh và hàng rào phi thuế quan của các thị trường nhập khẩu.
Cụ thuế, do hàng rào thuế dần được cắt giảm nên mức độ cạnh tranh gia tăng mạnh. Các quy định về truy xuất nguồn gốc của các nước nhập khẩu ngày càng chặt chẽ và cao hơn khi giảm thuế.
Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập lấy tôm và hạt điều làm hai ví dụ điển hình khi hai mặt hàng này vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài để chế biến.
Đối với hạt điều, Việt Nam nhập khẩu điều thô nhiều từ Nam Phi. Trong khi đó, các nước xuất khẩu nguyên liệu đầu tư vào chế biến tại chỗ, hạn chế xuất khẩu. Ngoài ra, việc chế biến điều gặp một số vấn đề an toàn thực phẩm như khuẩn E.Coli. Với tôm, Việt Nam cũng phải nhập khẩu nguyên liệu từ một số nước như Ấn Độ.
Ông Thắng nói thêm Việt Nam sẽ phải đảm bảo tuân thủ các quy định khác về sở hữu trí tuệ, lao động, minh bạch hóa thông tin.
Doanh nghiệp cần phải tuân thủy các quy định các quy định của các nước nhập khẩu không chỉ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm mà còn phải đảm bảo tiêu chuẩn về xã hội, lao động…
Trong khi đó, việc quản lý và thực thi các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm trong nước cũng chưa đạt được những kết quả kỳ vọng, chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Cần đẩy mạnh chế biến sâu
Ông Thắng khuyến nghị cần đẩy mạnh chế biến rau quả, thủy sản, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường xuất khẩu. Các doanh nghiệp cần tăng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh của gia trại, trang trại, sản xuất theo chuỗi giá trị, kiểm soát chặt chẽ sử dụng hóa chất trong sản xuất.
Ngành cũng cần quản lí chất lượng theo chuỗi, nguồn gốc xuất xứ, mã vùng sản xuất, chỉ dẫn địa; hài hòa quy định phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, thiết lập hệ thống cơ sở khoa học để xây dựng và phản biện các biện pháp.
Đối với việc đối phó với các vấn đề kiện tụng quốc tế trong quá trình tham gia hội nhập, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng cần đào tạo nguồn nhân lực về tư pháp để phản biện lại những cáo buộc bất hợp lí.
Nguồn: Vietnambiz.vn
Thủy Chung

Malaysia – thị trường xuất khẩu tiềm năng

Malaysia là một trong những thị trường xuất khẩu nhiều tiềm năng của Việt Nam tại khu vực ASEAN, đặc biệt là các sản phẩm ngành nông sản, thủy sản, ngành công nghiệp thực phẩm, đồ uống.

Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Malaysia và nước này cũng là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam trong khu vực trong khu vực ASEAN.

Malaysia – thị trường xuất khẩu tiềm năng

Thống kê cho thấy kim ngạch thương mại song phương Việt Nam – Malaysia năm 2018 đạt gần 11,5 tỷ USD; trong đó, Việt Nam xuất khẩu sang Malaysia các sản phẩm như máy tính, hàng điện tử và linh kiện, điện thoại, sắt thép các loại, sản phẩm thủy tinh, phương tiện vận tải, hàng dệt may, gỗ và các sản phẩm đồ gỗ.
Ngược lại, Malaysia xuất khẩu sang Việt Nam chủ yếu là xăng dầu, sản phẩm linh kiện điện tử, chất dẻo, hóa chất, nguyên phụ liệu dệt may…
Các doanh nghiệp Việt Nam đánh giá, Malaysia là thị trường xuất khẩu còn nhiều tiềm năng có thể khai thác và ngược lại ngày càng nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư Malaysia đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội hợp tác, đầu tư.
Đến cuối 2018, Malaysia có 586 dự án còn hiệu lực và là nhà đầu tư lớn thứ 8 trong tổng số các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đạt gần 12,5 tỷ USD.
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Malaysia tháng 5/2019 đạt 334,21 triệu USD, giảm 1,03% so với tháng 4/2019 và giảm 3,9% so với tháng 5/2018. Tính chung 5 tháng năm 2019 xuất sang thị trường này đạt 1,58 tỷ USD, giảm 4,34% so với cùng kỳ năm 2018.
Việt Nam xuất khẩu sang Malaysia chủ yếu các mặt hàng sắt thép, điện thoại và linh kiện, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện, gạo, máy móc thiết bị…. trong đó sắt thép đạt kim ngạch cao nhất trong 5 tháng đầu năm nay 186,48 triệu USD (chiếm 11,74% tỷ trọng) với 304,78 nghìn tấn, tăng 4,41% về lượng nhưng giảm 4,67% về trị giá so với cùng kỳ, giá xuất bình quân giảm 8,7% ở mức 611,86 USD/tấn.
Đứng thứ hai là mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện, nhưng so với cùng kỳ cũng giảm 27,62%, tương ứng 181,32 triệu USD; kế đến máy vi tính sản phẩm điện tử giảm 25,05% với 176,15 triệu USD…
Như vậy, ba nhóm hàng với kim ngạch cao trong 5 tháng năm 2019 đều sụt giảm.
Đối với nhóm hàng nông sản, thời gian này kim ngạch xuất sang Malaysia đều sụt giảm, trong đó giảm nhiều phải kể đến mặt hàng cao su giảm 51,12% về lượng và 53,55% trị giá so với cùng kỳ chỉ với 8,8 nghìn tấn, trị giá 11,63 triệu USD, giá xuất bình quân cũng giảm 4,95% tương ứng với 1311,77 USD/tấn. Đứng thứ hai về tốc độ suy giảm là mặt hàng rau quả, giảm 43,02% tương ứng với 13,45 triệu USD.
Nhìn chung, 5 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Malaysia đều sụt giảm, số thị trường này chiếm 51%, trong đó giảm nhiều nhất là mặt hàng sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ 59,45% tương ứng với 697,7 nghìn USD. Ngược lại, nhóm hàng chất dẻo nguyên liệu tăng mạnh cả về lượng và trị giá, tăng tương ứng gấp hơn 4,7 lần (tức tăng 374,96%) và hơn 3,2 lần (tức tăng 220,52%), tuy chỉ đạt 14,3 nghìn tấn, trị giá 17,49 triệu USD.
Hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Malaysia 5 tháng năm 2019
Mặt hàng5T/2019+/- so với cùng kỳ (%)*
Lượng (Tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Tổng 1.588.151.599 -4,34
Sắt thép các loại304.780186.483.0904,41-4,67
Điện thoại các loại và linh kiện 181.328.292 -27,62
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 176.157.121 -25,05
Gạo321.079122.940.77417,60,45
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác 122.621.709 67,83
Phương tiện vận tải và phụ tùng 88.058.766 21,64
Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh 84.992.103 -21,91
Dầu thô128.16661.997.90761,8646,66
Hàng thủy sản 52.835.150 18,91
Hàng dệt, may 44.790.290 12,72
Xăng dầu các loại86.04940.714.85043,8172,4
Sản phẩm hóa chất 32.711.687 56,31
Cà phê18.70330.604.36118,3-3,36
Gỗ và sản phẩm gỗ 30.207.239 -25,61
Thức ăn gia súc và nguyên liệu 28.538.484 9,84
Giày dép các loại 26.939.090 21,84
Xơ, sợi dệt các loại8.88723.756.7345,37-1,19
Sản phẩm từ chất dẻo 20.359.098 10,32
Chất dẻo nguyên liệu14.35817.490.669374,96220,52
Giấy và các sản phẩm từ giấy 17.159.923 -12,93
Clanhke và xi măng336.31513.528.5170,6820,66
Hàng rau quả 13.458.454 -43,02
Kim loại thường khác và sản phẩm 11.997.706 -15,94
Cao su8.86611.630.159-51,12-53,55
Sản phẩm từ sắt thép 8.472.112 24,55
Phân bón các loại41.8127.409.842-41,9-48,85
Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù 7.400.582 100,23
Sắn và các sản phẩm từ sắn12.9565.716.976-31,09-36,05
Hóa chất 5.374.110 23,31
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc 5.211.941 2,54
Dây điện và dây cáp điện 4.914.370 -17,08
Sản phẩm gốm, sứ 3.807.802 -19,11
Sản phẩm từ cao su 3.473.482 -34,96
Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận 2.529.286 29,86
Than các loại14.7782.096.764-72,96-67,1
Quặng và khoáng sản khác21.1392.061.648187,2915,03
Hạt tiêu6621.845.38722,59-15,11
Chè1.7681.368.2922,61-0,67
Sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ 697.733 -59,45
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)
Để hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương Việt Nam-Malaysia đạt 15 tỷ USD vào năm 2020, hai nước cần tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại hợp tác trong việc giới thiệu các sản phẩm thế mạnh của nhau.
Nguồn: VITIC tổng hợp

Hương Nguyễn  –  Vinanet

TT sắt thép thế giới ngày 2/7/2019: Quặng sắt tại Trung Quốc tăng

Giá quặng sắt tại Đại Liên tăng phiên thứ 4 liên tiếp. Nguồn cung quặng sắt trong nửa đầu năm 2019 từ Brazil, Australia giảm. Giá thép giảm do cố vấn cho rằng Trung Quốc không cần các biện pháp kích thích lớn.

TT sắt thép thế giới ngày 2/7/2019: Quặng sắt tại Trung Quốc tăng

Số liệu từ Hiệp hội Sắt và Thép Trung Quốc (CISA), chỉ số quặng sắt (CIOPI)  của nước này đạt 411,07 điểm hôm 1/7/2019, tăng 3,2% tương đương 12,76 điểm so với chỉ số trước đó hôm 28/6/2019.

Trong số đó, chỉ số giá quặng sắt thị trường nội địa đạt 335,88 điểm, tăng 0,1% tương đương 0,33 điểm so với chỉ số giá trước đó, chỉ số giá quặng sắt nhập khẩu đạt 425,29 điểm, tăng 3,68% tương đương 15,11 điểm so với chỉ số trước đó.

Giá quặng sắt tại Trung Quốc ngày 2/7/2019 tăng lên mức cao kỷ lục, sau số liệu cho thấy rằng xuất khẩu nguyên liệu sản xuất thép của Brazil trong tháng 6/2019 giảm, gia tăng lo ngại về nguồn cung tại nước sản xuất thép hàng đầu thế giới vẫn thắt chặt.

Giá thép tại Thượng Hải giảm trở lại từ mức cao đỉnh điểm nhiều năm sau khi cố vấn ngân hàng trung ương Trung Quốc cho biết, nền kinh tế trong nước sẽ không cần các biện pháp kích thích “rất lớn” để thúc đẩy tăng trưởng, trừ khi chiến tranh thương mại với  Mỹ trở nên tồi tệ hơn.

Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Đại Liên tăng 4,6% lên 894,5 CNY (130,37 USD)/tấn, cao nhất kể từ năm 2013, và tăng phiên thứ 4 liên tiếp.

Thị trường cung cấp lớn – Brazil – xuất khẩu 29,4 triệu tấn quặng sắt trong tháng 6/2019, so với 29,83 triệu tấn tháng 5/2019 và 35,29 triệu tấn tháng 6/2018, số liệu của chính phủ cho biết.

Xuất khẩu từ Brazil và nước cung cấp số 1 – Australia – suy giảm, nơi các công ty khai thác quặng ước tính giảm sản lượng và xuất khẩu năm 2019, do các vấn đề hoạt động sản xuất và thời tiết xấu, thúc đẩy giá quặng sắt kỳ hạn và giao ngay tại Đại Liên tăng lên mức cao nhất 5 năm trong ngày thứ hai (1/7/2019).

Nhà phân tích thuộc Westpac Banking Corp  cho biết, số liệu xuất khẩu quặng sắt của Australia trong tháng 6/2019 ít ấn tượng.

Trong tháng 6/2019, công ty khai thác quặng Rio Tinto Ltd RIO.AX giảm dự kiến xuất khẩu quặng sắt từ khu vực sản xuất lớn Pilbara, Australia – lần thứ 3 – kể từ tháng 4/2019.

Trong khi công ty Vale Brazil đưa ra một trong những mỏ khai thác bị đóng cửa, Brucutu đã hoạt động trở lại vào cuối tháng trước, song nhà phân tích Westpac cho biết triển vọng nguồn cung trong năm không được cải thiện đáng kể.

Xuất khẩu từ Brazil và Australia giảm 36 triệu tấn so với cùng kỳ năm ngoái.

Dự trữ quặng sắt tại các cảng của Trung Quốc chạm mức thấp nhất kể từ đầu năm 2017 trong tuần trước, công ty tư vấn SteelHome cho biết, trong bối cảnh xuất khẩu từ Brazil và Australia giảm và nhu cầu từ các nhà máy thép nội địa gia tăng.

Giá quặng sắt giao ngay đạt 119,7 USD/tấn, cao nhất kể từ đầu năm 2014, SteelHome cho biết.

Các  nguyên liệu sản xuất thép khác  tăng, với giá than luyện cốc trên sàn Đại Liên tăng 1,3% lên 1.410 CNY/tấn. Giá than cốc tăng 0,8% lên 2.121 CNY/tấn. Giá thép kỳ hạn giảm do dự kiến nhu cầu sẽ giảm sau khi cố vấn Ngân hàng trung ương Trung Quốc,  Ma Jun cho biết, khả năng giữa tăng trưởng GDP ở mức trên 6% trong năm nay là khá “lớn” nếu chiến tranh thương mại không tồi tệ hơn.

Giá thanh cốt thép kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 2,1% xuống 4.023 CNY/tấn sau khi tăng 9 phiên liên tiếp, rời khỏi mức cao đỉnh điểm hơn 8 năm trong ngày thứ hai (1/7/2019).

Giá thép cuộn cán nóng kỳ hạn thoái lui từ mức cao kỷ lục trong ngày thứ hai (1/7/2019), giảm 2,7% xuống 3.882 CNY/tấn.

Các thông tin khác:

Thép không gỉ: Thống kê cho biết, xuất khẩu sản phẩm thép không gỉ tại Nhật Bản trong tháng 5/2019 đạt 69.000 tấn, giảm 4,1% so với tháng 4/2019. Giá xuất khẩu trung bình trong tháng 5/2019 tăng 4,6% so với tháng 4/2019.

So với tháng 4/2019, xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 5,1%, Hàn Quốc giảm 0,6%, Đài Loan (TQ) tăng 30,5%, Mỹ giảm 16,4% và Thái Lan giảm 22,8%. Tổng xuất khẩu giảm so với tháng 4/2019.

Bên cạnh đó, Nhật Bản xuất khẩu khoảng 476.000 tấn thép đặc biệt (ngoại trừ thép không gỉ), giảm 8,4% so với tháng 4/2019. Xuất khẩu thép đặc biệt (bao gồm thép không gỉ) đạt 545.000 tấn, giảm 7,9% so với tháng 4/2019.

