gioithieu
Trang chủ Tin tức

Tin tức

Colombia – thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh

Trong những năm gần đây, Colombia trở thành một trong những thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh.

Colombia – thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh

Ba năm gần đây, nền kinh tế tại khu vực nay đối mặt với những khó khăn do khủng hoảng nên kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Columbia cũng biến động.
Nếu như năm 2016 kim ngạch chỉ đạt 325,09 triệu USD, giảm 6% so với năm 2015, thì sang năm 2017 đã tăng trưởng trở lại với mức 43,39% so với năm 2016 đạt 133,15 triệu USD. Nhưng năm 2018 tốc độ xuất khẩu sang thị trường này sụt giảm 18,45% so với 2017 chỉ đạt 380,13 triệu USD.
Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Columbia các mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện, thủy sản và xơ sợi dệt trong đó điện thoại và linh kiện chiếm thị phần lớn 35,49%, đứng thứ hai là hàng thủy sản chiếm 17,1% và xơ sợi dệt 11,69%.
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang Columbia năm 2018
Mặt hàngNăm 2018+/- so với năm 2017 (%)
Lượng (Tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Tổng380.137.600 -18,45
Hàng thủy sản 65.016.811 16,74
Xơ, sợi dệt các loại16.07544.471.79831,8245,66
Điện thoại các loại và linh kiện 134.929.742 -51,95
Nguồn: TCHQ
Với khoảng cách và vị trí địa lý xa nên thời gian vận chuyển lâu, cước phí đắt, cộng với bảo hộ mậu dịch, trở ngại về ngôn ngữ… đến nay vẫn là những rào cản lớn khiến cho hàng Việt xuất khẩu vào thị trường đầy tiềm năng như Mỹ Latinh chưa tạo bước đột phá như mong đợi.
2 tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam Columbia giảm khá nhiều tới 34% so với cùng kỳ, chỉ đạt 49,44 triệu USD, nếu tính riêng tháng 2/2019 cũng giảm 31,21% so với tháng 1/2019 và giảm 23,76% so với tháng 2/2018 xuống 20,2 triệu USD.
Cơ cấu hàng hóa của Việt Nam xuất sang Columbia còn hạn chế, trong đó điện thoại các loại và linh kiện đạt kim ngạch cao nhất 16,69 triệu USD, chiếm 33,75% tỷ trọng, nhưng so với cùng kỳ giảm trên 60%, kế đến là hàng thủy sản giảm 32,36% chỉ đạt 8 triệu USD và xơ sợi dệt các loại đạt 4,7 triệu USD tăng 27,32% so với cùng kỳ
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Columbia 2 tháng đầu năm 2019
Mặt hàng2T/2019+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
Lượng (Tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Tổng49.444.964 -33,68
Điện thoại các loại và linh kiện 16.692.064 -60,01
Hàng thủy sản 8.007.300 -32,36
Xơ, sợi dệt các loại1.7754.707.47639,6527,32
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
Giới chuyên gia cho rằng, việc phát triển mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực Mỹ Latinh sẽ góp phần giảm tải cho các thị trường truyền thống. Nhờ đó, các doanh nghiệp có thể đa dạng hóa thị trường, thêm đối tác bạn hàng, mở rộng khả năng giao dịch về giá cả, nguồn hàng.
Điều này sẽ góp phần giảm bớt rủi ro cho doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu không ngừng biến động. Mặt khác, Việt Nam có thể tranh thủ Mỹ Latinh với vai trò là nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu quan trọng của thế giới nhằm phục vụ cho sản xuất hàng hoá trong nước để xuất khẩu.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải để thị trường Mỹ Latinh xích lại gần hơn với các doanh nghiệp Việt cần có những định hướng đúng cho doanh nghiệp có chiến lược tiếp cận thị trường này bài bản và thuận lợi hơn.

Giá dầu 21/3: Giá dầu tiếp tục tăng mạnh khi lượng dầu thô tồn kho của Mỹ sụt giảm

Giá dầu thế giới tiếp tục tăng mạnh khi thị trường đón nhận thông tin lượng dầu thô tồn kho của Mỹ sụt giảm mạnh nhất kể từ tháng 7.

Chốt phiên giao dịch vừa qua, dầu thô Tây Texas WTI kỳ hạn tăng 80 US cent tương đương 1,36% lên 59,83 USD/thùng, trong phiên có lúc đạt 60,12 USD/thùng, cao nhất kể từ ngày 12/11/2018. Và giá dầu thô Brent kỳ hạn tăng 89 US cent tương đương 1,32% lên 68,5 USD/thùng. Như vậy, giá dầu thô đã tăng gần 1/3 trong năm nay, được thúc đẩy bởi OPEC+ cắt giảm nguồn cung và các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với các nhà xuất khẩu dầu Iran và Venezuela.

Cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang 4 thị trường châu Mỹ  trong CPTPP

Giá dầu tăng trong phiên này sau khi Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ cho biết lượng dầu thô dự trữ của nước này đã bất ngờ giảm mạnh do xuất khẩu và nhu cầu lọc dầu khá cao. Cụ thể, lượng dầu dự trữ giảm 9,6 triệu thùng trong tuần trước, trái ngược dự đoán tăng 309.000 thùng mà giới phân tích đưa ra trước đó. Đây là mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 7 năm ngoái, đưa lượng dầu dự trữ của Mỹ xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1. Bên cạnh đó, lượng xăng và các sản phẩm chưng cất dự trữ cũng giảm nhiều hơn dự đoán.

Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng (EIA) thuộc Bộ Năng lượng Mỹ cho biết tồn kho xăng cả nước này trong tuần kết thúc vào ngày 15/3 giảm 4,6 triệu thùng, cao gần gấp đôi mức dự báo giảm mà giới phân tích đưa ra. Dự trữ dầu diesel và dầu sưởi giảm 4,1 triệu thùng, một mức giảm lớn gấp 4 lần dự báo.

Lan Anh (TH)

TKV và EVN bàn giải pháp cung ứng than cho điện

TKV đã có kế hoạch nhập khẩu than để pha trộn nhằm cung cấp cho EVN đủ khối lượng than còn thiếu hụt.

Tại buổi làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về việc cung cấp than cho các nhà máy điện của EVN năm 2019 mới đây, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, Tập đoàn đảm bảo cung cấp than cho sản xuất điện, không để xảy ra dừng lò do thiếu than. TKV đẩy mạnh sản xuất tối đa sản lượng, 2 tháng đầu năm, than sạch đạt 5,961 triệu tấn, tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái.

Bên cạnh đó, TKV huy động tối đa tồn kho và tổ chức cung cấp than kịp thời, đảm bảo cho các nhà máy nhiệt điện duy trì hoạt động.
Đa số các nhà máy nhiệt điện đều được huy động tối đa công suất, nhu cầu sử dụng than tăng cao vào cùng một thời điểm là nguyên nhân gây khó khăn cho TKV trong việc tổ chức sản xuất, chế biến và huy động nguồn than.
Ngoài ra, trước thực tế nhu cầu than cho các nhà máy nhiệt điện, TKV đã có kế hoạch nhập khẩu than để pha trộn nhằm cung cấp cho EVN đủ khối lượng than còn thiếu hụt. Tuy nhiên, TKV có một số vấn đề còn vướng mắc trong việc thực hiện cung cấp than cho EVN về giá than pha trộn, hay chưa ký được hợp đồng than dài hạn.
TKV đề xuất EVN các nội dung: điều tiết hợp lý việc huy động các nhà máy thủy điện, điện khí và các nhà máy nhiệt điện sử dụng than để giảm áp lực đối với việc cung cấp than của TKV; tăng giá than cho sản xuất điện; thống nhất về giá cho cả than sản xuất trong nước và than nhập khẩu pha trộn; thống nhất về khối lượng than pha trộn cung cấp cho EVN…
Hai bên sẽ cùng làm việc lại trong quý II/2019 để thống nhất một số vấn đề về hợp đồng cung cấp than dài hạn, giá cho cả than sản xuất trong nước và than nhập khẩu pha trộn…
Mai Phương

Thủy sản Việt Nam nỗ lực hiện thực hóa những lợi ích từ CPTPP

Ngày 21/3, tại thành phố Toronto (Canada), Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức hội thảo về thương mại thủy sản Việt Nam nhằm thực hóa những lợi ích từ CPTPP.

Thuy san Viet Nam no luc hien thuc hoa nhung loi ich tu CPTPP hinh anh 1
Chế biến cá tra xuất khẩu. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Theo phóng viên TTXVN tại Canada, ngày 21/3, tại thành phố Toronto, Bộ Công Thương đã chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổ chức hội thảo về thương mại thủy sản Việt Nam.

Theo thống kê, trong năm 2018, Canada đã xuất khẩu sang Việt Nam một lượng hàng hóa trị giá 1,02 tỷ CAD, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam lên tới 5,38 tỷ CAD. Kể từ ngày 14/1/2019, 100% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Canada được hưởng thuế suất 0%. Số liệu của Bộ Công Thương cho thấy Canada hiện tiêu thụ 240 triệu USD hàng thủy sản từ Việt Nam.

Phát biểu tại hội thảo, bà Jessica Yang, đại diện Cơ quan kiểm định thực phẩm Canada đã nhấn mạnh về yêu cầu truy xuất nguồn gốc thực phẩm nhập khẩu, trong đó có thủy sản, theo luật an toàn thực phẩm mới của Canada. Đáng chú ý, hải sản cũng là lĩnh vực được các doanh nghiệp xuất khẩu Canada đánh giá là có nhiều cơ hội tại thị trường Việt Nam.

Ông Nguyễn Hồng Dương, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu – châu Mỹ, Bộ Công Thương nhận định: “Tổng thể quan hệ Việt Nam – Canada nói chung, cũng như quan hệ kinh tế – thương mại giữa hai nước nói riêng, trong thời gian qua đã phát triển rất tích cực. Với Việt Nam, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) tạo cơ hội mới để hai bên thúc đẩy quan hệ song phương lên tầm cao mới.

Đây là giai đoạn các cơ quan quản lý phải nắm bắt được thời cơ để có những hỗ trợ, nói một cách đơn giản là “dắt tay” doanh nghiệp, cùng với doanh nghiệp đi vào cuộc chơi hiện thực hoá những lợi thế trong CPTPP.”

[Mexico đánh giá Việt Nam là thị trường tiềm năng trong CPTPP]

Ông Dương cho biết, các nhà quản lý của Canada cũng có những suy nghĩ rất tương đồng với các cơ quan quản lý của Việt Nam, và đây là điểm thuận lợi trong tiến trình hiện thực hoá những lợi ích mà môi trường kinh doanh mới (hiệp định CPTPP) mang lại.

Để hỗ trợ người dân Canada hưởng lợi từ các thỏa thuận thương mại và tiếp cận các thị trường mới, Chính phủ Canada đang đầu tư 1,1 tỷ CAD vào các chương trình và dịch vụ như: cung cấp nguồn lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để hỗ trợ các doanh nghiệp này khai thác các cơ hội xuất khẩu mới; tăng cường dịch vụ thương mại dành cho các nhà xuất khẩu Canada; hỗ trợ các sáng kiến giúp nâng cao giá trị gia tăng và phát triển doanh nghiệp./.

(TTXVN/Vietnam+)

Giá dầu tăng mạnh lên sát 60USD/thùng

Trong phiên đã có lúc giá dầu vượt 60USD/thùng khi các cam kết giảm sản lượng tiếp tục được giữ vững.