Thép HDG: Thống kê sơ bộ của Bộ Thương mại Mỹ (DOC), trong tháng 5/2019 nước này nhập khẩu khoảng 195.000 tấn thép tấm và dải mạ kẽm nhúng nóng (HDG), giảm 9,5% so với tháng 4/2019, giảm 16,5% so với tháng 5/2018.

Trong số đó, nhập khẩu  từ Canada chiếm phần lớn  đạt 68.000 tấn, giảm  so với 70.000 tấn tháng trước đó và 98.000 tấn tháng 5/2018. Các nguồn cung HDG khác của Mỹ trong tháng 5/2019  bao gồm Brazil, Hàn Quốc, Đài Loan (TQ) và Nam Phi với 19.000 tấn, 16.000 tấn, 11.400 tấn và 10.600 tấn.

Thép thương phẩm: E-Sheng Steel Co., một trong những nhà sản  xuất thép thương phẩm tại Đài Loan (TQ) cho biết sẽ giữ giá thép thương phẩm không thay đổi trong tuần này, công ty giữ giá không thay đổi trong 4 tuần liên tiếp.

Theo đó, giá thép góc SS400 kích thước nhỏ đạt 19.800-20.800 tấn, thép thanh chuỗi A36 ở mức 19.800 NTD/tấn, thép thanh phẳng A36 và SS400 ở mức 19.800-21.700 NTD/tấn, quặng sắt cục A36 ở mức 20.300-21.300 NTD/tấn.

Thép tấm AP: China Steel Corporation (CSC), công ty sản xuất thép cacbon lớn nhất tại Đài Loan (TQ) sẽ giữ giá thép tấm AP không thay đổi trong tháng 8/2019.

Theo đó, giá thép tấm AP của CSC không thay đổi trong 5 tháng liên tiếp. Giá thỏa thuận thép tấm AP vẫn không thay đổi ở mức 20.400 NTD/tấn. Mặc dù nhu cầu không tăng, giá thép nội địa Đài Loan vẫn ổn định.  Ngoài ra, nhập khẩu thép tấm AP không nhiều. Bởi vậy, CSC quyết định sẽ giữ giá không thay đổi trong tháng 8/2019.

Nguồn: VITIC/Reuters

Vũ Lanh  –  vinanet

Giá vàng ngày 2/7/2019 tăng nhẹ trở lại

Giá vàng thế giới tăng nhẹ nhưng vẫn dưới mốc 1.400 USD/ounce, thị trường vẫn đang “nghe ngóng” những thông tin từ kết quả cuộc gặp Mỹ – Trung tại G20 liên quan tới cuộc chiến thương mại; vàng trong nước cuối giờ chiều hôm qua giảm mạnh, đến hôm nay tăng nhẹ trở lại, SJC lên mức 38,45 triệu đ/lượng.

Giá vàng ngày 2/7/2019 tăng nhẹ trở lại

Giá vàng trong nước tăng nhẹ
Vào thời điểm lúc 14h giá vàng SJC của Công ty vàng bạc đá quý Sài gòn SJC tại Hà Nội mua vào 38,18 triệu đồng/lượng – bán ra 38,45 triệu đồng/lượng (tăng 80.000 đ/lượng so với cuối giờ chiều hôm qua ở cả chiều mua vào và bán ra).
Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng SJC tại Hà Nội ở mức mua vào 38,22 triệu đồng/lượng (tăng 70.000 đ/lượng) – bán ra 38,62 triệu đồng/lượng (tăng 20.000 đ/lượng).
Giá vàng SJC niêm yết tại Phú Quý SJC mua vào 38,17 triệu đồng/lượng (tăng170.000 đ/lượng) – bán ra 38,55 triệu đồng/lượng (tăng 150.000 đ/lượng).
Giá vàng SJC niêm yết tại Bảo Tín Minh Châu mua vào 38,18 triệu đồng/lượng – bán ra 38,48 triệu đồng/lượng (tăng 130.000 đ/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra).
Giá vàng thế giới vẫn dưới mốc 1.400 USD/ounce
Giá vàng thế giới trên sàn Kitco lúc 14h giao dịch ở mức 1.392,1 USD/ounce (tăng 1 USD/ounce với trưa hôm qua). Giá vàng kỳ hạn tháng 8 giảm 21,2 USD/ounce xuống mức 1.392,7 USD/ounce.
Giá vàng hôm nay cao hơn 7,7% (100,5 USD/ounce) so với đầu năm 2018. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 38,6 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, cao hơn 100 ngàn đồng so với vàng trong nước.
Kim loại quý đã mất mốc 1.400 USD/ounce trong phiên hôm qua và hiện chỉ còn được giao dịch trong khoảng 1.389 -1.390 USD/ounce.
Thị trường vẫn đang “nghe ngóng” những thông tin từ kết quả cuộc gặp Mỹ – Trung tại G20 liên quan tới cuộc chiến thương mại.
Hai nhà lãnh đạo hai nước đã đạt được thỏa thuận không làm gia tăng căng thẳng chiến tranh thương mại giữa hai siêu cường và mở ra một cuộc đàm phán thương mại và có thể đạt được thỏa thuận cuối cùng nếu kết quả tích cực.
Phiên hôm qua, đồng đô la Mỹ vẫn tiếp tục bị bán tháo dù giá đã nhích đáng kể, lên 96,37 điểm.Giới phân tích cho rằng, giá vàng ngắn hạn có thể chạm mốc khoảng 1.350 USD/ounce trong đợt điều chỉnh lần này.
Giá vàng thế giới khởi đầu quý 3/2019 bằng đà giảm mạnh xuống dưới mức 1,400 USD/oz sau khi Mỹ và Trung Quốc đồng ý đình chiến thương mại, “dội một gáo nước lạnh” vào các kênh trú ẩn an toàn – vốn đã tăng mạnh trong vài tháng quá nhờ căng thẳng thương mại và triển vọng nới lỏng chính sách tiền tệ trên khắp thế giới.
Giá vàng sụt mạnh sau cuộc họp giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bên lề hội nghị thượng đỉnh G20 vào cuối tuần trước. Tại đó, hai nhà lãnh đạo đồng ý tạm ngưng áp thuế bổ sung và nối lại đàm phán, dù vậy, đà giảm có thể chỉ là tạm thời khi nhà đầu tư giờ chuyển sự tập trung sang dữ liệu việc làm tại Mỹ vào ngày thứ Sáu (05/07/2019) để tìm kiếm manh mối về động thái chính sách kế tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Vàng có lúc xuống sát ngưỡng 1.380 USD/ounce trước khi bật tăng trở lại.
Sở dĩ vàng hạ nhiệt là bởi đồng USD tăng trở lại ngay sau khi Mỹ rút lại những biện pháp trừng phạt lên Trung Quốc, từ việc đánh thêm thuế cho đến kế hoạch cấm các doanh nghiệp Mỹ không bán các công nghệ cũng như cốt lõi cho tập đoàn công nghệ số 1 Trung Quốc là Huawei. Trong khi đó, Trung Quốc cho biết sẽ mua thêm các sản phẩm nông sản của Mỹ. Cả Washington và Bắc Kinh đồng ý nối lại các cuộc đàm phán.
Mặc dù căng thẳng Mỹ-Trung lắng xuống còn quan hệ Mỹ-Triều Tiên tốt đẹp lên, những bất ổn tiềm tàng vẫn còn.
Một số chuyên gia cho rằng, mặc dù căng thẳng thương mại đã giảm bớt nhưng thị trường khó có thể giảm kỳ vọng của thị trường về việc cắt giảm lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed). Nền kinh tế Mỹ đang có dấu hiệu tăng chậm lại, trong khi căng thẳng có thể leo thang trở lại bất cứ lúc nào.
Giá dầu thô Nymex cao hơn và đạt mức cao nhất trong 5 tháng và chỉ số đô la Mỹ cũng cao hơn rất nhiều trong giao dịch ngày đầu tuần tại Hoa Kỳ.
Trên thực tế, nhiều chuyên gia cho rằng, quyết định “đình chiến” Mỹ-Trung không đồng nghĩa với chiến tranh thương mại Mỹ – Trung kết thúc. Mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc không chỉ dừng lại ở vấn đề thương mại, mà là ở vấn đề vị thế số 1 thế giới.
Bầu không khí căng thẳng Mỹ-Trung được cho là tạm dịu bớt trong ngắn hạn, những bất đồng sẽ tiếp tục kéo dài và khó có thể giải quyết được trong thời gian ngắn. Thỏa thuận hòa hoãn Mỹ-Trung tại G20 vừa qua có thể chỉ giúp các thị trường tài chính ổn định trong ngắn hạn, các tài sản rủi ro tăng tạm thời.
Chỉ 1 ngày sau thỏa thuận hòa hoãn với Trung Quốc, Tổng thống Trump cho biết ông đã thắng trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Trump cũng cho biết, Trung Quốc đã phá giá đồng tiền và bơm nhiều tiền vào nền kinh tế để bù đắp ảnh hưởng của thuế quan. Theo đó, đồng Nhân dân tệ đã giảm giá đáng kể từ khi cuộc chiến thương mại nổ ra. Trong khi đó, theo ông Trump, Mỹ chưa hề bơm tiền và hạ lãi suất.
Nguồn: VITIC tổng hợp

CPTPP: Cơ hội và thách thức cho nông sản Việt

Tại hội thảo “CPTPP: Cơ hội và thách thức cho nông sản Việt”, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, đã đến lúc nông dân, doanh nghiệp cần phải thực sự chủ động, đổi mới trong mô hình sản xuất và cả trong mối quan hệ tương tác với các chủ thể của chuỗi giá trị sản phẩm, cũng như có cách tiếp cận bài bản vào các thị trường quốc tế nhiều tiềm năng.

CPTPP: Cơ hội và thách thức cho nông sản Việt - Ảnh 1

Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh phát biểu tại Hội thảo

CPTPP tạo cơ hội mở rộng thị trường nông sản Việt 

Ngày 2/7, dưới sự chủ trì của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Bộ Công Thương tổ chức hội thảo “CPTPP: Cơ hội và thách thức cho nông sản Việt” tại Hà Nội.

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – CPTPP, gồm 11 nước thành viên là: Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. CPTPP là một thị trường lớn với tổng dân số khoảng 500 triệu người, tổng giá trị GDP năm 2018 là 11 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 13% GDP và 14% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu.

Ngày 14/1/2019, CPTPP đã chính thức có hiệu lực với Việt Nam – thành viên thứ 7 của Hiệp định. CPTPP cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với hàng hóa của Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực khoảng 78 – 95% số dòng thuế và cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100% số dòng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, tùy theo cam kết của từng nước.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK) giữa Việt Nam và các thành viên trong Hiệp định này đạt 74,478 tỷ USD, chiếm 15,5% tổng kim ngạch XNK cả nước năm 2018 (cả nước 480,17 tỷ USD). Trong đó, Việt Nam xuất siêu sang 5 thị trường gồm: Canada, Chilê, Mexico, Australia và Peru.

Là một Hiệp định tự do thương mại thế hệ mới, CPTPP được dự báo sẽ có tác động toàn diện đến các hoạt động kinh tế, xã hội của Việt Nam, trong đó nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng và được dự báo chịu tác động lớn cả tích cực và tiêu cực

Theo đó, về cơ bản CPTPP sẽ tạo cơ hội mở rộng thị trường cho nhiều ngành hàng, trong đó có nông sản Việt, nhất là các thị trường mà Việt nam chưa có FTA song phương là Canada, Mexico, Peru, Úc nhờ những ưu đãi về thuế quan.

Đồng thời, các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, môi trường, lao động… cũng sẽ là động lực, sức ép để ngành nông nghiệp Việt Nam phấn đấu tăng cường đầu tư, nâng cao năng lực để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. CPTPP cũng sẽ giúp Việt Nam thu hút được nguồn vốn đầu tư (cả FDI và tư nhân trong nước) cho nông nghiệp.

Cuối cùng, trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ – Trung diễn biến khó lường, xuất khẩu nông sản Việt cũng sẽ được gián tiếp hưởng lợi khi Mỹ đã nâng mức thuế đối với 250 tỷ hàng nhập từ Trung Quốc (có thể còn áp thuế tiếp đối với trên 300 tỷ USD còn lại), trong đó có các mặt hàng thủy sản, nông sản, đồ gỗ, hàng tiêu dùng khác…

CPTPP: Cơ hội và thách thức cho nông sản Việt - Ảnh 2Toàn cảnh hội thảo

 

Ngược lại, khi hàng rào thuế quan được xóa bỏ thì hàng rào kỹ thuật sẽ nghiêm ngặt và khắt khe hơn. Chính vì vậy, CPTPP cũng đặt ra không ít thách thức đối với một ngành vẫn còn nhiều manh mún, chất lượng sản xuất nói chung, việc tiêu thụ, phân phối nông sản nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, thậm chí là yếu kém như ngành nông nghiệp Việt Nam.

Nông dân, doanh nghiệp cần phải chủ động, đổi mới 

Mới nhất, ngày 30/6 vừa qua, Việt Nam – EU đã chính thức ký hiệp định thương mại tự do Việt  Nam – EU (EVFTA) chính thức và mở ra một thị trường lớn cho nông sản.

Như vậy cùng với CPTPP, EVFTA đã đưa Việt Nam trở thành một nước hội nhập sâu rộng với thế giới. Đứng trước những cơ hội to lớn như vậy, Việt Nam cần phải nhận diện cơ hội, thời cơ, thách thức, khó khăn như thế nào khi CPTPP, EVFTA tác động đến sản xuất, tiêu thụ nông sản của Việt Nam.

Phát biểu tại Hội thảo, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Thào Xuân Sùng, nhận định việc CPTPP đi vào thực hiện với 11 thành viên sẽ tiếp tục tác động sâu sắc hơn nữa đến sản xuất nông nghiệp, đến nông dân bởi đây là Hiệp định Thương mại Tự do lớn thứ 3 trên thế giới.

“Vì vậy, chúng ta phải nhận thức được thuận lợi, cơ hội, cũng như khó khăn, thách thức, nhất là lĩnh vực thương mại nông sản khi Việt Nam ngày càng đi sâu vào CPTPP và EVFTA để vượt qua khó khăn, thách thức, giành được những thắng lợi to lớn và có lợi cho người nông dân theo quan điểm vì nông dân và nông dân làm chủ”.

Về vấn đề này, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh đánh giá, Việt Nam đã có một số ngành trong nông nghiệp phát triển thuộc hàng đi đầu trên thế giới như: cà phê, gạo, thủy sản, đồ gỗ…

Các hiệp định tự do thương mại; trong đó có CPTPP EVFTA là cơ hội để tăng xuất khẩu, góp phần xây dựng nhiều ngành mũi nhọn hơn cũng như nâng cao giá trị gia tăng của các ngành sản xuất nông nghiệp.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho rằng, đã đến lúc nông dân, doanh nghiệp cần phải thực sự chủ động, đổi mới trong mô hình sản xuất và cả trong mối quan hệ tương tác với các chủ thể của chuỗi giá trị sản phẩm, cũng như có cách tiếp cận bài bản vào các thị trường quốc tế nhiều tiềm năng.