Giá dầu tăng mạnh lên sát 60USD/thùng

Ảnh: GettyImages

Phiên giao dịch ngày thứ Tư, giá dầu thô giao kỳ hạn tăng và đóng cửa ở mức cao nhất trong 4 tháng sau khi số liệu từ chính phủ Mỹ cho thấy dự trữ dầu thô nội địa Mỹ giảm gần 10 triệu thùng trong tuần qua, cùng lúc đó dự trữ xăng và các sản phẩm năng lượng khác đồng loạt giảm.
Tính từ đầu tuần đến nay, giá dầu vốn đã tăng nhờ kỳ vọng rằng Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và các nước đồng minh sẽ vẫn tiếp tục hỗ trợ cho thỏa thuận giảm sản lượng, ít nhất cho đến tháng 6/2019.
Toàn bộ thị trường, tuy nhiên lại tập trung sự chú ý vào Fed. Fed sẽ kết thúc buổi họp chính sách kéo dài 2 ngày vào ngày thứ Tư. Ngân hàng Trung ương phát đi tín hiệu rằng sẽ không tiếp tục nâng lãi suất trong năm nay và chỉ một lần nâng lãi suất trong năm 2020.
Chỉ số đồng USD, chỉ số đo biến động của đồng USD so với một số loại tiền tệ lớn khác, giảm sau tuyên bố trên. Như vậy giá dầu được định giá bằng đồng USD nhận được cú huých quan trọng.
Trưởng bộ phận chiến lược cao cấp tại U.S Bank Wealth Management, ông Rob Harworth, chỉ ra thị trường đã loại bỏ đi bất kỳ nỗi lo lắng nào về khả năng Fed hạ dự báo tăng trưởng kinh tế và tập trung vào quan điểm mềm mỏng. Khả năng Fed nâng lãi suất sẽ không xảy ra cho đến năm sau, cũng như Fed sẽ ngừng chính sách thắt chặt định lượng vào tháng 9/2019.
Thị trường New York, giá dầu thô ngọt nhẹ giao kỳ hạn tháng 4/2019 tăng 80 cent tương đương 1,4% lên 59,83USD/thùng.
Trong phiên đã có lúc giá dầu chạm mức 60,12USD/thùng. Mức giá dầu chốt ngày giao dịch như vậy cao nhất tính từ tháng 11/2018. Giá dầu thô WTI giao kỳ hạn tháng 5/2019 đóng cửa ở mức 60,23USD/thùng, tức mức tăng 1,6%.
Thị trường London, giá dầu Brent tăng 89 cent tương đương 1,3% lên 68,50USD/thùng. Giá dầu giao kỳ hạn gần nhất đóng cửa ở mức cao nhất tính từ tháng 11/2018.
Nguồn cung xăng giảm 4,6 triệu thùng trong tuần trước, theo EIA.

TRUNG MẾN

Bước đột phá của Vinatex

Thông qua đầu tư thiết bị tự động, phần mềm quản trị trên tất cả các khâu sản xuất, kinh doanh, một số doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã tạo bước nhảy vọt về năng suất, giảm mối lo thiếu lao động.

Tổng công ty CP May 10 (May 10) – một trong những đơn vị điển hình của Vinatex trong ứng dụng công nghệ hiện đại. Theo ông Thân Đức Việt – Phó Tổng giám đốc May 10 – ứng dụng công nghệ là giải pháp ưu tiên của doanh nghiệp trong năm 2019 nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Đây cũng là giải pháp gỡ khó hữu hiệu cho tình trạng giá nhân công và giá điện tăng. Trước đó, vào cuối năm 2018, May 10 đã nhập khẩu những thiết bị sản xuất tự động ở một số công đoạn cho sản phẩm áo sơ mi như may cổ, dán túi, khép tay. Trước kia, với dây chuyền nước chảy hoặc dây chuyền cụm, công ty cần từ 3-5 lao động cho công đoạn này nhưng với hệ thống thiết bị mới, lao động giảm một nửa, năng suất tăng gấp đôi. Ngoài ra, May 10 cũng triển khai hệ thống phần mềm quản trị doanh nghiệp trên tất cả các khâu sản xuất, kinh doanh nhằm mục tiêu đạt chất lượng tốt nhất, năng suất cao nhất. Đến nay, May 10 đã có 1 hệ thống cơ sở dữ liệu rất lớn.

buoc dot pha cua vinatex
Đầu tư vào công nghệ – hướng đi đúng của doanh nghiệp dệt may

Cùng với May 10, hàng loạt doanh nghiệp thành viên khác của Vinatex như: Tổng công ty CP Dệt may Hòa Thọ, Tổng công ty CP May Việt Tiến, Tổng công ty CP May Nhà Bè… đã chủ động ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất. Theo ông Lê Tiến Trường – Tổng giám đốc Vinatex – nếu không nhanh chóng chuyển đổi, tập đoàn đã không đạt tốc độ tăng trưởng tốt trong những năm gần đây. Ngay từ năm 2014, tập đoàn đã đi theo hướng sử dụng ít lao động bằng cách tăng đầu tư chiều sâu, tự động hóa. Và từ đó, tập đoàn có những nhà máy sợi chỉ có 10-50 công nhân trên 1 vạn cọc sợi thay vì 100 công nhân như trước đây. Ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo để chuyển giao dữ liệu từ Việt Nam tới tất cả những nhà nhập khẩu trên thế giới. “Ứng dụng công nghệ vào sản xuất không chỉ giúp người công nhân có việc làm ổn định, thu nhập cao hơn mà lợi nhuận của tập đoàn có thể tăng gấp đôi” – ông Lê Tiến Trường chia sẻ.

Thực tế, ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất là xu hướng tất yếu, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 với trí tuệ nhân tạo, big data được sử dụng ngày một nhiều trong sản xuất. Tuy nhiên, việc đưa công nghệ hiện đại vào sản xuất không hề dễ dàng, nhất là nhân lực để vận hành các thiết bị đó.

Với kinh nghiệm từ thực tế, đại diện May 10 chia sẻ: Tổng công ty tập trung vào đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trước hết là chất lượng của các chuyên gia về công nghệ, thị trường và công nhân lành nghề. Lợi thế của May 10 là gần trường Cao đẳng nghề nên thuận lợi cho công tác đào tạo cũng như cập nhật kỹ thuật hiện đại của thế giới. Hiện May 10 đã có phòng nghiên cứu tổ chức sản xuất, phòng kỹ thuật nghiên cứu từng thao tác của người lao động, sau đó đào tạo từng thao tác, bố trí chuyền sản xuất theo máy hiện đại, kết hợp với máy móc vẫn đang làm hiện nay để cho năng suất cao nhất.

Ông Lê Tiến Trường cũng chỉ rõ, đầu tư công nghệ đòi hỏi vốn lớn, trong khi tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp dệt may nói chung còn yếu. Do đó, muốn đẩy nhanh quá trình này, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ về vốn, tạo cơ chế khuyến khích đủ mạnh cho doanh nghiệp.

Việt Bùi

Giá vàng giao ngay tăng sau khi Fed giữ nguyên lãi suất

Phần lớn quan chức cấp cao về hoạch định chính sách của Fed cho rằng không cần thiết phải tăng lãi suất trong năm 2019.

Giá palladium đã đạt mức cao kỷ lục trong phiên ngày 20/3 do những lo ngại về tình trạng nguồn cung thiếu hụt, trong khi giá vàng cũng tăng sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất cơ bản.

Giá vàng giao ngay tăng sau khi Fed giữ nguyên lãi suất.Ảnh minh họa: TTXVN

Vào lúc 18:25 GMT (khoảng 1 giờ 25 phút sáng ngày 21/3 giờ Việt Nam), giá palladium giao ngay tăng 0,6% lên 1.605,51 USD/ounce, sau khi trước đó có lúc chạm mức cao kỷ lục 1.608 USD/ounce.

Kim loại này thường được sử dụng chủ yếu làm chất xúc tác trong ngành sản xuất xe cộ và được hưởng lợi từ việc thay thế động cơ sử dụng dầu diesel và nhu dầu đối với xe điện lai. Từ đầu năm 2019 đến nay, giá palladium đã tăng hơn 26% giá trị.

Trong khi đó, giá vàng giao ngay giao dịch trong vùng dương sau khi Fed thông báo thể chế này sẽ không tăng lãi suất trong năm nay. Giá vàng đã tăng khoảng 0,7% lên 1.315,50 USD/ounce, sau khi có thời điểm tăng lên gần mức cao nhất của ba tuần là 1.315,61 USD/ounce.

Sau phiên họp chính sách kéo dài hai ngày, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ngày 20/3 ra thông báo giữ nguyên lãi suất ở mức 2,25-2,5%. Phần lớn (11/17) quan chức cấp cao về hoạch định chính sách của Fed cho rằng không cần thiết phải tăng lãi suất trong năm 2019.

Đồng USD giảm so với giỏ sáu tiền tệ chính cũng hỗ trợ giá vàng. Tuy nhiên, giá vàng Mỹ giao kỳ hạn lại giảm xuống 1.301,7 USD/per ounce.

Trên thị trường kim loại quý khác, giá bạch kim giao ngay tăng 2,2% lên 864,25 USD/ounce, sau khi tăng 3% trong phiên 19/3. Còn giá bạc giao ngay tăng 1,1% lên 15,51 USD/ounce.

Minh Hằng (Theo Reuters)

Kim ngạch thương mại Việt Nam – Trung Quốc đạt 106 tỷ USD

Ngày 20-3, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh TPHCM (VCCI-HCM) phối hợp với Trung tâm Ngoại thương Trung Quốc tổ chức hội thảo “Giới thiệu hội chợ hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc (Caton Fair) và giao lưu thương mại doanh nghiệp Việt Nam -Trung Quốc”.

Kim ngạch thương mại Việt Nam - Trung Quốc đạt 106 tỷ USD

Theo VCCI-HCM, Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và Việt Nam đã vượt qua Malaysia trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong khu vực ASEAN.

Trong năm 2018, tổng kim ngạch thương mại 2 chiều giữa Việt Nam – Trung Quốc đạt trên 106 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2017 (Trung Quốc là đối tác thương mại đầu tiên của Việt Nam lập được kỷ lục hơn 100 tỷ USD).

Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Trung Quốc đạt trên 41 tỷ USD, tăng 16% so với năm 2017.

Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc chuyển biến theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng hàng công nghiệp chế tạo và hàng nông, lâm, thủy sản; giảm dần tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu, nhiên liệu và khoáng sản.

MINH HẢI

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay: NHNN giảm tỷ giá xuống còn 22.953 VND/USD

Sáng nay (21/3), tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh giảm 5 đồng so với phiên trước, xuống còn 22.953 VND/USD.

Sáng nay (21/3), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh giảm tỷ giá trung tâm VND/USD 5 đồng so với hôm qua, xuống mức 22.953 VND/USD.

Tại sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, giá mua – bán USD được niêm yết ở mức là 23.200 – 23.597 đồng/USD, không đổi so với phiên liền trước.

ty gia ngoai te hom nay: nhnn giam ty gia xuong con 22.953 vnd/usd hinh 1
Giá USD trong nước hầu như không biến động. (Ảnh minh họa)

Sáng nay, các ngân hàng thương mại niêm yết giá USD tăng – giảm trái chiều nhau.

Cụ thể, Vietcombank niêm yết giá 23.155 đồng (mua vào) và 23.255 đồng (bán ra), giảm 5 đồng so với hôm qua. Ngân hàng BIDV cũng công bố cùng mức giá này.

Trong khi đó, VietinBank mua – bán USD với giá 23.158-23.258 đồng/USD, tăng 5 đồng mỗi chiều giao dịch.

Techcombank giao dịch ở mức 23.160-23.270 đồng/USD, tăng 10 đồng so với phiên trước.

Trên thị trường thế giới, đầu phiên giao dịch sáng 12/3 (giờ Việt Nam), tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 96,45 điểm.

 USD hiện đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1358 USD; 111,47 yen đổi 1 USD  và 1,3161 USD đổi 1 bảng Anh./.

Trần Ngọc/VOV.VN

Kinh tế thế giới nổi bật tuần đến ngày 15/3/2019

Những nỗ lực thương thảo một thỏa thuận nhằm giải quyết tranh chấp thương mại giữa Mỹ – Trung Quốc; Vấn đề thương lượng Brexit; Sự phát triển của nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc… là những thông tin nổi bật trên thế giới tuần qua.