Các hiệp định không chỉ dừng lại ở các hàng rào thuế quan đã được cắt giảm, không phụ thuộc vào vị trí chính trị của các nước tham gia mà phụ thuộc chính năng lực cạnh tranh của hàng nông sản. Điều đó có nghĩa là phụ thuộc chính vào khả năng sản xuất của chúng ta.

Vì vậy, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, an toàn phải gắn với quy mô và hình thức sản xuất mới để tăng năng suất, chất lượng, đáp ứng yêu cầu cao của hàng rào kỹ thuật.

Các chuyên gia cũng cho rằng, chất lượng nông sản Việt Nam ngày càng được cải thiện theo hướng áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất an toàn VietGAP, VietHGAP, GlobalGAP… Việc thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp bước đầu đạt được kết quả tích cực, hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hóa chuyên canh, áp dụng công nghệ cao hướng đến tiêu dùng trong nước và gia tăng xuất khẩu.

Tuy đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào như vừa nêu, nhưng chất lượng sản xuất nông nghiệp nói chung, việc tiêu thụ, phân phối nông sản nói riêng ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, thậm chí là yếu kém.

Thanh Nhung

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 1/7: Fed cắt giảm lãi suất, USD sụt giảm

Hôm nay 1/7, đồng đô la Mỹ đã giảm nhẹ, các nhà đầu tư kỳ vọng từ hội nghị thượng đỉnh G20, đặc biệt là sau cuộc hội đàm của hai nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc sẽ mang đến những điều tích cực.

ty gia ngoai te hom nay 17 fed cat giam lai suat usd sut giam
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 1/7: Fed cắt giảm lãi suất, USD sụt giảm

Fed đã phát tín hiệu sẵn sàng có đợt giảm lãi suất đầu tiên kể từ năm 2008, trên cơ sở “những bấp bênh” mà nền kinh tế đang phải đối mặt. Chỉ số đô la Mỹ, đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ sáu loại tiền tệ chính, tăng 0,1% lên 95,790.

Giá đồng bạc xanh chắc chắn sẽ chịu tác động khi cuộc họp G20 cuối tuần qua tại Nhật Bản đã kết thúc. Sau cuộc hội đàm với lãnh đạo Trung Quốc, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đăng trên trang cá nhân kết quả cuộc hội đàm mà ông đánh giá là “tốt hơn kỳ vọng”.

Cuộc gặp này là sự kiện rất được trông đợi tại G20, nhiều người kỳ vọng nó sẽ giúp Mỹ – Trung khai thông bế tắc trong đàm phán thương mại và có thể góp phần chấm dứt chiến tranh thương mại khốc liệt giữa hai nước.

“Đó là một cuộc gặp rất, rất tốt, hơn cả mong đợi. Chúng tôi đang trở lại đúng lộ trình”, tổng thống Donal Trump phát biểu. Ông Trump cho biết hai bên sẽ sớm đưa ra tuyên bố về kết quả cuộc họp.

Hãng thông tấn Xinhua của Trung Quốc cho hay Mỹ sẽ không áp thêm thuế mới đối với hàng hóa của Trung Quốc.

Ông Tập cho biết Trung Quốc sẽ thực hiện Luật đầu tư nước ngoài mới, bao gồm các bước quan trọng nhằm “tự do hoá nền kinh tế” và nới lỏng hạn chế về quyền tiếp cận thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài, bắt đầu từ ngày 1.1 năm sau.

Tâm lý kì vọng vào việc Fed cắt giảm lãi suất ngay trong tháng 7 ngày càng tăng khiến đồng USD sụt giảm. Khi USD suy yếu thì đồng Euro được hưởng lợi tăng nhẹ.

Tại thị trường trong nước, tỷ gia trung tâm hôm qua 30/6, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá ở mức 23.066 VND/USD.

Tỷ giá Vietcombank niêm yết ở mức: 23.230 đồng – 23.350 đồng (mua – bán), giảm 45 đồng ở cả hai chiều so với phiên trước.

Giá 1 USD đổi sang VND tại BIDV niêm yết theo tỷ giá: 23.240 đồng – 23.360 đồng (mua – bán), không đổi so với phiên giao dịch trước đó.

VietinBank niêm yết tỷ giá ở mức 23.238 đồng – 23.375 đồng (mua – bán), giảm 21 đồng ở cả hai chiều so với phiên giao dịch trước đó.

Phương Thảo

Giá vàng hôm nay 2/7: Tăng nhẹ trở lại

Giá vàng đầu giờ sáng 2/7 có xu hướng tăng nhẹ sau ít ngày sụt giảm. Giá vàng thế giới đang được giao ở mức 1.394 USD/ounce.

gia vang hom nay 27 tang nhe tro lai
Giá vàng hôm nay 2/7: Tăng nhẹ trở lại

Tới đầu giờ sáng 2/7 (giờ Việt Nam),  giá vàng được giao trên nhiều sàn giao dịch trên thế giới hiện đứng ở mức 1.394 USD/ounce. Tăng nhẹ so với phiên giao dịch cuối ngày hôm qua.

Nhiều chuyên gia kinh tế thế giới đánh giá, giá vàng thế giới có thể nhanh chóng trở về đỉnh cao 1.400 USD/ounce trong bối cảnh chứng khoán Mỹ ở quanh đỉnh cao lịch sử sau khi tổng thống Mỹ Donald Trump nhất trí ngừng leo thang căng thẳng thương mại với Trung Quốc và có một cuộc viếng thăm bất ngờ tới Triều Tiên.

Tại thị trường trong nước, giá vàng hiện cũng đang có xu hướng giảm nhẹ đôi chút.

Mở đầu phiên giao dịch ngày 2/7 đa số các cửa hàng vàng giảm giá vàng 9999 trong nước 350-400 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên áp cuối tuần trước.

Đầu phiên giao dịch 2/7, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 38,25 triệu đồng/lượng (mua vào) và 38,65 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 38,25 triệu đồng/lượng (mua vào) và 38,50 triệu đồng/lượng (bán ra).

gia vang hom nay 27 tang nhe tro lai
Giá vàng giao dịch trong nước đầu phiên 2/7

Kim Anh

8 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 3 tỷ USD

6 tháng năm 2019, có 8 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 3 tỷ USD, chiếm 68,62% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

8 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 3 tỷ USD. Đồ họa: infographics.vn

Theo infographics.vn

Hiệp định EVFTA: Cánh cửa cho doanh nghiệp gia nhập chuỗi giá trị toàn cầu

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVIPA) vừa được ký kết ngày 30/6 đánh dấu mốc quan trọng sau tiến trình dài 6 năm kể từ khi chính thức đàm phán.

Chú thích ảnh
Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Ảnh: TTXVN

Trong đó, EVFTA là một thỏa thuận thương mại tự do thế hệ mới nên ngoài việc xóa rào cản thuế quan còn kèm theo nhiều điều khoản rộng hơn nhằm mang lại lợi ích cho môi trường kinh doanh, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động ở các quốc gia có liên quan. Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về một số vấn đề liên quan tới Hiệp định này, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu, rộng trên toàn cầu.

Hiệp định EVFTA vừa được ký kết, ông bình luận như thế nào về những cơ hội mang lại từ Hiệp định đối với Việt Nam; trong đó, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp?

Trước hết, việc đàm phán và ký kết Hiệp định EVFTA giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam là một hành trình gian nan với 3 năm đàm phán và 3 năm chuẩn bị để tiến tới ký kết. Đây là Hiệp định đạt tốc độ kỷ lục về thời gian. Đương nhiên có nguyên do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như biến động trong nội bộ của châu Âu, vấn đề Brexit và đâu đó có nhiều ý kiến khác nhau về hiệp định này.

Tuy nhiên, vượt qua tất cả, Việt Nam và EU đạt tiếng nói chung để Hiệp định này chính thức được ra đời, mang lại lợi ích cho cả hai bên, đặc biệt là trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới diễn biến hết sức phức tạp như hiện nay khi chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang, khi thị trường thế giới đang có những đảo lộn. EVFTA được ký kết sẽ chính là một cái neo vững chắc để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước thành viên thuộc EU.

Đây là cơ hội rất tốt để Việt Nam tiếp cận thị trường trên 500 triệu người có thu nhập cao, là một trong những trung tâm kinh tế của thế giới. Hiện nay, EU đang chiếm tới hơn 20% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam ngoài châu Á.

Tuy nhiên, để đánh giá tác động của EVFTA đối với nền kinh tế Việt Nam thì cần nhìn rộng hơn, không chỉ đánh giá về số lượng và giá trị kim ngạch, mà cần đánh giá về chất lượng xuất khẩu sang châu Âu. Châu Âu và Việt Nam là 2 nền kinh tế có tính bổ sung, tương hỗ rất lớn và không cạnh tranh trực tiếp. Do đó, cơ hội khi mở ra rất lớn sau khi hai bên đã hoàn tất nền tảng là hiệp định thương mại tự do.

Chúng ta đều biết rằng, EU là nơi tập trung các nền kinh tế hàng đầu trên thế giới. Ở đó có các tập đoàn toàn cầu, các công ty đa quốc gia thống lĩnh nền kinh tế thế giới, nên khi khai thông được Hiệp định này, Việt Nam có thể tăng cường được quan hệ hợp tác về thương mại và đầu tư giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn lớn và gia nhập được vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng đầu của thế giới. Việt Nam cũng sẽ có điều kiện để đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam, có điều kiện để thu hút các dòng đầu tư có chất lượng cao hơn vào Việt Nam và thân thiện với môi trường hơn, có giá trị gia tăng lớn hơn và phù hợp với yêu cầu phát triển mới của nền kinh tế.

Với EVFTA, Việt Nam thực sự có thêm một động lực mới để thúc đẩy quá trình phát triển trên cả hai khía cạnh là không gian thị trường, tiếp cận các nguồn lực về công nghệ, về vốn cho sự phát triển. Đây cũng sẽ là động lực thúc đẩy cải cách thể chế ở trong nước.

Nhiều ý kiến cho rằng, sau khi EVFTA được ký kết, áp lực cạnh tranh đối với nền kinh tế nói chung và với các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng sẽ ngày càng căng thẳng. Ông nghĩ sao về điều này?

Áp lực rất lớn nhưng cơ hội cũng vô cùng lớn. Muốn phát triển và muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình thì chúng ta chỉ có cách là đương đầu với áp lực ấy để tập dụng tốt nhất các cơ hội đem lại. Muốn làm được những điều này, Chính phủ cần tiếp tục thúc đẩy cải cách thể chế mạnh mẽ hơn để tạo hệ sinh thái cho doanh nghiệp Việt Nam phát triển. Song song đó, bản thân các doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, phải đổi mới sáng tạo theo hướng phát triển bền vững.

Tôi nghĩ rằng, sự sáng tạo của con người Việt Nam là vô tận. Trí tuệ của con người Việt Nam là vô tận nếu chúng ta có một môi trường kinh doanh tốt sẽ khơi dậy được tiềm năng đó để sẵn sàng đương đầu, đối mặt với cạnh tranh toàn cầu và tận dụng tốt cơ hội từ cạnh tranh toàn cầu.

Mọi sự phát triển đều chỉ có thể tốt khi được đặt trước một áp lực lớn. Áp lực lớn sẽ tạo ra động lực lớn và sẽ thúc đẩy bước phát triển nhảy vọt của nền kinh tế Việt Nam. Chính áp lực đó sẽ tạo động lực mang lại bước phát triển bứt phá cho nền kinh tế Việt Nam. Nếu không đặt trước những áp lực lớn thì sẽ khó có sự bứt phá.

Theo dự báo, sau khi ký kết EVFTA và sau khi Hiệp định này được thực thi, kỳ vọng kim ngạch xuất khẩu tới các nước thuộc EU sẽ tăng 50% so với hiện tại vào năm 2020. Ông nghĩ sao về khả năng này? 

Với EVFTA, tôi tin là hoàn toàn khả thi nhưng đây chỉ là giả định. Nếu chúng ta thực hiện nghiêm túc và tích cực việc thúc đẩy cải cách thể chế; các doanh nghiệp Việt Nam có những nỗ lực để cải thiện hệ thống quản trị và nâng cao năng lực cạnh tranh chính mình thì Việt Nam có thể tăng được kim ngạch xuất khẩu sang những thị trường này.

Tôi xin nhắc lại tính chất của hai thị trường là Việt Nam và các nước thuộc EU có khả năng bổ sung, tương hỗ lẫn nhau chứ không cạnh tranh trực tiếp. Nếu khơi thông được EVFTA có thể giúp tăng gấp đôi kim ngạch xuất khẩu sang thị trường các nước thuộc khu vực này là hoàn toàn có thể tin tưởng.

Cùng với những cơ hội về trao đổi thương mại từ EVFTA, tình hình đầu tư và thu hút nguồn lực nước ngoài sau khi có Hiệp định EVIPA sẽ như thế nào, thưa ông?

Thực tế, các doanh nghiệp châu Âu cũng đang có nhu cầu đầu tư vào thị trường Việt Nam để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu trở lại châu Âu hoặc xuất khẩu ra thế giới. Vì vậy, Việt Nam có điều kiện đón nhận các dòng vốn đầu tư từ châu Âu. Đây cũng là dòng vốn đầu tư chất lượng mà chúng ta đang chờ đón.

Khi làm việc với các đối tác ở các nền kinh tế văn minh hơn, chuyên nghiệp hơn, quốc tế hơn thì cũng là điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành, nâng cao trình độ quản trị, làm ăn theo chuẩn mực quốc tế. Đó là những tác động không thể cân đong đo đếm được đối với sự trưởng thành của các doanh nghiệp Việt Nam.

Muốn hiện thực hóa các mục tiêu về gia tăng giá trị, lợi ích từ EVFTA, theo ông, Chính phủ, các cấp ngành và cộng đồng doanh nghiệp cần thực hiện các giải pháp gì? 

Theo tôi, trước hết cần đẩy mạnh cải cách thể chế hơn nữa để chuẩn bị một môi trường kinh doanh thuận lợi, làm đệm cho những “con chim đại bàng” kể cả là các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài phát triển trong thời gian tới.

Thêm nữa, phải phổ biến ngay, cụ thể hóa và có chương trình hành động, phân định trách nhiệm rõ ràng về các thông tin hội nhập đến với các hiệp hội doanh nghiệp, đến từng ngành hàng, đến từng dòng thuế để định hướng lại hoạt động của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng cần căn cứ vào đó để so sánh các thị trường để tìm ra thị trường có lợi nhất để định hướng sản xuất kinh doanh để tìm đối tác.

Cuối cùng là phải nâng cao năng lực cạnh tranh, phải tạo ra những sản phẩm, dịch vụ phù hợp với chất lượng cao, giá thành thấp, phải đổi mới sáng tạo, phải cải thiện hệ thống quản trị và nâng tầm quản trị của mình lên với ngang tầm với các đối tác châu Âu, châu Mỹ.

Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, VCCI các hiệp hội cần sẵn sàng để phổ biến, tuyên truyền,

Trân trọng cảm ơn ông!