Kinh tế thế giới nổi bật tuần đến ngày 15/3/2019

Thượng đỉnh Mỹ – Trung khả năng sẽ được tổ chức vào tháng 4 tới
Theo Hãng tin Bloomberg ngày 14/3, hội nghị thượng đỉnh giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhiều khả năng sẽ được tổ chức sớm nhất vào tháng 4 tới.
Cũng theo nguồn tin này, các nhà đàm phán của hai bên đang nỗ lực thương thảo một thỏa thuận nhằm giải quyết tranh chấp thương mại giữa hai nước.
Tổng thống Mỹ lạc quan về cơ hội đạt được thỏa thuận với Trung Quốc
Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng có cơ hội thuận lợi để đạt được thỏa thuận, một phần vì Trung Quốc muốn kết quả này sau khi hứng chịu các biện pháp thuế quan từ Mỹ.
Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố ông không vội vàng hoàn tất một thỏa thuận thương mại với Trung Quốc, đồng thời khẳng định bất kỳ thỏa thuận nào cũng phải bao gồm việc đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ thương mại – một điểm mấu chốt trong các cuộc đàm phán giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới trong những tháng qua.
Tuy nhiên, ông hiểu Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng sẽ thận trọng trong cuộc gặp thượng đỉnh, dự kiến diễn ra vào cuối tháng này tại Florida (Mỹ), sau khi hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều lần hai tại Việt Nam vừa kết thúc cuối tháng 2 vừa qua mà không đạt được bất kỳ thỏa thuận nào.
EU sẽ không thương lượng thêm về thỏa thuận Brexit
Nghị sĩ châu Âu phụ trách Brexit nhấn mạnh thỏa thuận “ly hôn” giữa EU và Anh là thỏa thuận cuối cùng, hàm ý sẽ không có thương lượng lại, ngay cả khi Brexit được hoãn lại đến ngày 30/6 hay lâu hơn.
Phát biểu với hãng tin Reuters, ông Hubner cho biết: “Gia hạn một chút chỉ đồng nghĩa với việc để Anh có thể thông qua các đạo luật cần thiết nhằm chuẩn bị sẵn sàng cho việc ra đi theo thỏa thuận ly hôn đã được nhất trí”.
Thủ tướng Anh đã quyết định đệ trình Hạ viện kiến nghị tổ chức một cuộc bỏ phiếu mới về thỏa thuận Brexit trong thời gian từ nay tới ngày 20/3, sau khi Hạ viện đã 2 lần bác bỏ văn bản này.
Công nghiệp Trung Quốc tăng trưởng thấp nhất 17 năm
Theo số liệu của Cơ quan Thống kê quốc gia Trung Quốc (NBS), sản lượng công nghiệp của nước này trong 2 tháng đầu năm 2019 chỉ tăng 5,3%, mức tăng trưởng thấp nhất trong 17 năm qua, cho thấy nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới vẫn trong tình trạng “hụt hơi”.
Dù vậy, đầu tư vào các tài sản cố định của Trung Quốc trong 2 tháng đầu năm 2019 đã tăng 6,1%. Trong đó, đầu tư tài vào tài sản cố định của khu vực tư nhân ở Trung Quốc tăng 7,5% trong 2 tháng trên.
Trung Quốc hiện đang tích cực hỗ trợ nền kinh tế trong nước dự kiến năm nay sẽ tăng trưởng thấp nhất trong 29 năm, trong bối cảnh nhu cầu trên thế giới sa sút.
Châu Phi có là “miền đất hứa” với Mỹ?
Mặc dù có những khía cạnh tích cực trong chiến lược của Mỹ đối với châu Phi được công bố vào cuối năm ngoái, không có bất kỳ đề cập nào về hội nghị thượng đỉnh Mỹ-châu Phi gần đây.
Các hội nghị thượng đỉnh này nhằm thúc đẩy sự tương tác thường xuyên giữa các chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức xã hội dân sự và bên quan tâm ở các cấp độ khác nhau, đồng thời báo hiệu một ưu tiên chính sách rõ ràng của các chính phủ này. Các hội nghị thượng đỉnh trên cũng được xem như là một phương thức quan trọng để thúc đẩy lợi ích của mỗi quốc gia.
Hàn Quốc, Malaysia sẽ kết thúc đàm phán FTA trong năm 2019
Ngày 13/3, Hàn Quốc và Malaysia đã nhất trí khởi động các cuộc đàm phán về một thỏa thuận thương mại tự do (FTA) và nỗ lực hoàn thành đàm phán trong năm nay.
Cam kết này được đưa ra tại cuộc gặp giữa Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đang ở thăm Kuala Lumpur và Thủ tướng nước chủ nhà Mahathir Mohamad, thảo luận về những biện pháp tăng cường hợp tác và trao đổi giữa hai nước.
Hai bên cũng nhất trí đẩy nhanh tiến độ đàm phán và dự kiến kết thúc đàm phán vào dịp hội nghị thượng đỉnh đặc biệt giữa Hàn Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào cuối năm nay.
Biến đổi khí hậu có thể gây bất ổn tài chính với Australia
Theo nhận định của Phó thống đốc Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) Gui Debelle, biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế ít khí thải carbon sẽ có những tác động lớn về kinh tế, đòi hỏi phải có một sự chuyển đổi trật tự để đảm bảo ổn định tài chính. Biến đổi khí hậu sẽ gây bất ổn về tài chính khi các công ty bảo hiểm có thể sẽ phải đối mặt với các khoản thanh toán bồi thường lớn, không lường trước được. Trong một số trường hợp, doanh nghiệp và hộ gia đình có thể mất quyền tiếp cận bảo hiểm.
Chưa có lời giải cho bất đồng giữa Mỹ và Canada về thuế nhôm, thép
Phát biểu tại Quốc hội Mỹ ngày 12/3, Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer ngụ ý rằng Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ không dỡ bỏ thuế quan đánh vào nhôm và thép nhập từ Canada mà không áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu khác, chẳng hạn như chế độ hạn ngạch.
Chính phủ Canada đã áp thuế quan trả đũa đối với một loạt sản phẩm của Mỹ và đang tiến hành đàm phán với Washington về vấn đề này. Catherine Cobden, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất thép Canada, đánh giá hệ thống hạn ngạch sẽ “kiềm chế tăng trưởng”. Tuy nhiên, Chính phủ của Thủ tướng Justin Trudeau không bác bỏ khả năng sẽ chấp nhận phương án bị áp hạn ngạch.
Mỹ sẽ ưu tiên lĩnh vực nông nghiệp trong đàm phán FTA với Nhật Bản
Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer ngày 12/3 cho biết nông nghiệp sẽ là lĩnh vực được ưu tiên khi Mỹ và Nhật Bản bắt đầu các cuộc đàm phán về thỏa thuận thương mại tự do (FTA) song phương.
Đại diện Thương mại Mỹ đã bày tỏ sự lo ngại khi được hỏi về phản hồi của chính quyền Tổng thống Donald Trump với việc cắt giảm thuế hơn nữa đối với xuất khẩu thịt bò của Australia và Canada vào Nhật Bản.
Mỹ đã rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP, nay có tên mới là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – CPTPP) từ năm 2017, bởi nền kinh tế lớn nhất thế giới muốn tập trung vào các thỏa thuận thương mại song phương. CPTPP có hiệu lực từ ngày 30/12/2018.
Mỹ phản đối kế hoạch áp thuế kỹ thuật số của các nước EU lên WTO
Mỹ đang cân nhắc khiếu nại lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) để phản đối những sắc thuế mới mà Washington cho là mang tính “phân biệt đối xử” nhằm vào các tập đoàn kỹ thuật số lớn như Facebook và Google vốn đang được Pháp và các quốc gia khác thuộc Liên minh châu Âu (EU) lên kế hoạch.
Phát biểu tại một phiên họp của các Bộ trưởng Tài chính EU ở Brussels (Bỉ), Bộ trưởng Tài chính Romania Eugen Teodorovici cho biết các nước thành viên vẫn chưa nhất trí về một sắc thuế chung nhằm vào các tập đoàn kỹ thuật số trên quy mô toàn EU.
Hiện nhiều quốc gia như Pháp, Anh, Italy và Tây Ban Nha đang đẩy nhanh việc đưa ra các kế hoạch ở cấp quốc gia sau khi các nước EU không đạt được một sự thống nhất về việc áp thuế đối với các tập đoàn kỹ thuật số.
Trung Quốc – “gót chân Asin” của kinh tế thế giới
Theo chuyên gia kinh tế Philippe Eulaerts, thuộc công ty đa quốc gia Thụy Điển SKF (Svenska KulalgerFabriken), mối đe dọa của kinh tế thế giới chính là sự bất ổn của kinh tế Trung Quốc và những bất ổn này xuất phát từ 4 điểm yếu của nền kinh tế nước này là: Hoạt động tài chính ngầm, mập mờ về thống kê; tiêu dùng suy giảm và vấn đề sở hữu trí tuệ.
Hàn Quốc trở thành nước đứng thứ hai thế giới về nhập khẩu dầu thô Mỹ
Theo báo cáo công bố ngày 12/3 của hãng theo dõi ngành năng lượng S&P Global Platts, Hàn Quốc đã vượt Trung Quốc trở thành nước đứng thứ hai thế giới về nhập khẩu dầu thô của Mỹ trong năm 2018.
Mức giá phải chăng cùng với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đã góp phần tác động đến kết quả này.
Triều Tiên hạn chế số lượng du khách nước ngoài
Hãng thông tấn Yonhap dẫn nguồn Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc ngày 12/3 cho biết từ đầu tuần tới Triều Tiên sẽ bắt đầu hạn chế lượng khách du lịch nước ngoài đến nước này đã tăng đột biến kể từ sau Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều lần đầu tiên, diễn ra tại Singapore năm ngoái. Triều Tiên có kế hoạch giới hạn số lượng khách du lịch ở mức 1.000 lượt người mỗi ngày kể từ ngày 18/3 tới.
Theo giới quan sát, sự gia tăng lượng khách đến Triều Tiên là hiệu ứng từ Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều lần thứ nhất thu hút sự chú ý của du khách nước ngoài đối với đất nước khép kín này.
Nguồn: VITIC Tổng hợp

Hương Nguyễn

Vinanet

Trung Quốc – thị trường xuất khẩu cao su chủ lực chiếm tới 65% thị phần

Cao su của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc – đây là thị trường có vị trí và khoảng cách địa lý thuận lợi, chiếm 64,61% thị phần.

Trung Quốc – thị trường xuất khẩu cao su chủ lực chiếm tới 65% thị phần

Theo số thống kê sơ bộ từ TCHQ, tháng 2/2019 Việt Nam đã xuất khẩu 79,5 nghìn tấn, trị giá 105,19 triệu USD, giảm 49,4% về lượng và 47,3% về trị giá so với tháng 1/2019. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019 đã xuất khẩu 237 nghìn tấn, trị giá 305,44 triệu USD, tăng 27,3% về lượng và 11,5% về trị giá so với cùng kỳ.
Giá xuất bình quân 2 tháng đầu năm 2019 đạt 1279 USD/tấn, riêng tháng 2/2019 giá đạt 1.300 USD/tấn, tăng 2,3% so với tháng 1/2019 nhưng giảm 13% so với tháng 2/2018.
Cao su của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc – đây là thị trường có vị trí và khoảng cách địa lý thuận lợi, chiếm 64,61% tổng lượng cao su xuất khẩu, đạt 153,19 nghìn tấn, trị giá 196 triệu USD, tăng 53,09% về lượng và 34,5% trị giá, mặc dù giá xuất bình quân giảm 12,14% chỉ có 1.279,63 USD/tấn so với cùng kỳ. Riêng tháng 2/2019, Trung Quốc đã nhập từ Việt Nam 48,9 nghìn tấn, trị giá 64,21 triệu USD, giảm 53% về lượng và 51,21% trị giá, mặc dù giá xuất bình quân tăng 3,8% đạt 1312,52 USD/tấn so với tháng 1/2019, nhưng tăng 92,3% về lượng và 71,54% trị giá so với tháng 2/2018.
Thị trường nhập nhiều cao su từ Việt Nam sau Trung Quốc là Ấn Độ đạt 21,1 nghìn tấn, trị giá 28,4 triệu USD, tăng 42,87% vè lượng và 23,99% trị giá so với cùng kỳ, giá xuất bình quân 1339,94 USD/tấn, giảm 12,14% so với cùng kỳ. Riêng tháng 2/2019 đã xuât sang Ấn Độ với 7,6 nghìn tấn, trị giá 10,6 triệu USD, giảm 43,16% về lượng và 40,31% trị giá so với tháng 1/2019.
Kế đến là các thị trường Hàn Quốc, Đức, Mỹ, Malaysia… Nhìn chung, 2 tháng đầu năm nay lượng cao su xuất sang các thị trường đều tăng trưởng, số này chiếm 56% trong đó xuất khẩu sang Phần Lan tăng gấp 2,9 lần (tức tăng 190,54%) tuy chỉ đạt 645 tấn, đứng thứ hai là Thụy Điển tăng gấp 2,8 lần (tức tăng 181,53%), kế đến là Mexico tăng gấp 2,6 lần (tức tăng 157,94%) và Hà Lan tăng gấp 2,2 lần (tức tăng 121,47%). Đáng chú ý, giá xuất bình quân sang các thị trường này đều sụt giảm, trong đó giảm nhiều nhất là thị trường Mexico 14,98% xuống còn 1159,38 USDt/ấn.
Ngược lại, xuất khẩu sang thị trường Pakistan giảm nhiều nhất 77,31% tương ứng với 275 tấn.
Thị trường xuất khẩu cao su 2 tháng 2019
Thị trường2T/2019+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
Lượng (Tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Tổng237.087305.445.67527,311,5
Trung Quốc153.192196.028.90253,0934,5
Ấn Độ21.19628.401.45542,8723,99
Hàn Quốc7.46410.253.2917,06-5,6
Đức6.4018.661.484-14,97-27,39
Hoa Kỳ5.9127.074.576-6,63-25,45
Malaysia4.5945.699.247-65,99-69,68
Thổ Nhĩ Kỳ4.1905.403.190-3,37-14,99
Đài Loan3.3564.511.465-32,2-42,16
Hà Lan3.0233.424.889121,4793,22
Indonesia2.6153.501.181-5,83-18,13
Italy2.4672.905.742-23,79-37,54
Tây Ban Nha2.1712.562.599-10,58-27,98
Nhật Bản1.9892.954.9345,02-6,31
Brazil1.5671.587.46253,0313,53
Bỉ1.4511.329.739-5,66-26,95
Nga8641.170.075-46,27-52,6
Mexico650753.596157,94119,29
Phần Lan645920.689190,54165,9
Canada625826.8451,46-17,2
Thụy Điển625816.178181,53143,89
Pháp544788.25867,3855,5
Séc504663.98866,8935,82
Anh403542.25324,776
HongKong (TQ)280371.519-6,67-21,03
Pakistan275312.112-77,31-82,37
Achentina121168.235-33,15-43,12
Singapore71101.808255204,68
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)