Thạch Huê (TTXVN)

Tỷ giá ngoại tệ 1.7: Áp lực tăng, USD “chợ đen”chưa thể phục hồi

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay (1.7): Giá USD tại các ngân hàng và trên thị trường tự do hiện vẫn giao dịch ở mức thấp.

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 1.7: Giá USD tiếp tục đà giảm nhẹ
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 1.7: Giá USD tiếp tục đà giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay 1/7, USD đi xuống, vàng tăng giá không ngừng

Vàng vẫn đang được hỗ trợ bởi khả năng FED hạ lãi suất và sự xuống giá của đồng USD.

Tới 14h ngày 1/7, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 38,070 triệu đồng/lượng (mua vào) và 38,470 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 38,100 triệu đồng/lượng (mua vào) và 38,370 triệu đồng/lượng (bán ra).

Mở cửa ngày 1/7, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 38,65 triệu đồng/lượng (mua vào) và 39,15 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 100 ngàn đồng ở chiều bán ra so với cuối phiên liền trước.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 38,65 triệu đồng/lượng (mua vào) và 38,92 triệu đồng/lượng (bán ra).

Giá vàng chắc chắn sẽ chịu tác động khi cuộc họp G20 cuối tuần qua tại Nhật Bản đã kết thúc. Sau cuộc hội đàm với lãnh đạo Trung Quốc, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đăng trên trang cá nhân kết quả cuộc hội đàm mà ông đánh giá là “tốt hơn kỳ vọng”.

Hai bên đã đạt được một số thỏa thuận như Mỹ sẽ không tăng biểu thuế đánh vào hàng Trung Quốc mà thay vào đó sẽ tăng biểu phí sau khi tiếp tục đàm phán về nội dung này. Đổi lại, Trung Quốc sẽ tăng cường nhập khẩu nông sản của Mỹ.

Các kết quả hội đàm bên lề hội nghị thượng đỉnh G20 được đánh giá là tốt hơn kỳ vọng giữa lãnh đạo Trung Quốc và Tổng thống Donald Trump xung quanh cuộc chiến thương mại hiện nay chắc chắn sẽ có những tác động rõ nét lên diễn biến giá vàng thế giới.

Giá vàng hôm nay 1/7, USD đi xuống, vàng tăng giá không ngừng

Ở chiều hướng ngược lại, cuộc gặp kết thúc mà không có bất kỳ thoả thuận nào, giá vàng sẽ nhận chất kích thích mới và có thể tăng mạnh, phá vỡ những mức đỉnh cao mới.

Những số liệu kinh tế mới nhất đến từ Mỹ không cho thấy kinh tế thế giới có thể suy giảm trong năm nay, dù chiến tranh thương mại đã ảnh hưởng không nhỏ đến 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc. Dòng tiền vẫn không ngừng đổ vào thị trường chứng khoán Mỹ.

Giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.411,48 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng thế giới giao tháng 8/2019 ghi nhận trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchanghe ở mức 1.412,5 USD/ounce, tăng 0,5 USD/ounce trong phiên.

Tính chung cả tuần giá vàng vẫn tăng gần 1%, nhưng tính trong tháng 6 giá kim loại quý đã tăng 8%. Còn khi tính chung cả quý II/2019, giá vàng đã tăng mạnh 9,1%. Đây là mức tăng cao nhất kể từ quý I/ 2016 tới nay.

Theo kết quả khảo sát diễn biến giá vàng của Kitco, tuần này vẫn có 59% chuyên gia cho rằng giá vàng tăng trong tuần tới, chỉ có 6% cho rằng giá vàng giảm nhưng tỷ lệ chuyên gia dự báo giá vàng đi ngang đã tăng lên tới 39%.

Mở cửa ngày 29/6, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 38,75 triệu đồng/lượng (mua vào) và 38,940 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 50 ngàn đồng ở chiều bán ra so với cuối phiên liền trước.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 38,65 triệu đồng/lượng (mua vào) và 38,92 triệu đồng/lượng (bán ra). Trong khi đó, tại thị trường Tp.HCM, giá vàng SJC niêm yết ở chiều bán ra là 38,90 triệu đồng/lượng.

Tính chung trong tuần qua, vàng SJC đã tăng 50.000 đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra. Trong tháng 6 này, vàng SJC đã tăng tới 370.000 đồng/lượng chiều mua và 450.000 đồng/lượng chiều bán ra.

Nam Hải

CPI 6 tháng cuối năm: Áp lực sẽ giảm

Thông tin tại cuộc họp tháng 6 của Tổ Điều hành thị trường trong nước cho thấy, thị trường hàng hóa cả nước 6 tháng đầu năm ổn định và không có dấu hiệu tăng đột biến. Đây là cơ sở cho nhận định sức ép lạm phát trong nửa cuối năm 2019 sẽ giảm và không còn lớn như 6 tháng đầu năm.

Theo nhận định của Tổ Điều hành thị trường trong nước, 6 tháng đầu năm, cung cầu các hàng hóa thiết yếu cơ bản ổn định, không có hiện tượng tăng giá đột biến do nguồn cung hàng hóa được các địa phương, doanh nghiệp chuẩn bị tốt. Thêm vào đó chương trình bình ổn thị trường được nhiều địa phương triển khai tốt nên giá hàng hóa không có biến động lớn.

Riêng giá thịt lợn hơi tăng trở lại bởi nguồn cung thị trường bắt đầu có dấu hiệu giảm do quy mô chăn nuôi hộ giảm mạnh. Trong khi đó, lượng lợn bị dịch phải tiêu hủy chiếm 10% tổng đàn lợn. Các chuyên gia đề xuất, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần có phương án triển khai chương trình bình ổn thị trường các tháng cuối năm, trong đó có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp phân phối, chế biến thịt lợn trên địa bàn thực hiện thu mua thịt lợn đã có chứng nhận của thú y để cấp đông và cung cấp cho thị trường các tháng cuối năm.

cpi 6 thang cuoi nam ap luc se giam
Giá xăng dầu 6 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm trước

Ước tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm đạt 2.391.136 tỷ đồng, tăng 11,48% so với cùng kỳ năm 2018. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm tăng khoảng 8,6%. Trong nhóm 11 hàng hóa và dịch vụ chính thì có 3 nhóm hàng hóa giảm giá và 8/11 nhóm tăng giá. Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ước tính tháng 6 giảm 0,08% so với tháng 5 do các mặt hàng xăng dầu, thịt lợn, lương thực giảm trong kỳ tính chỉ số tháng 6. Ước CPI bình quân 6 tháng đầu năm tăng 2,65% so với cùng kỳ năm 2018, bình quân mỗi tháng tăng khoảng 0,23%.

Trung tâm Thông tin Thương mại và Công nghiệp dự báo CPI sẽ giữ ở mức thấp trong nửa cuối năm và bình quân cả năm có thể chỉ tăng khoảng 3,5-3,6% so với cùng kỳ năm 2018, thấp hơn nhiều so với mục tiêu là tăng khoảng 4%.

Các yếu tố củng cố cho nhận định này là giá dầu thô thế giới sẽ khó tăng mạnh, có thể ổn định ở mốc 60 USD/thùng so với cùng kỳ năm ngoái, giá xăng dầu trong nước 6 tháng đầu năm 2019 giảm khoảng 3,55% so với cùng kỳ 2018. Sức ép lên tỷ giá USD/VND, lãi suất VND trong nửa cuối năm sẽ giảm đi nhiều và tiếp tục mặt bằng như hiện nay. Giá hai nhóm hàng là dịch vụ y tế và giáo dục sẽ không tăng đáng kể sau nhiều năm liên tiếp điều chỉnh mạnh. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, sức mua tiêu dùng trong nước ổn định.

Cùng với đó, nhiều mặt hàng nguyên liệu vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp nguồn cung dồi dào, giá ổn định cũng sẽ giúp bình ổn thị trường các tháng cuối năm.

Trong khi đó, bức tranh xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm có nhiều điểm sáng với mức tăng khoảng 7,3% cùng mức nhập siêu chỉ 34 triệu USD thể hiện sự nỗ lực của cơ quan điều hành và các doanh nghiệp. Có 22 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước tăng 10,8% trong khi thay vì “dồn toa” cho các nhóm hàng nông sản thì nay đã được chuyển sang cho các doanh nghiệp chế biến, chế tạo như gỗ, dệt may, cao su.

Đáng chú ý theo nhận định của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đều đã tận dụng tốt các cơ hội từ Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với tốc độ tăng trưởng cao trên 20% vào hai thị trường Canada và Mexico.

Quang Lộc

Hàng hóa qua cảng biển tiếp tục tăng mạnh, ghi nhận con số kỷ lục

Sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển 6 tháng đầu năm 2019 đạt hơn 308,7 triệu tấn, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2018.

Keyword đầu tiên có dấu
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển vẫn giữ nhịp tăng trưởng trong những tháng đầu năm 2019 – Ảnh minh họa

Cục Hàng hải VN cho biết, 6 tháng đầu năm 2019, khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển đạt 308.777.000 tấn, trong đó, lượng hàng hóa container đạt hơn 9,1 triệu Teus, tăng lần lượt 13% và 3% so với cùng kỳ năm 2018. Đây là con số sản lượng cao kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây.

Trong đó, các khu vực cảng biển có khối lượng hàng hóa thông qua tăng cao nhất so với cả nước là: Thanh Hóa (tăng 86%) chủ yếu là hàng lỏng phục vụ nhà máy lọc dầu Nghi Sơn; Quảng Nam (tăng 78%). Ngoài ra, một số khu vực cảng biển Hà Tĩnh, Bình Thuận cũng đạt mức tăng từ 58 – 62%.

Tính riêng tháng 6/2019, khối lượng hàng hóa thông qua cảng biển đạt hơn 51,46 triệu tấn 15% so với cùng kỳ năm trước. Lượng hàng container đạt hơn 1,5 triệu Teus.

Dù sản lượng hàng qua cảng vẫn ghi nhận sự tăng trưởng, song theo đại diện Cục Hàng hải VN, mức tăng của hàng hóa thông qua cảng biển những tháng đầu năm 2019 có xu hướng tăng chậm hơn so với cùng kỳ năm 2018.

“Đặc biệt, lượng hàng container qua cảng biển chỉ tăng 3% trong 6 tháng đầu năm là do sự sụt giảm mạnh lượng hàng thông qua ở một số khu vực như: khu vực Mỹ Tho giảm 55% (từ 3.802 Teus còn 1.722 Teus), khu vực Quảng Ninh giảm 47% (từ hơn 74.264 Teus còn 39.175 Teus)”, đại diện Cục Hàng hải cho hay.

N.Khánh

Giá dầu thô bật tăng mạnh trở lại phiên đầu tuần

Những tín hiệu lạc quan vệ cuộc gặp Mỹ – Trung cùng với đó là việc Saudi Arabia, Nga, Iraq trở lại gia hạn việc cắt giảm nguồn cung khiến cho giá dầu tăng mạnh phiên đầu tuần.

gia dau tho bat tang manh tro lai phien dau tuan

Cụ thể, chốt phiên giao dịch tại Mỹ, trên sàn New York Mercantile Exchanghe, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 8-2019 đứng ở mức 59,51 USD/thùng, tăng 1,04 USD/thùng trong phiên. Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 9-2019 đứng ở mức 65,78 USD/thùng, tăng 1,04 USD/thùng trong phiên.

Còn tại sàn giao dịch London, giá dầu WTI hiện được giao dịch ở mức thấp nhất là 59,64 USD/thùng và cao nhất là 59,69 USD/thùng. Với dầu Brent, giá được giao dịch ở mức thấp nhất là 65,89 USD/thùng và cao nhất là 65,96 USD/thùng.

Giá dầu thế giới quay đầu tăng mạnh sau khi đồng loạt giảm giá trong phiên giao dịch cuối tuần trước do thị trường đón nhận những thông tin về cuộc gặp giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại G20 với tâm lý đầy lạc quan.

Thêm vào đó là OPEC và các đồng minh gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng ít nhất đến hết năm 2019 khi các nhà sản xuất hàng đầu trong ngày 30-6 đã tán thành một chính sách nhằm hỗ trợ giá dầu.

OPEC, Nga và các nhà sản xuất khác, được gọi là OPEC+, sẽ nhóm họp vào ngày 1 và 2-7 để bàn luận về cắt giảm sản lượng. Tổ chức này đang giảm sản lượng kể từ năm 2017 để ngăn cản giá dầu sụt giảm trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy yếu và sản lượng của Mỹ đang tăng.

CK

FTA: Mở cửa thị trường nông sản trong CPTPP và EVFTA

Với việc Việt Nam hội nhập sâu rộng, nhất là các thị trường có Hiệp định thương mại tự do (FTA), nông nghiệp đã vươn lên với sự thay đổi vượt bậc trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp và nông dân, từng bước tạo tiền đề quan trọng trong liên kết chuỗi, hướng đến phát triển bền vững.

Đây là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh tại Hội nghị “Cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Việt Nam khi tham gia các Hiệp định thương mại tự do”, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với Bộ Công Thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức sáng nay (26/6), tại Hà Nội.

Không có giới hạn nào cho sản xuất

Xu hướng đẩy mạnh tự do hóa thương mại hàng nông sản thông qua việc ký kết và thực thi các Hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là FTA thế hệ mới (FTAs), sẽ giúp Việt Nam được hưởng ưu đãi nhiều hơn về thuế quan, phi thuế quan; đồng thời có điều kiện cơ cấu lại thị trường xuất nhập khẩu theo hướng cân bằng hơn, tránh phụ thuộc quá mức vào một vài thị trường.

Trong số 12 FTAs Việt Nam đã ký kết và 4 Hiệp định đang đàm phán và chuẩn bị ký kết, có 2 FTAs được tập trung thảo luận tại Hội nghị là Hiệp định Ðối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và FTA Việt Nam – EU (EVFTA). Trong đó, CPTPP có hiệu lực thực thi đối với Việt Nam từ ngày 14/01/2019; còn EVFTA đã kết thúc đàm phán và đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục để ký kết. Hai FTAs này có mức độ cam kết cao, tầm ảnh hưởng rộng, hứa hẹn mang lại nhiều cơ hội mới nhưng cũng không ít thách thức to lớn cho nền kinh tế cả nước nói chung và khu vực nông nghiệp, nông thôn nói riêng.

Thông tin chung về CPTPP và EVFTA, ông Lương Hoàng Thái – Vụ trưởng Vụ Đa Biên (Bộ Công Thương) – cho biết, CPTPP là Hiệp định thương mại quan trọng nhất trong hơn hai thập kỷ qua, thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương, với 11 quốc gia, chiếm 11,5% tổng kim ngạch toàn cầu. CPTTP với nhiều cam kết trong cắt giảm thuế quan, cam kết nguồn gốc xuất xứ, cam kết SPS và TBT, cam kết đầu tư, cam kết sở hữu trí tuệ và các cam kết khác, CPTPP có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 14/1/2019. Đối với Hiệp định EVFTA, hiện Việt Nam và EU đang nỗ lực đẩy nhanh các thủ tục cuối cùng để sớm ký kết và phê duyệt Hiệp định. Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sau 7 năm.

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh – cho biết: Với 16 FTA cả song phương và đa phương đã được ký kết, trong số đó, có nhiều FTAs với những đòi hỏi, yêu cầu chuẩn mực rất cao, tác động trực tiếp sâu rộng đến nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh của quốc gia, quản trị của quốc gia, chính sách phát triển kinh tế, xã hội… Tác động của hội nhập đi vào cuộc sống, không chỉ đi vào Bộ, ngành địa phương mà còn tác động đến từng doanh nghiệp, từng người dân, sản xuất trong nước trong đó có ngành nông nghiệp và nông thôn.

fta mo cua thi truong nong san trong cptpp va evfta
Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh tại Hội nghị “Cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Việt Nam khi tham gia các FTA”

Đáng chú ý, với hội nhập quốc tế, Việt Nam đã chuyển từ bị động sang chủ động. Do đó, đã có những chuyển biến quan trọng cả về cơ cấu phát triển, chất lượng phát triển kinh tế cũng như chiến lược đối ngoại, trong đó, lấy nền tảng là đa phương hóa, đa dạng hóa. “Minh chứng thành công trong hội nhập của Việt Nam có thể lấy ví dụ từ chính ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, với việc Việt Nam hội nhập sâu rộng, nhất là các thị trường có FTA, nông nghiệp đã vươn lên, chứng kiến sự thay đổi vượt bậc, trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp và nông dân từng bước tạo tiền đề quan trọng trong liên kết chuỗi”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho hay.

Với vị thế là nước đứng đầu trong các sản phẩm nông sản sản xuất và xuất khẩu như: cà phê đứng thứ 2 thế giới, gạo đứng thứ 3 thế giới, thủy sản đứng thứ tư thế giới, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho rằng, không có giới hạn cho năng lực sản xuất nếu chúng ta có thể tận dụng tối đa cơ hội về thị trường và có được điều kiện để tái cơ cấu, đưa công nghệ và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng quy mô lớn, hữu cơ và gắn với việc hình thành phát triển các chuỗi giá trị. Các FTA chính là cơ hội để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt là ngành nông nghiệp Việt Nam.

“Trong tất cả các ngành kinh tế lớn của Việt Nam có giá trị xuất khẩu có giá trị trên 1 tỷ USD thì nông nghiệp chiếm một phần lớn. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn gặp nhưng trở ngại về chất lượng, năng lực cạnh tranh, công nghệ chế biến để đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật khi tham gia các FTA. Do đó, chúng ta còn nhiều dư địa để triển khai công tác nghiên cứu, tổ chức lại sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Đặc biệt, trong bối cảnh của thế giới đang diễn biến ngày càng phức tạp, xuất hiện chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, chủ nghĩa đơn phương và đã trực tiếp đe dọa đến năng lực sản xuất, khả năng lực cạnh tranh và thâm nhập thị trường của sản phẩm hàng hóa của Việt Nam, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho hay, việc ký kết các FTA trong đó, Hiệp định CPTPP và tới đây EVFTA sẽ ký kết vào 30/6/2019 sẽ là nền tảng cho hội nhập của Việt Nam; giúp Việt Nam khẳng định được thế đứng, vị thế của mình, để chúng ta có thể hội nhập thành công hơn nữa, tạo ra công cụ cho các ngành kinh tế của Việt Nam, trong đó có nông nghiệp tái cơ cấu, đổi mới sản xuất gắn với lợi thế cạnh tranh và thị trường toàn cầu hóa. Cạnh đó, điều kiện thuận lợi nhất không chỉ đến từ cắt giảm thuế quan mà còn có điều kiện thực thi chính sách phát triển tại các thị trường, đảm bảo môi trường bình đẳng, lành mạnh mà các quốc gia tham gia hội nhập cùng cam kết thực hiện. Đồng thời, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nâng cao trình độ công nghệ, năng suất lao động, mô hình sản xuất nông nghiệp.

fta mo cua thi truong nong san trong cptpp va evfta
Toàn cảnh Hội nghị

Bức tranh không chỉ có “màu hồng”

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh, trong hội nhập, không phải tất cả đều là bức tranh màu hồng. Cụ thể như: Gia tăng cạnh tranh với hàng nhập khẩu đến từ các nước có lợi thế hơn, trình độ phát triển cao hơn; áp lực cạnh tranh sẽ làm một số ngành có thể bị thu hẹp sản xuất như chăn nuôi lợn, mía đường; nguy cơ nông sản bị trả lại, mất quyền xuất khẩu hoặc gia tăng tần suất kiểm tra do chưa đáp ứng các quy định SPS/TBT tại các thị trường khó tính như Nhật và các nước EU khi sản xuất trong nước chưa được quản lý chặt chẽ vấn đề vệ sinh ATTP;…

Rất nhiều áp lực, thách thức đặt ra cho cộng đồng doanh nghiệp và người nông dân và thành tố trong xã hội. Do đó, đòi hỏi vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, các bộ, ban ngành trong việc xây dựng chính sách và thực thi pháp luật để đảm bảo hiệu quả cho người dân, cộng đồng doanh nghiệp. Đây là mục tiêu xuyên suốt. “Cần hơn thế nữa sự vào cuộc của các địa phương, nhóm ngành hàng để Bộ Công Thương, Bộ NN&PTNT, các bộ, ngành khác có điều kiện tiếp cận để bàn thảo, thảo luận các công việc cần triển khai, trách nhiệm của mỗi bên. Bộ Công Thương sẽ là đầu mối của Chính phủ trong việc kiểm tra đôn đốc thực hiện các FTAs, với tinh thần tương tác 2 chiều, lắng nghe nhiều chiều cả tích cực, tồn tại bất cập, từ đó có giải pháp kịp thời, hiệu quả”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhận định, tổng GDP của thị trường CPTPP và EVFTA là hơn 30% GDP toàn cầu, tổng giao dịch thương mại khoảng 35% thương mại toàn cầu, hết sức lớn. Đây là cơ hội nhưng ngược lại cũng rất nhiều thách thức và rủi ro mà không nỗ lực thì chúng ta sẽ đánh mất cơ hội và mất ngay thị trường sân nhà Việt Nam. “Nói về con cá ngừ đại dương con cá ngừ điển hình của Việt Nam với trọng lượng 337 kg cuối cùng bán được 37 triệu, một con cá ngừ đại dương của Nhật bản 270kg quy về tiền Việt Nam bán được 70 tỉ đồng, đó là đẳng cấp trình độ kinh tế, trình độ kinh tế, nó là tiêu chuẩn, quy chuẩn, cách thức, kỹ năng hội nhập. Chúng ta phải nhận dạng thật rõ, khối lượng nông sản Việt Nam sản xuất hiện nay là quá nhiều nhưng  giá trị quá ít, chuỗi bây giờ phải kết cấu lại và phải đồng bộ, cả của Nhà nước, khu vực doanh nghiệp và toàn dân…”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh.

fta mo cua thi truong nong san trong cptpp va evfta
Đông đảo doanh nghiệp, hiệp hội các Bộ, ngành tham dự Hội nghị

Tại Hội nghị, các hiệp hội, ngành hàng, địa phương đã cùng trao đổi, xác định những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trước ngưỡng cửa hội nhập rộng mở, để từ đó góp phần tích cực vào việc xây dựng các chính sách thiết thực, hiệu quả. Đồng thời, định hướng giải pháp nhằm tận dụng tối đa cơ hội, giảm thiểu thách thức, thúc đẩy xuất khẩu nông sản, phát triển nông nghiệp, nông thôn lên tầm cao mới, cạnh tranh quốc tế.

Các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần phải thay đổi về nhận thức, tư duy trong hội nhập, đồng thời cải cách thể chế và chính sách để tạo thuận lợi thúc đẩy môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư và đảm bảo tuân thủ các cam kết. Trong đó, cách tiếp cận và thực hiện phải hướng tới phát triển bền vững cả về kinh tế – xã hội – môi trường, không đánh đổi về môi trường để lấy kinh tế.

Nguyễn Hạnh – Vũ Cương

FDI 6 tháng: Tăng mạnh dòng vốn góp, mua cổ phần

Mặc dù vốn đăng ký FDI tính đến ngày 20/6/2019 chỉ bằng 90,8% so với cùng kỳ năm 2018 nhưng điều đáng chú ý là dòng góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) lại tăng mạnh, tăng 98,1% so với cùng kỳ năm 2018.

Vốn đăng ký FDI “chững” lại

Theo số liệu mới công bố của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến ngày 20/6/2019, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đạt 18,47 tỷ USD, bằng 90,8% so với cùng kỳ năm 2018. Trước đó, trong báo cáo 5 tháng đầu năm 2019, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 16,74 tỷ USD, tăng 69,1% so với cùng kỳ năm 2018. Như vậy, thu hút FDI trong tháng 6/2019 mới chỉ đạt 1,73 tỷ USD, bằng 16,5% so với tháng 6/2018. Điều này chứng tỏ dòng vốn FDI đang chững lại.

fdi 6 thang tang manh dong von gop mua co phan
Vốn FDI tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo

Cụ thể, trong số 18,47 tỷ USD vốn đăng ký, có 1.723 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký 7,41 tỷ USD, bằng 62,8% so với cùng kỳ năm 2018. Theo lý giải của Cục Đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư đăng ký cấp mới giảm so với cùng kỳ do trong tháng 6/2018 có nhiều dự án lớn được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới như: Dự án Thành phố thông minh tại xã Hải Bối, Đông Anh (Hà Nội) do Nhật Bản đầu tư với tổng vốn đăng ký 4,14 tỷ USD; Dự án Nhà máy sản xuất Poplypropylene và kho ngầm chứa dầu mỏ hóa lỏng do Hàn Quốc đầu tư với tổng vốn đăng ký 1,2 tỷ USD tại Bà Rịa – Vũng Tàu….

Về điều chỉnh vốn, có 628 lượt dự án đăng ký điều chỉnh với tổng vốn đăng ký tăng thêm 2,94 tỷ USD, bằng 66,2% so với cùng kỳ năm 2018.

Một xu hướng đáng chú ý khác ở vốn đăng ký là sự gia tăng mạnh mẽ dòng vốn góp, mua cổ phần của nhà ĐTNN. Báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài cho thấy, trong con số 18,47 tỷ USD vốn đăng ký, có 4.020 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN với tổng giá trị vốn góp 8,12 tỷ USD, tăng 98,1% so với cùng kỳ năm 2018 và chiếm gần 44% tổng vốn đăng ký. Không tính lượt góp vốn 3,85 tỷ USD của nhà đầu tư Hồng Kông thì tổng giá trị vốn góp vẫn tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2018.

Có thể thấy, diễn biến này có xu hướng tăng rất mạnh trong vài năm trở lại đây, như năm 2018 lượng góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN đạt 9,89 tỷ USD, tăng 59,8% so với năm 2017; năm 2017 là 6,19 tỷ USD, tăng 45,1% so với năm 2016.

Ngoài ra, một điểm sáng đáng chú ý trong 6 tháng năm 2019, các dự án FDI đã giải ngân ước tính đạt 9,1 tỷ USD, tăng gần 8% so với cùng kỳ năm 2018.

Hồng Kông tiếp tục dẫn đầu vốn FDI

Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, 6 tháng năm 2019, đã có 95 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Hồng Kông dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 5,3 tỷ USD (trong đó, có 3,85 tỷ USD mua cổ phần vào công ty TNHH Vietnam Beverage tại Hà Nội), chiếm 28,7% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 2,73 tỷ USD, chiếm 14,8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã vươn lên đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,29 tỷ USD, chiếm 12,4% tổng vốn đầu tư.

Trong số 7 dự án FDI “khủng” vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2019 thì các nhà đầu tư Hồng Kông và Trung Quốc đã chiếm 5/7 dự án. Cụ thể: Dự án góp vốn, mua cổ phần của Beerco Limited (Hồng Kông) vào Công ty TNHH Vietnam Beverage, giá trị vốn góp 3,85 tỷ USD với mục tiêu chính sản xuất bia và mạch nha ủ men bia tại Hà Nội.

Dự án chế tạo lốp xe Radian toàn thép ACTR (Trung Quốc), tổng vốn đầu tư đăng ký 280 triệu USD đầu tư tại Tây Ninh với mục tiêu sản xuất lốp xe toàn thép TBR.

Dự án Nhà máy chế tạo thiết bị điện tử, phương tiện thiết bị mạng và các sản phẩm âm thanh đa phương tiện, tổng vốn đầu tư đăng ký 260 triệu USD do Goertek (Hongkong) co., Limited đầu tư tại Bắc Ninh.

Dự án Nhà máy điện mặt trời Hòa Hội tại Phú Yên, tổng vốn đầu tư đăng ký 216,7 triệu USD, do nhà đầu tư Thái Lan đầu tư tại Phú Yên với mục tiêu sản xuất điện mặt trời.

Dự án Công ty TNHH lốp Advance Việt Nam, tổng vốn đầu tư đăng ký 214,4 triệu USD do Guizhou Advance Type Investment co.,ltd (Trung Quốc) đầu tư với mục tiêu sản xuất, tiêu thụ lốp, cao su và các sản phẩm liên quan tại Tiền Giang.

Dự án Vinhtex, tổng vốn đầu tư đăng ký 200 triệu USD do Royal Pagoda Private Limited (Singapore) đầu tư với mục tiêu sản xuất vải và nhuộm vải dệt kim tại Nghệ An.

Dự án Công ty TNHH điện tử Meiko Việt Nam (Hồng Kông) với mục tiêu thiết kế, lắp ráp và sản xuất linh kiện điện tử tại Hà Nội điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 200 triệu USD.

Về lĩnh vực đầu tư, các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng số vốn đạt 13,15 tỷ USD, chiếm 71,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 1,32 tỷ USD, chiếm 7,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Đứng thứ ba là lĩnh vực bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,05 tỷ USD, chiếm 5,7 % tổng vốn đầu tư đăng ký.

Theo địa bàn đầu tư, nhà ĐTNN đã đầu tư vào 55 tỉnh thành phố, trong đó Hà Nội thu hút nhiều vốn nhất với tổng số vốn đăng ký hơn 4,87 tỷ USD, chiếm 26,4% tổng vốn đầu tư. TP.Hồ Chí Minh đứng thứ hai, tiếp sau đó là Bình Dương.

Thu Phương

VBF giữa kỳ 2019: Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh vì sự phát triển nhanh và bền vững

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp (DN) Việt Nam giữa kỳ (VBF) 2019, Phó Thủ tưởng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh phát triển nhanh và bền vững là chủ trương, quan điểm nhất quán và xuyên suốt trong chiến lược phát triển của Việt Nam và DN chính là chủ thể, là lực lượng hiện thực hóa các mục tiêu của Chính phủ…

Với chủ đề “Vai trò của cộng đồng DN (DN) trong phát triển nhanh gắn với bền vững”, VBF giữa kỳ đã diễn ra sáng nay – 26/6, tại Hà Nội. Hơn 500 đại biểu đã tham dự diễn đàn này…

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng

Nâng tầm trách nhiệm của doanh nghiệp

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết, diễn đàn lần này sẽ tập trung vào việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm khơi dậy sức mạnh của khu vực kinh tế tư nhân; thu hút đầu tư theo hướng đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo, có trách nhiệm với cộng đồng và phát triển bền vững. Đó là trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của DN với nhà nước, DN với môi trường, DN với DN, DN với người dân.