Hương Nguyễn

Vinanet

8 nhóm hàng xuất khẩu “tỷ USD” của Việt Nam

2 tháng đầu năm 2019, trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 36,11 tỷ USD, tăng 4,2%, tương ứng tăng 1,47 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Đóng góp quan trọng vào kết quả này là 8 nhóm hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên.

8 nhóm hàng xuất khẩu “tỷ USD” của Việt Nam

Điện thoại các loại và linh kiện tiếp tục giữ vững vị trí số 1, tuy nhiên khác với đà tăng trưởng của một số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, kim ngạch xuất khẩu ngành hàng lớn nhất bị sụt giảm. Cụ thể, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước đạt 6,75 tỷ USD, giảm 7,9% so với cùng kỳ năm trước.
Thị trường xuất khẩu nhóm hàng này chủ yếu sang EU (28 nước) đạt 1,84 tỷ USD, giảm 8%; thị trường Hoa Kỳ đạt trị giá 1,4 tỷ USD tăng gấp 3,3 lần; thị trường Hàn Quốc đạt 818 triệu USD, tăng 2,7%…

8 nhom hang xuat khau ty usd cua viet nam

10 nhóm hàng có mức tăng về trị giá lớn nhất trong 2 tháng đầu năm. Điện thoại và một số nhóm chủ lực tăng trưởng âm nên không có mặt trong danh sách này.

Hàng dệt may đạt kim ngạch 4,6 tỷ USD, tăng 11,9%. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất từ Việt Nam, trong 2 tháng trị giá xuất khẩu ở thị trường này đạt 2,14 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 46,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước.

Các thị trường tiếp theo là thị trường Nhật Bản là 578 triệu USD, tăng 7,9%; EU là 570 triệu USD, tăng 3,8%;;…
Máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 4,23 tỷ USD, tăng 3,5%. Trung Quốc là thị trường dẫn đầu với trị giá đạt 1,04 tỷ USD, giảm 8,6%.
Xuất khẩu sang EU đạt 778 triệu USD, tăng 2,2%; Hoa Kỳ đạt 513 triệu USD, tăng 38,8%; Hàn Quốc đạt trị giá 447 triệu USD, tăng 6,3%…
Giày dép các loại đạt 2,63 tỷ USD, tăng 16,5%. Trong 2 tháng đầu năm, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất đạt trị giá 919 tỷ USD, tăng 14,9%.
Tiếp đến là EU đạt trị giá 696 triệu USD, tăng 8,2%; Trung Quốc đạt trị giá 309 triệu USD, tăng 36,6%; Nhật Bản đạt 182 triệu USD, tăng 13,5%…
Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 2,5 tỷ USD, tăng 13,2%. Các thị trường xuất khẩu chủ yếu gồm: Hoa Kỳ với 622 triệu USD, tăng 73,1%; EU đạt 338 triệu USD, tăng 17,6%; Nhật Bản với 285 triệu USD tăng 10,6%; Trung Quốc với 204 triệu USD, giảm 4,2%…
Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,39 tỷ USD, tăng 13,1%. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu số 1 với trị giá 637 triệu USD, tăng 33,5%. Tiếp đến là Nhật Bản với 182 triệu USD, tăng 7,3%; Trung Quốc với 152 triệu USD, giảm 9,7%…
Phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,35 tỷ USD, tăng 3,1%. Các thị trường chính gồm: Nhật Bản với trị giá đạt 408 triệu USD, tăng 11,9%; Hoa Kỳ đạt 228 triệu USD, tăng 31,7%; Singapore đạt trị giá 117 triệu USD, tăng 98,7%…
Thủy sản là nhóm hàng “tỷ USD” thứ 8 với trị đạt 1,11 tỷ USD, tăng 4%. Thị trường xuất khẩu chủ yếu 2 tháng đầu năm là Nhật Bản đạt 180 triệu USD, tăng 12,7%; EU với 166 triệu USD, giảm 9,9%; Hoa Kỳ đạt 178 triệu USD, tăng 8,7%; Trung Quốc đạt 121 triệu USD, tăng 12,1%…
Cũng theo Tổng cục Hải quan, 2 tháng đầu năm kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng nông sản (bao gồm rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) đạt 2,43 tỷ USD, giảm 13,2% so với cùng kỳ năm 2018.
Tính đến hết tháng 2, xuất khẩu các nhóm hàng nông sản nêu trên sang Trung Quốc đạt 850 triệu USD, giảm 15,4%; sang EU đạt 424 triệu USD, giảm 7,7%; sang Hoa Kỳ đạt 228 triệu USD giảm 15,8%; sang Philippines đạt 160 triệu USD, tăng 46,4%…

Nguồn: Baohaiquan.vn

Giá dầu lập đỉnh 4 tháng sau tuyên bố của OPEC

“Những thông tin phát đi từ cuộc gặp của OPEC là đủ để hỗ trợ thị trường”, một chuyên gia nói…

Ảnh minh họa.

Giá dầu thế giới đi lên trong phiên giao dịch ngày thứ Hai, nhờ lực hỗ trợ từ khả năng Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và đối tác kéo dài việc cắt giảm sản lượng, cũng như những dấu hiệu cho thấy lượng tồn kho giảm tại một cảng dầu chủ chốt của Mỹ.

Theo tin từ CNBC, OPEC và đối tác, dẫn đầu là Nga, đã có cuộc gặp ở Azerbaijan để đánh giá việc thực thi thỏa thuận cắt giảm sản lượng. Tại cuộc họp, nhóm được gọi là OPEC+ này nói rằng họ sẽ cắt giảm sản lượng vượt mức cam kết trong những tháng sắp tới.