“Như vậy, Diễn đàn chúng ta đã nâng lên một tầm cao mới không chỉ đơn thuần phản ánh khó khăn vướng mắc trong hoạt động đầu tư kinh doanh mà còn nâng tầm trách nhiệm của DN với phát triển nhanh và bền vững của quốc gia”, Bộ trưởng phát biểu.

Đánh giá năm 2018 là một năm thành công của nền kinh tế Việt Nam, song Bộ trưởng lưu ý qua 6 tháng đầu năm 2019, bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế đã có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, khó khăn, thách thức đan xen. Kinh tế, thương mại thế giới có dấu hiệu tăng trưởng chậm; xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gia tăng và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt; thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh ngày càng khắc nghiệt.

Nền kinh tế trong nước còn gặp nhiều khó khăn, thách thức nội tại, chưa thể giải quyết triệt để trong ngắn hạn, chất lượng tăng trưởng cải thiện còn chậm, chưa thực sự bền vững; năng suất lao động, năng lực cạnh tranh còn thấp; khu vực kinh tế trong nước chưa tham gia sâu rộng vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như CPTPP, FTA với EU là áp lực lớn đối với yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng, hiệu quả.

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng tại Diễn đàn

Để khắc phục những tồn tại này, Chính phủ Việt Nam kiên định và quyết tâm cải cách, đổi mới toàn diện nền kinh tế theo hướng:

Một là, nâng cao năng lực nội tại, khả năng chống chịu của nền kinh tế; củng cố duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, khơi thông các động lực tăng trưởng; quyết liệt thực hiện các đột phá chiến lược; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và tận dụng có hiệu quả cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ứng dụng kỹ thuật số; hình thành Trung tâm đổi mới sáng tạo để quy tụ nhân tài và kết nối với các trung tâm công nghệ lớn trên thế giới.

Hai là, xây dựng bộ máy kỷ cương, liêm chính, hành động, phục vụ; tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi…

Ba là, đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử; thực hiện nghiêm quy định về đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức. Đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính thực chất, tạo điều kiện tốt hơn, thuận lợi hơn, tiết giảm chi phí và thời gian cho người dân, DN.

Bộ trưởng khẳng định, những đề xuất của cộng đồng DN tại Diễn đàn sẽ đóng góp tích cực cho Chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, phấn đấu sớm đưa Việt Nam vào nhóm các nước dẫn đầu ASEAN, hướng đến tiêu chuẩn của các nước phát triển (OECD) và nâng cao hơn nữa xếp hạng quốc tế của Việt Nam; thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển DN; thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên sử dụng công nghệ mới, thân thiện môi trường, gắn với phát triển các ngành công nghiệp cơ bản.

Hai bàn tay cùng vỗ…

Thay mặt cộng đồng DN Việt Nam, Chủ tịch Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), TS Vũ Tiến Lộc đã đánh giá cao những nỗ lực gần đây của Chính phủ trong việc tạo lập được một môi trường kinh doanh (MTKD) ngày càng thuận lợi hơn cho các DN. “Dù vậy, MTKD trong nước vẫn còn có những điểm nghẽn, cần có thêm nhiều nỗ lực của Chính phủ, các bộ ngành và chính quyền các địa phương…” – Chủ tịch VCCI kiến nghị.

Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc phát biểu tại Diễn đàn

Dẫn kết quả đầu ra PCI năm 2018 cho thấy có 16% DN cho biết phải chờ hơn 1 tháng mới có đủ tất cả các giấy tờ cần thiết khác ngoài giấy chứng nhận đăng ký DN để chính thức đi vào hoạt động, chỉ tiêu này có dấu hiệu gia tăng trong 5 năm trở lại đây. Nhiều DN gặp nhiều khó khăn khi xin cấp các loại giấy phép khác ngoài giấy chứng nhận đăng ký DN để chính thức đi vào hoạt động: 34% DN gặp khó khăn khi xin các giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện, 30% DN gặp khó khăn khi xin giấy chứng nhận phòng cháy chữa cháy, 29% DN gặp khó khăn khi xin cấp giấy chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật hoặc các loại giấy chứng nhận khác… Chủ tịch VCCI kiến nghị, cần đẩy mạnh việc cắt giảm gánh nặng thủ tục “hậu đăng ký” cho DN.

Cùng với đó, cải cách thủ tục hành chính cần tập trung vào một số lĩnh vực trọng tâm như, đất đai (30% DN cho biết còn phiền hà),  thuế (28%) và bảo hiểm xã hội (25%). Với các DN FDI, đó là thủ tục xuất nhập khẩu (28%), bảo hiểm xã hội (26%), thuế (25%) và đăng ký đầu tư (24%), phòng cháy (22%).

Ngoài ra một loạt vấn đề đang gây khó cho DN cũng được người đứng đầu cộng đồng DN kiến nghị tiếp tục được cải thiện như: Cần tăng cường minh bạch thông tin cho DN; Cần có giải pháp phù hợp đối với các DN siêu nhỏ, nhỏ; Tạo thuận lợi hơn cho các DN trong tiếp cận vốn; Sửa đổi Luật lao động theo hướng mở rộng khung giờ làm thêm lên 400 giờ, không sử dụng hệ thống trả công luỹ tiến với thời gian làm thêm của người lao động, tăng lương tối thiểu ở mức hợp lý bảo đảm phù hợp với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu ngày một cao của các DN; Đảm bảo tính ổn định, tin cậy của MTKD; Cải cách hệ thống tư pháp liên quan đến DN để bảo đảm an toàn, an tâm cho kinh doanh. Cải cách hệ thống tư pháp liên quan đến DN để bảo đảm an toàn, an tâm cho kinh doanh; Cần có thông tin hiệu quả hơn tới cộng đồng về các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia, ký kết; Thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới…

“Hành trình của Chính phủ đang rất thành công trong việc chuyển đổi từ cởi trói, tháo gỡ khó khăn sang kiến tạo, dẫn dắt, yểm trợ. Cộng đồng DN Việt Nam cũng đang chuyển từ kêu ca sang hiến kế và chủ động thực hiện các chương trình đổi mới sáng tạo. Chúng ta đang có 2 bàn tay cùng vỗ lên thúc đẩy cho sự phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam…” – Chủ tịch VCCI phát biểu.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng:

Doanh nghiệp chính là chủ thể, là lực lượng hiện thực hóa các mục tiêu của Chính phủ

Phát biểu tại VBF giữa kỳ 2019, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã đánh giá cao chủ đề Diễn đàn và khẳng định DN chính là chủ thể, là lực lượng hiện thực hóa các mục tiêu của Chính phủ.

Theo Phó Thủ tướng: “DN có nguồn lực, ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất, cung cấp đầu vào, đầu ra cho sản phẩm. Nếu DN gắn lợi ích của mình với cộng đồng, chắc chắn sẽ trở thành động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển, mang lại lợi ích cho cả cộng đồng. Thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, đảm bảo bình đẳng giới, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng,… DN đang thực hiện trách nhiệm xã hội của mình vì lợi ích chung cho DN cũng như sự phát triển của xã hội…”

Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của DN trên 3 khía cạnh: kinh tế, pháp lý và đạo đức. Về khía cạnh kinh tế, DN cần cân đối giữa mục tiêu lợi nhuận với đối xử thỏa đáng với người lao động, tạo cơ hội để người lao động phát triển nghề và chuyên môn, thụ hưởng môi trường lao động an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc.

DN cũng cần tận dụng tiến bộ khoa học để phát hiện những nguồn tài nguyên mới, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, phát triển sản phẩm; liên kết mạnh mẽ với khu vực trong nước để cung cấp hàng hoá và dịch vụ đảm bảo chất lượng, an toàn sản phẩm và cạnh tranh lành mạnh.

Về khía cạnh pháp lý, DN phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý đối với các bên liên quan thông qua việc tuân thủ những quy định về cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn, cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai trái. DN không thể tồn tại lâu dài nếu không thực hiện nghiêm túc trách nhiệm pháp lý của mình.

Về khía cạnh đạo đức, mặc dù đây không phải là những ràng buộc pháp lý, nhưng khía cạnh đạo đức của DN lại vô cùng quan trọng với cộng đồng. Đây là những hành vi và hoạt động mà xã hội mong đợi ở DN nhưng không được quy định trong hệ thống luật pháp. Do đó, những gì DN quyết định đúng, cùng chia sẻ lợi ích sẽ được xã hội công nhận, tôn vinh và ngược lại.

Thanh Thanh

Giá vàng đảo chiều giảm nhẹ nhưng vẫn trên 39 triệu đồng/lượng

 Sáng nay (26/6), giá vàng trong nước đã quay đầu giảm nhẹ nhưng vẫn duy trì trên 39 triệu đồng mỗi lượng và theo ghi nhận trên thị trường, lượng khách bán ra đang chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số giao dịch.

Sau khi tăng mạnh, thậm chí có lúc tiến sát ngưỡng 40 triệu đồng/lượng ở phiên trước, sáng nay giá vàng miếng SJC đã hạ nhiệt. Cụ thể lúc 9h sáng nay tại DOJI giá vàng miếng SJC  giao dịch ở mức 39 – 39,4 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm 250.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và 350.000 đồng/lượng ở chiều bán ra so với chốt phiên hôm qua.

Giá vàng đảo chiều giảm nhẹ nhưng vẫn trên 39 triệu đồng/lượng

Giá vàng trong nước liên tục tăng trong những ngày qua nhưng thị trường không có sự xáo trộn. Ảnh minh họa

Tại Bảo Tín Minh Châu,giá vàng SJC giảm 470.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 570.000 đồng/lượng bán ra, giao dịch ở mốc 38,77- 39,07 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra) so với phiên giao dịch chiều qua.

Giá vàng SJC tại Hà Nội được công ty CP SJC Sài Gòn niêm yết giao dịch ở mức 38,85 – 39,12 triệu/lượng tương ứng hai chiều mua bán. Giá giảm 150.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 180.000 đồng/lượng chiều bán ra so với chốt phiên giao dịch chiều qua.

Dù giá vàng trong nước tăng mạnh trong những ngày qua nhưng theo ghi nhận tại một số thương hiệu vàng lớn vẫn không có sự xáo trộn. Tuy nhiên, lượng khách đến giao dịch chủ yếu là bán ra, thay vì mua vào như trước đó.

Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay dao động quanh ngưỡng 1.407 USD/ounce. Còn giá vàng giao tháng 8/2019 tăng 0,5 USD, tương đương 0,04%, lên 1.418,7 USD/ounce.

Trên thị trường các kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 7/2019 giảm 7,7 xu Mỹ (0,5%) xuống còn 15,3 USD/ounce. Trong khi đó, giá bạch kim giao tháng 7/2019 giảm 1,9 USD (0,23%) xuống còn 809,8 USD/ounce khi đóng cửa.

M.N

Giá xăng, dầu (26/6): Thị trường nóng lên

Thị trường dầu thô tiếp tục tăng giá khi lượng dầu tồn kho của Mỹ giảm, kèm theo đó tình hình căng thẳng tại Trung Đông leo thang khiến các nhà đầu tư lo ngại nguồn cung giảm.

Ảnh minh họa. Nguồn: Kinh Tế Đô Thị.

Ảnh minh họa. Nguồn: Kinh Tế Đô Thị.

Giá dầu thế giới

Giá dầu thô Brent tăng 33 cent so với hôm qua, hiện tại ở mức 65,0USD/thùng.

Giá dầu WTI tăng 76 cent so với hôm qua, hiện tại ở mức 58,4 USD/thùng.

Tổng thống Donald Trump ngày 25/6 rằng Mỹ sẵng sàng tấn công Iran nếu nước này tấn công “bất cứ thứ gì liên quan Mỹ”.

OPEC cùng đồng minh được cho là có khả năng cao sẽ gia hạn chính sách hạn chế sản lượng khi họp vào ngày 1 – 2/7.

Các kho dự trữ dầu thô của Mỹ giảm 7,5 triệu thùng trong tuần xuống còn 474,5 triệu. Các kho dự trữ thô tại Cushing, Oklahoma, trung tâm giao hàng giảm 1,3 triệu thùng.

Giá xăng, dầu trong nước

Xăng E5, RON92: 19.233 đồng/lít.

Xăng RON95-III: 20.134 đồng/lít.

Dầu diesel 0.05S: 16.657 đồng/lít.

Dầu hỏa: Không cao hơn 15.611 đồng/lít.

Dầu mazut 180CST 3.5S: 15.115 đồng/kg.

Yến Nguyễn (tổng hợp)

Điểm lại thị trường nông sản Mỹ tuần qua

Trên Sàn giao dịch hàng hóa Chicago (CBOT, Mỹ), giá nông sản bán theo các hợp đồng giao kỳ hạn biến động trái chiều trong tuần giao dịch kết thúc vào ngày 21/6.

Điểm lại thị trường nông sản Mỹ tuần qua. Ảnh: Reuters

Giá đậu tương giao tháng 7/2019 tuần qua tăng 0,66% lên 9,0275 USD/bushel. Giá ngô giao cùng kỳ hạn tuần qua hạ 2,37% xuống 4,4225 USD/bushel. Giá lúa mỳ giao tháng 9/2019 tuần qua giảm 2,12% xuống 5,3075 USD/bushel. (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg, 1 bushel ngô = 25,4 kg)

Giá lúa mỳ giao kỳ hạn tại CBOT tuần qua chịu nhiều sức ép khi xuất hiện lo ngại về nhu cầu xuất khẩu sau khi mặt hàng này gần đây tăng giá đã khiến nguồn cung lúa mỳ Mỹ trở nên quá đắt đỏ đối với thị trường nước ngoài. Giá ngô giao kỳ hạn cũng giảm khi các nhà giao dịch đẩy mạnh hoạt động chốt lời, sau khi có lúc tăng lên mức cao trong 5 tuần trong tuần qua. Thị trường hiện vẫn lo ngại về sản lượng ngô sau khi nước Mỹ trải qua đợt mưa lớn hồi mùa Xuân năm nay.

Giá đậu tương Mỹ giao kỳ hạn hiện vẫn đứng trước sức ép bắt nguồn từ các dự đoán khu vực Midwest của Mỹ hứng chịu nhiều mưa hơn, có thể dẫn đến việc nông dân thu hẹp diện tích gieo trồng.

Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) trong báo cáo mới đây cho biết nước này đã xuất khẩu 38.400 tấn ngô trong tuần kết thúc vào ngày 13/6, giảm 77% so với tuần trước đó và giảm 90% so với mức trung bình 5 năm trước đó.

Trong khi đó, lượng đậu tương xuất khẩu của Mỹ lại tăng đáng kể lên 571.500 tấn, cao hơn 34% so với mức trung bình tại thời điểm này trong năm, theo USDA.

K.Dung (Theo THX)

Doanh nghiệp Việt mở rộng hoạt động kinh doanh tại Séc

Trong những năm gần đây, cộng đồng người Việt Nam được chính quyền sở tại ghi nhận và đánh giá cao với nỗ lực hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế-xã hội tại Cộng hòa Séc.

Các đại biểu cắt băng khai trương Trung tâm thương mại Tam Đa tại Ústí nad Labem. (Ảnh: Hồng Kỳ/Vietnam+)

Các đại biểu cắt băng khai trương Trung tâm thương mại Tam Đa tại Ústí nad Labem. (Ảnh: Hồng Kỳ/Vietnam+)

Trong những năm gần đây, cộng đồng người Việt Nam được chính quyền sở tại ghi nhận và đánh giá cao với nỗ lực hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế-xã hội tại Cộng hòa Séc.

Một trong những yếu tố góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế của cộng đồng là sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp người Việt tại Cộng hòa Séc, góp phần tạo thêm việc làm cũng như giới thiệu hàng hóa Việt Nam tới người bản xứ.

Mới đây, Công ty Tamda Foods – một công ty của người Việt hoạt động trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ các mặt hàng thực phẩm và đồ dùng gia đình đã khai trương Trung tâm thương mại Tamda quy mô lớn với diện tích hơn 20.000m2 tại thành phố Ústí nad Labem thuộc tỉnh Ústecký (miền Bắc Cộng hòa Séc, giáp Cộng hòa Liên bang Đức) để cung cấp hàng hóa, trong đó có hàng Việt Nam tới người dân địa phương và khu vực biên giới với Đức. Đây là điểm kinh doanh thứ ba sau hai trung tâm thương mại lớn tại Praha và Brno.

Phát biểu tại lễ khai trương trước sự hiện diện của lãnh đạo chính quyền và đông đảo người dân Cộng hòa Séc cùng bà con người Việt đang sinh sống tại địa phương, Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Séc Hồ Minh Tuấn nhấn mạnh đây không chỉ là niềm tự hào của doanh nghiệp mà còn là niềm tự hào của cộng đồng người Việt Nam tại Cộng hòa Séc.

Đại sứ hy vọng Trung tâm thương mại Tamda sẽ góp phần tạo việc làm cho người dân sở tại và quảng bá hình ảnh Việt Nam, trong đó có hàng hóa Việt Nam tới người dân địa phương.

Đại sứ cảm ơn Lãnh đạo chính quyền tỉnh Ústecký đã dành sự quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt trong quá trình hội nhập vào xã hội sở tại, góp phần tăng cường sự gắn kết giữa cộng đồng Việt-Séc.

Ông Oldřich Bubeníček, Chủ tịch tỉnh Ústecký, đánh giá cao nỗ lực của cộng đồng người Việt tại Cộng hòa Séc nói chung và tại địa phương nói riêng, trong đó có các doanh nghiệp Việt Nam trong việc góp phần phát triển đời sống kinh tế-xã hội.

[Thứ trưởng Bộ Công Thương làm Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam-Séc]

Ông Oldřich Bubeníček cũng hy vọng Trung tâm thương mại Tamda sẽ góp phần tạo thêm việc làm cho người dân đia phương.

Theo ông Oldřich Bubeníček, với quy mô lớn, đây không chỉ là nơi người dân đến mua hàng mà còn là địa điểm gặp gỡ giao lưu góp phần tăng cường sự gắn kết giữa cộng đồng người Việt và người dân Cộng hòa Séc.

Trong khi đó, ông Petr Nedvedicky, Thị trưởng thành phố Ústí nad Labem, cho rằng việc Trung tâm thương mại Tamda đi vào hoạt động sẽ góp phần tạo thêm việc làm cho người dân địa phương.

Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN, anh Marek Semanik, lái xe của công ty Tamda Foods cho biết: “Tôi làm việc ở đây đã 3 năm và cảm thấy rất thoải mái vì môi trường làm việc tốt, mọi người đều rất thân thiện. Tôi muốn gắn bó với công ty lâu dài. Tôi làm việc bên cạnh người Việt Nam nên tôi muốn nói được nhiều tiếng Việt.”

Anh Nguyễn Quốc Khánh, phụ trách kinh doanh công ty Tamda Foods cho biết: “Hiện tại công ty có trên 20.000 mặt hàng phục vụ nhu cầu của cộng đồng người Việt Nam và người dân Cộng hòa Séc, trong đó mặt hàng Việt Nam chiếm khoảng 10% gồm càphê, chè, gạo, nước mắm, xì dầu, mỳ tôm, bún, phở, hải sản đông lạnh…

Chúng tôi mong muốn số lượng hàng Việt Nam phong phú và đa dạng hơn. Tuy nhiên, Tamda Foods không thể tự làm được mà cần có sự đồng hành của các doanh nghiệp trong nước trong việc cập nhật thông tin về chất lượng và bao bì sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn của EU để có thể nhập khẩu.”

Theo ông Hoàng Đình Toàn, Tổng Giám đốc Công ty Tamda Foods, hiện nay tỷ lệ người Séc làm việc cho công ty khoảng 30%, còn lại là người Việt. Các mặt hàng Việt Nam của công ty không chỉ phân phối tại Cộng hòa Séc mà còn sang các nước châu Âu như Đức, Ba Lan, Hungary.

Ông Hoàng Đình Toàn chia sẻ, công ty sẵn sàng là cầu nối để đưa sản phẩm của Việt Nam đến với cộng đồng người Việt và người dân sở tại ở Cộng hòa Séc nói riêng và châu Âu nói chung./.

Một số hình ảnh về Trung tâm thương mại Tam Đa tại Ústí nad Labem:

Doanh nghiep Viet mo rong hoat dong kinh doanh tai Sec hinh anh 1
Ông Oldřich Bubeníček – Chủ tịch tỉnh Ústecký phát biểu khai trương Trung tâm thương mại Tam Đa tại Ústí nad Labem. (Ảnh: Hồng Kỳ/Vietnam+)
Doanh nghiep Viet mo rong hoat dong kinh doanh tai Sec hinh anh 2
Chủ tịch Liên hiệp Hội người Việt Nam toàn châu Âu Hoàng Đình thắng giới thiệu sản phẩm Việt.
(Ảnh: Hồng Kỳ/Vietnam+)
Doanh nghiep Viet mo rong hoat dong kinh doanh tai Sec hinh anh 3
Khách hàng Séc quan tâm đến hàng hóa Việt Nam.(Ảnh: Hồng Kỳ/Vietnam+)
Hồng Kỳ-Trần Hiếu (TTXVN/Vietnam+)

Giá vàng lập mốc mới

Trong tuần qua, giá vàng thế giới đã phá ngưỡng 1.400 USD/ounce (chốt tuần ở mức 1.402,8 USD/ounce) và có đợt biến động mạnh nhất từ đầu năm đến nay. Đây cũng là mức cao nhất trong vòng 6 năm qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước cũng bị tác động mạnh lên 39 triệu đồng/lượng.

Giá vàng tăng không ngừng nghỉ 
Giá vàng trong nước đã tăng từ 1,25 – 1,3 triệu đồng/lượng trong tuần, như Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn chốt tuần ở mức 38,75 triệu đồng/lượng (mua vào) và 39,02 triệu đồng/lượng (bán ra). Còn tại Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji, giá mua vào là 38,82 triệu đồng/lượng, bán ra 39,02 triệu đồng/lượng. Tổng cộng giá vàng trong nước đã tăng 2,65 triệu đồng kể từ cuối tháng 5/2019, tức khoảng 3 tuần tăng liên tiếp.

Nằm trong bối cảnh trên, tỷ giá USD/VND cũng có hướng điều chỉnh trong hai tuần gần đây. Từ mốc 23.460 đồng đổi 1 USD theo giá bán ra của các ngân hàng thương mại sau đợt tăng mạnh trong tháng 5 đến đầu tháng 6, mức quy đổi đến cuối tuần này chỉ còn quanh 23.350 đồng, tức giảm hơn 100 đồng/USD.

Giá vàng thế giới đã tăng hơn 50 USD/ounce, tương đương mức tăng hơn 4,1% so với tuần trước đó. Theo các công ty vàng, giá vàng tăng khá mạnh là do đồng USD liên tục giảm bởi ảnh hưởng vẫn còn rất mạnh mẽ từ việc Tổng thống Mỹ Donald Trump lại muốn Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) hạ lãi suất. Trong khi đó, nhiều ngân hàng T.Ư trên thế giới bắn tín hiệu có thể giảm lãi suất trong thời gian tới. Cụ thể, Nhật Bản tiếp tục duy trì lãi suất siêu lỏng với lãi suất ngắn hạn ở mức âm 0,1% và lãi suất dài hạn ở mức gần 0% cũng như giữ nguyên chương trình mua tài sản.

Giá vàng thế giới tăng kỷ lục, SJC bất ngờ lao dốc
Bên cạnh đó, bối cảnh địa chính trị bất ổn và xung đột thương mại toàn cầu đã khiến cho vàng trở nên hấp dẫn hơn. Chưa kể một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ… đang tăng mua để tăng dự trữ vàng nhằm giảm sự phụ thuộc vào đồng USD khi chiến tranh thương mại với Mỹ có thể bùng phát. “Nếu giá vàng vượt 1.400 USD/ounce thì hoạt động mua kỹ thuật có thể diễn ra ồ ạt, đưa giá vàng vào một đợt tăng mới” – chuyên gia kinh tế Howei Lee thuộc Ngân hàng OCBC nhận định. Còn Citigroup dự đoán rằng, khả năng giá vàng lên mức 1.500 – 1.600 USD/ounce trong vòng 12 tháng tới. Thực tế, mức 1.402,8 USD/ounce của ngày cuối tuần là giá vàng giao ngay, trong khi hợp đồng vàng tương lai đã lên tới 1.415,40/ounce cho thấy tâm lý kỳ vọng của giới đầu tư vào kim loại quý này.
Nhà đầu tư thận trọng
Diễn biến giá vàng trong vài tuần qua dù bất ngờ nhưng không quá kích thích nhu cầu đầu cơ trong nước. Trái lại đã xuất hiện làn sóng chốt lãi. Các đầu mối kinh doanh khẳng định lượng người dân tham gia giao dịch không tăng đột biến. So với giá vàng thế giới quy đổi, giá vàng miếng trong nước vẫn thấp hơn khoảng 500.000 đồng/lượng.
Theo các chuyên gia, hiện nay nhu cầu đầu cơ không còn sau hàng loạt chính sách siết thị trường vàng của Ngân hàng Nhà nước. Nhu cầu yếu dẫn đến giá vàng trong nước không theo kịp giá vàng thế giới và giá vàng cũng ít biến động hơn. Chuyên gia Bùi Quang Tín cho rằng, giá vàng tăng mạnh thì tất sẽ giảm mạnh nên người dân cần thận trọng với sự biến động bất thường này, hạn chế không nên mua vàng. Đại diện Doji cũng cho hay, giá vàng đang biến động đầy rủi ro, người mua vàng nên cân nhắc.
Theo nhận định của chuyên gia trên thị trường tiền tệ và ngoại hối Mỹ, ông Wayne Gordon, trong dài hạn, một rủi ro đối với thị trường là FED sẽ không tuân thủ theo lộ trình hạ lãi suất. Việc giá vàng thế giới có còn tăng nữa hay không vẫn còn là ẩn số do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như FED giảm lãi suất, căng thẳng tại Trung Đông cũng như thương chiến Mỹ – Trung…
THẢO NGUYÊN

Nâng tầm ngành công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô trong nước

 

Nâng tầm ngành công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô trong nước

Đến nay, cả nước mới chỉ có khoảng 300 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô.

Năng lực sản xuất của ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô Việt Nam còn thấp

Hiện nay, trong nước mới chỉ một vài nhà cung cấp có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô tại Việt Nam. So với Thái Lan, số lượng nhà cung cấp của Việt Nam trong ngành công nghiệp ô tô vẫn còn rất ít. Thái Lan có gần 700 nhà cung cấp cấp 1, nhưng Việt Nam chỉ có chưa đến con số 100. Thái Lan có khoảng 1.700 nhà cung cấp cấp 2, 3, trong khi Việt Nam chỉ có chưa đến 150. Phụ tùng linh kiện ô tô hiện đang sản xuất tại Việt Nam chủ yếu là các phụ tùng thâm dụng lao động, công nghệ giản đơn, như kính, săm…

Để phục vụ lắp ráp trong nước, trong giai đoạn 2010-2016, Việt Nam đã nhập khẩu các loại phụ tùng, linh kiện khác nhau, với tổng giá trị nhâp khẩu bình quân mỗi năm khoảng 2 tỷ USD, chủ yếu từ Nhật Bản (23%), Trung Quốc (23%), Hàn Quốc (16%) và Thái Lan (16%). Mặc dù chưa phát triển, nhưng xuất khẩu phụ tùng linh kiện ô tô của Việt Nam thời gian gần đây cũng đạt được mức tăng trưởng bình quân 18% giai đoạn 2010-2016. Giá trị xuất khẩu đã tăng từ 0,7 tỷ USD năm 2010 lên 3,5 tỷ USD năm 2016. Phụ tùng xuất khẩu chủ yếu là cụm dây diện (HS8544), chiếm trên 50% và thị trường chủ yếu là Nhật Bản (50%) và Hoa Kỳ (13%). Phụ tùng xuất khẩu lớn thứ hai là linh kiện hộp số (HS870840) chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu phụ tùng, linh kiện ô tô, và điểm đến chủ yếu là Nhật Bản, Mexico, và Trung Quốc.

Các chủng loại xe tải, xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng sản xuất trong nước đã đạt tỷ lệ nội địa hóa cao, đạt mục tiêu đề ra đáp ứng về cơ bản thị trường nội địa (xe tải đến 07 tấn đáp ứng khoảng 70% nhu cầu, với tỷ lệ nội địa hóa trung bình 55%; xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng đáp ứng khoảng 90% nhu cầu, với tỷ lệ nội địa hóa đạt từ 20% đến 50%). Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hoá đối với xe cá nhân dưới 9 chỗ ngồi còn thấp (mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2005, 60% vào năm 2010, tuy nhiên đến nay mới đạt bình quân khoảng 7-10%).

Sau gần 20 xây dựng và phát triển, đến nay, công nghiệp hỗ trợ cho ngành ô tô Việt Nam vẫn còn kém phát triển cả về số lượng, năng lực, số lượng chủng loại và chất lượng sản phẩm… Các dựa vào nhập khẩu.

Theo Bộ Công Thương, tính đến nay, cả nước mới chỉ có khoảng 300 doanh nghiệp (DN) công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô. Bình quân mỗi DN lắp ráp ô tô tại Việt Nam có 2 nhà sản xuất linh kiện phụ trợ cho mình. Hơn 90% các DN cung cấp linh kiện ô tô tại Việt Nam là các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Trong khi, mới chỉ có một số DN trong nước tham gia vào mạng lưới cung ứng cho sản xuất, lắp ráp ô tô. Trong khi để làm ra một chiếc ô tô, phải cần từ 30.000 – 40.000 chi tiết, linh kiện.

Thực tế trên cho thấy, năng lực sản xuất của ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô Việt Nam còn nhiều hạn chế, thể hiện rõ qua 3 yếu tố chính đó là vốn, công nghệ, và kinh nghiệm. Kết quả là chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng sản phẩm, giá và tiến độ giao hàng. Hơn nữa, Việt Nam chưa có đầy đủ hạ tầng cần thiết để phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô, từ đó, gây trở ngại cho các nhà sản xuất sản phẩm hỗ trợ toàn cầu muốn đầu tư hoặc liên kết đầu tư. Các yếu tố khác bất lợi cho công nghiệp hỗ trợ ô tô Việt Nam là tình trạng thiếu nguyên liệu, công nghệ khuôn mẫu kém phát triển…

“Tăng tốc” cho công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô

Trước thực trạng năng lực sản xuất của ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô Việt Nam còn thấp, để thúc đẩy các DN công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô phát triển vững chắc, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp, cụ thể:

Thứ nhất, cải thiện cơ sở hạ tầng. Việc cải thiện cơ sở hạ tầng bao gồm việc mở rộng hệ thống đường giao thông, xây dựng các điểm đỗ xe, quy hoạch lại giao thông nhất là ở các thành phố lớn.

Thứ hai, có chính sách nhất quán, rõ ràng đối với thị trường ô tô. Hiện nay, mặc dù có nhiều cơ quan nhà nước cùng tham gia hoạch định chính sách cho ngành ô tô Việt Nam, nhưng các cơ quan này thường trong tình trạng mâu thuẫn về phương hướng phát triển. Chính phủ cần thể hiện quyết tâm phát triển thị trường để phát triển công nghiệp ô tô, theo đó các cơ quan nhà nước phải thực hiện theo đúng chủ trương đó. Sự mâu thuẫn giữa các cơ quan nhà nước ảnh hưởng tiêu cực đến ngành ô tô, các chính sách thường mang tính cục bộ dựa trên quan điểm của cơ quan ban hành. Cần có một cơ quan thống nhất để phát triển ngành ô tô.

Thứ ba, điều chỉnh các chính sách về thuế và phí để giúp các DN giảm chi phí, dẫn đến giảm giá xe, người dân có nhiều cơ hội để sở hữu ô tô. Song song với chính sách mở rộng phát triển cần có những chính sách bảo vệ thị trường trước sự phát triển nhanh chóng của xe nhập khẩu. Cần kiểm soát chặt chẽ hơn đối với việc quản lý xe nhập khẩu, nhất là hạn chế gian lận thương mại. Tăng cường nghiệp vụ cho cơ quan hải quan trong việc định giá xe ô tô nhập khẩu. Đối với xe cũ nhập khẩu xây dựng những quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật, đồng thời rà soát lại biểu thuế nhập khẩu xe cũ…

Theo thống kê các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ô tô có khoảng 30.000 danh mục với các yêu cầu khác nhau về kỹ thuật sản xuất và công nghệ. Vì vậy, cần xây dựng danh mục các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ô tô, từ đó, giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các công ty có sự nhìn nhận rõ ràng về công nghiệp hỗ trợ ô tô, khắc phục được nhận thức mơ hồ về công nghiệp hỗ trợ như đồng nhất việc phát triển công nghiệp hỗ trợ với nâng cao tỷ lệ nội địa. Việc xây dựng danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ bao gồm cả việc đánh giá mức độ công nghệ hay hàm lượng kỹ thuật trong sản phẩm để từ đó có thể định vị Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu đối với quá trình sản xuất ô tô.

Bên cạnh đó, hỗ trợ việc nghiên cứu ứng dụng sản phẩm, thành lập các trung tâm nghiên cứu ứng dụng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ô tô. Các trung tâm này có thể do nhà nước đầu tư có sự liên kết chặt chẽ với các công ty lắp ráp và các nhà cung cấp hàng đầu thế giới, hoặc do các công ty đầu tư với sự trợ giúp của Chính phủ. Kinh nghiệm của Thái Lan trong việc thành lập các trung tâm nghiên cứu từ nguồn vốn ngân sách hoặc hỗ trợ DN dựa trên chi phí đầu tư vào nghiên cứu, phát triển có thể hữu ích cho Việt Nam. Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế làm căn cứ cho việc định hướng phát triển. Việc này một mặt nhằm tăng khả năng công nghệ cho ngành công nghiệp hỗ trợ, tạo tiền đề để xúc tiến xuất khẩu, còn nhằm ngăn chặn nguy cơ xuất hiện các sản phẩm kém chất lượng ảnh hưởng tới sự phát triển.

Khánh Chi

Đồng minh bỏ đồng USD, bán tháo trái phiếu kho bạc Mỹ

Một xu hướng bất ngờ xảy ra là việc ngay cả những đồng minh của Mỹ cũng muốn thoát khỏi đồng USD và gia tăng bán trái phiếu kho bạc Mỹ.

Bài viết trên trang web của Sputnik cho biết, tỷ lệ đồng USD trong kho dự trữ ngoại tệ toàn cầu đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu thế kỷ. Tổng lượng trái phiếu Mỹ trong bảng cân đối của các ngân hàng trung ương trên thế giới đang là thấp nhất trong lịch sử.

Dong minh bo dong USD, ban thao trai phieu kho bac My

Vào tháng 4, chính Vương quốc Anh – đồng minh thân cận nhất của Hoa Kỳ – đã lọt vào danh sách các quốc gia bán ra trái phiếu kho bạc Mỹ với số lượng lớn kỷ lục. Đây là điều khiến nhiều người khó hiểu. Vậy tại sao thế giới lại đang thoát khỏi đồng bạc xanh?

Dự trữ dollars xuống đến mức tối thiểu

Báo cáo tháng 6 năm nay của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) ghi nhận rằng, đồng dollars vẫn là đồng tiền dự trữ của thế giới, nhưng, vị thế thống trị của đồng USD bị lung lay đáng kể.

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, khi tỷ lệ đồng USD trong các ngân hàng trung ương đã tăng tối đa, bây giờ tỷ lệ đồng tiền của Mỹ đã giảm đáng kể. Trong năm 2018, tỷ lệ đồng USD chiếm trong kho dự trữ ngoại tệ toàn cầu đã xuống còn 61,7%, mức thấp nhất trong vòng 20 năm qua.

Năm 2018, các nước đang phát triển đã bán đô la Mỹ rất tích cực. Argentina, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ đã thoát khỏi trái phiếu kho báu Mỹ gần 200 tỷ USD. Trong khi một số nước cần đến tiền mặt để ổn định tiền tệ của chính họ, thì những nước khác thoát khỏi tài sản của Hoa Kỳ vì có mâu thuẫn với Washington.

“Mục tiêu của nhiều quốc gia là giảm sự phụ thuộc vào đồng đô la để đối phó với các lệnh trừng phạt của Mỹ” – tờ báo hàng đầu Thổ Nhĩ Kỳ Sabah viết và nhấn mạnh, ở Thổ Nhĩ Kỳ, lượng trái phiếu kho bạc Mỹ đã giảm xuống mức thấp kỷ lục. Hầu hết mọi thứ đã được bán hết.

Dong minh bo dong USD, ban thao trai phieu kho bac My
Nhiều nước, trong đó có đồng minh của Mỹ, đã giảm dự trữ USD, tăng mua vàng

Và gần đây đã xuất hiện một xu hướng mới về cơ bản: Các nước phát triển, bao gồm các đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ, cũng bắt đầu cắt giảm lượng nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ. Ví dụ, Vương quốc Anh vào tháng 4 đã cắt giảm lượng trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ ngay lập tức xuống còn 16,3 tỷ USD.

Còn Trung Quốc – chủ nợ nước ngoài lớn nhất của nước Mỹ (nắm giữ 1,1 nghìn tỷ USD nợ) – hiện đang ở vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực này. Trong điều kiện cuộc chiến thương mại, Bắc Kinh đã thoát khỏi trái phiếu kho bạc 60 tỷ USD trong 1 năm 2018, vào tháng 4 vừa qua đã bán thêm 20 tỷ USD, cắt giảm lượng trái phiếu xuống mức tối thiểu hai năm.

Nhật Bản – chủ nợ lớn thứ hai của Hoa Kỳ – cũng làm theo gương của Bắc Kinh. Vào tháng 4, Tokyo đã bán 11,07 tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ.

Một số người bày tỏ sự lo ngại rằng, để đáp trả các đòn trừng phạt trong Chiến tranh thương mại Trung-Mỹ, Bắc Kinh có thể ra khỏi danh sách các chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Tuy nhiên, các nhà phân tích và chuyên gia tài chính cho rằng, kịch bản này là không thể. Sự mất giá mạnh của trái phiếu không thể tránh khỏi trong trường hợp này, sẽ làm cho Trung Quốc bị thiệt hại nhiều hơn Mỹ và toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung.

Bloomberg chỉ ra rằng, Bắc Kinh bất cứ lúc nào cũng có thể giảm đầu tư vài chục tỷ USD vào trái phiếu kho bạc Mỹ để giúp cho đồng Nhân dân tệ. Nhà phân tích Gene Tannuzzo, thuộc Columbia Threadneedle Investment, nói với Bloomberg rằng, nếu dòng chảy vốn gia tăng, Bắc Kinh sẽ phải bảo vệ đồng Nhân dân tệ và bán trái phiếu kho bạc Mỹ.

Xu hướng thoát dollars, tăng mua vàng trên phạm vi toàn cầu

Nga được coi là một trong những nước bán trái phiếu Mỹ tích cực nhất. Trong năm 2010, lượng trái phiếu chính phủ Mỹ trong Ngân hàng Trung ương Nga đã vượt quá 176 tỷ USD. Kể từ năm 2014, khi Washington bắt đầu gia tăng áp lực đối với Moscow, Ngân hàng Trung ương Nga bắt đầu giảm lượng trái phiếu kho bạc Mỹ, và đến đầu năm 2019 khoản nắm giữ tụt xuống chỉ còn 14 tỷ USD.

Theo dữ liệu của Kho bạc Hoa Kỳ, vào tháng 4, Nga đã bán trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ trị giá 1,6 tỷ USD. Bây giờ lượng trái phiếu chính phủ Mỹ do Ngân hàng Trung ương Nga nắm giữ chỉ là 12,13 tỷ USD – lượng nhỏ nhất kể từ năm 2007.

Báo cáo gần đây của Ngân hàng Trung ương châu Âu cho biết, hầu như tất cả số tiền thu được từ việc bán đồng USD, Ngân hàng Nga đã chi cho việc mua các trái phiếu bằng Euro và Nhân dân tệ. Tỷ lệ đồng Euro trong dự trữ ngoại hối của Nga đã tăng lên 39%, tỷ lệ đồng USD xuống còn 27% và tỷ lệ đồng nhân dân tệ tăng vọt lên 17%.

Theo: Quan hệ quốc tế – Đất Việt

Giá vàng hôm nay 21/6: Tăng đều ở 2 chiều mua vào bán ra

 Sáng nay, các công ty vàng ở Hà Nội và TP HCM niêm yết giá mua vào bán ra đều tăng.

Tại thị trường Hà Nội, giá vàng hôm nay 21/6 của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết 38,18 – 38,45 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra) tăng 180.000 đồng và 30.000 đồng (mua vào – bán ra) so với hôm qua.
Trong khi đó, Doji niêm yết giá vàng hôm nay 38,15- 38,45 triệu đồng/lượng, cả 2 chiều mua vào bán ra tăng 150.000 đồng so với phiên trước.
Gia vang hom nay 21/6: Tang deu o 2 chieu mua vao ban ra
 Giá vàng hôm nay tiếp tục tăng
Còn vàng SJC của Tập đoàn Phú Quý đang niêm yết 38,15 – 38,38 triệu đồng/lượng, cũng tăng hơn 100.000 đồng cả 2 chiều so với hôm qua.
Vàng PNJ niêm yết ở mức 38,07 – 38,87 triệu đồng/lượng, tăng 120.000 đồng ở cả 2 chiều.
Bảo Tín Minh Châu với thương hiệu vàng Rồng Thăng Long đang mua vào bán ran ở 38,14 – 38,59 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay 21/6 tại thị trường TP HCM được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết ở mức 38,18 – 38,43 triệu đồng/lượng, tăng 180.000 đồng ở chiều mua vào và 30.000 đồng chiều bán ra so với phiên giao dịch liền trước.
PV

Mặc giá vàng thế giới lên đỉnh 14 tháng, vàng SJC vẫn “lặng sóng”

Giá vàng trong nước sáng nay không có nhiều biến động, bất chấp trên thị trường thế giới giá kim loại quý này vừa có phiên lên đỉnh 14 tháng qua.

Mặc giá vàng thế giới lên đỉnh 14 tháng, vàng SJC vẫn “lặng sóng”

Ảnh minh họa.

Khảo sát lúc 11h10 sáng nay (19/6), giá vàng miếng SJC tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đang ở ngưỡng 37,45 – 37,65 triệu đồng/lượng, tăng nhẹ 50 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với giá khảo sát sáng qua.
Chênh lệch giá mua vào – bán ra vẫn ở mức 200 nghìn đồng/lượng.
Trong khi đó, tại Tập đoàn Doji, giá vàng cũng chỉ tăng 10 nghìn đồng/lượng ở mỗi chiều, hiện đang ở mức 37,43 – 37,58 triệu đồng/lượng.
Đây là phiên tăng thứ 5 trong 6 phiên gần đây của kim loại quý.
Biểu đồ: Kitco
Cùng thời điểm, giá vàng giao ngay trên sàn Kitco đang giao dịch ở mức 1.344,6 USD/ounce, giảm 1,3 USD, tương đương 0,1% so với chốt phiên trước.
Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank sáng nay, hiện giá vàng thế giới khoảng 37,86 triệu đồng/lượng, cao hơn giá vàng trong nước 0,41 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, kết thúc phiên giao dịch đêm qua (giờ Việt Nam), giá vàng giao kỳ hạn lên mức cao nhất trong 14 tháng khi những tuyên bố mới nhất từ Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), ông Draghi khẳng định rằng ECB có thể sớm đưa ra gói kích thích kinh tế trong buổi họp chính sách tiếp theo vào tháng 7/2019
Tuyên bố này được nhìn nhận như đặt nền móng cho việc hạ lãi suất cơ bản.
Theo đó, trên thị trường New York, giá vàng giao kỳ hạn tháng 8/2019 tăng 7,80 USD/ounce tương đương 0,6% lên 1.350,70 USD/ounce – mức đóng cửa cao nhất của giá vàng tính từ ngày 18/4/2018, theo FactSet.

LINH LINH