Ngoài ra, nhóm cũng tuyên bố hủy cuộc gặp dự kiến diễn ra vào tháng 4, đồng nghĩa với việc cuộc họp tiếp theo của nhóm sẽ diễn ra vào tháng 6 và thỏa thuận cắt giảm sản lượng sẽ duy trì ít nhất đến hết tháng 6.

Trước đó, vào hôm Chủ nhật, Saudi Arabia, thủ lĩnh OPEC, phát tín hiệu có thể kéo dài việc cắt giảm sản lượng qua tháng 6, sang nửa sau của năm 2019.

“Chừng nào lượng dầu tồn kho trên toàn cầu còn tăng và còn chưa đạt được trạng thái bình thường, chúng tôi còn tiếp tục giảm sản lượng để đưa thị trường cân bằng trở lại”, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Saudi Arabia, ông Khalid al-Falih, tuyên bố.

Lúc đóng cửa, giá dầu WTI giao sau tại New York tăng 0,57 USD/thùng, tương đương tăng 1%, đạt 59,09 USD/thùng. Đây là mức giá đóng cửa cao nhất của dầu WTI kể từ ngày 12/11.

Tại thị trường London, giá dầu Brent tăng 0,38 USD/thùng, tương đương tăng 0,5%, đạt 67,54 USD/thùng. Ở mức này, giá dầu Brent đang gần ngưỡng cao nhất kể từ đầu năm.

“Những thông tin phát đi từ cuộc gặp của OPEC là đủ để hỗ trợ thị trường”, chuyên gia John Kilduff thuộc Again Capital phát biểu.

Giá dầu Brent đã tăng 25% từ đầu năm đến nay, chủ yếu nhờ thỏa thuận cắt giảm sản lượng mà OPEC+ thực thi từ ngày 1/1. Ngoài ra, các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Iran và Venezuela, hai nước thành viên OPEC, cũng gây siết nguồn cung, góp phần đẩy giá dầu tăng.

“Chiến lược của OPEC+ có vẻ đã phát huy tác dụng”, một báo cáo của ngân hàng Commerzbank nhận xét.

Trong phiên giao dịch đầu tuần, những dấu hiệu cho thấy sự suy giảm lượng dầu tồn kho tại cảng dầu ở Cushing, Oklahoma, Mỹ cũng có tác dụng đẩy giá dầu lên.

Lượng dầu tồn tại Cushing, điểm giao hàng chính của dầu WTI, giảm 1,08 triệu thùng trong tuần trước – các nhà giao dịch dẫn số liệu từ công ty nghiên cứu thị trường Genscape cho biết.

Tuy nhiên, sản lượng dầu vẫn đang trong xu hướng tăng của Mỹ đã hạn chế phần nào tác dụng của việc OPEC+ cắt giảm sản lượng.

Bên cạnh đó, mối lo về sự giảm tốc của nền kinh tế toàn cầu cũng gây áp lực giảm lên giá dầu. Thống kê công bố ngày thứ Hai cho thấy xuất khẩu của Nhật Bản trong tháng 2 giảm tháng thứ ba liên tiếp.

Các nhà phân tích thuộc Bernstein Energy dự báo nhu cầu tiêu thụ dầu của thế giới tăng 1,3 triệu thùng/ngày trong 2019, nhưng cũng nói rằng nếu kinh tế toàn cầu giảm tốc, thì mức tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ “vàng đen” sẽ ở dưới mức 1 triệu thùng/ngày.

DIỆP VŨ

Quảng Ngãi: Khuyến khích doanh nghiệp phát triển điện mặt trời áp mái

Trong bối cảnh hệ thống điện đang chịu nhiều áp lực về bảo đảm cung ứng điện, đặc biệt sau năm 2020, khi cả nước không có nguồn khai thác mới thì việc phát triển các dự án năng lượng mặt trời áp mái được xem là một trong những giải pháp góp phần giảm áp lực cho ngành điện.

Được biết, hiện nay tỉnh Quảng Ngãi đang khuyến khích các doanh nghiệp, cơ quan, hộ gia đình sử dụng công nghệ năng lượng điện mặt trời áp mái.

Với công suất thiết kế bình quân từ 8 – 10kWp/trụ sở doanh nghiệp, cơ quan, trường học và 3kWp/hộ gia đình, lượng điện thu được đủ sử dụng để thắp sáng và giải quyết quá trình sinh hoạt…

Công ty Điện lực Quảng Ngãi tính toán, chi phí lắp đặt điện năng lượng áp mái khoảng 26 triệu đồng/kWp. Đối với doanh nghiệp, trụ sở cơ quan, nếu lắp đặt công suất lớn hơn thì giá thành thi công sẽ giảm, nhưng sản lượng điện tạo ra lớn hơn, số tiền điện tiết giảm sẽ lớn tương ứng và thời gian hoàn vốn rút ngắn chỉ còn khoảng 5 năm. Trong khi đó, tuổi thọ của điện năng lượng áp mái bình quân 25 năm.

là giải pháp mang tính chiến lược lâu dài, tiết kiệm chi phí tiền điện và hợp với xu thế phát triển của thế giới.

Sử dụng công nghệ năng lượng điện mặt trời áp mái là giải pháp mang tính chiến lược lâu dài, tiết kiệm chi phí tiền điện cho doanh nghiệp (Ảnh: TL)

Tính đến tháng 3/2019, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện có 21 đơn vị, cá nhân sử dụng điện năng lượng áp mái. Trong đó gồm 5 cơ quan, doanh nghiệp, trường học và 16 hộ gia đình. Tổng công suất gần 100kWp. Sản lượng điện sử dụng thừa, bán cho ngành điện khoảng 12.500kW, với giá bán 2.086 đồng/kW.

Bên cạnh đó, hiện nay ngành điện Quảng Ngãi cũng đang xúc tiến thi công lắp đặt toàn bộ điện năng lượng áp mái tại 11 trụ sở điện lực các huyện, thành phố và trụ sở Công ty Điện lực Quảng Ngãi.

Việc triển khai hệ thống điện năng lượng áp mái đang được ngành điện khuyến khích phát triển, tận dụng diện tích mái tại các khu dân cư có cơ sở hạ tầng điện lưới đầy đủ, thuận tiện trong việc đấu nối vào lưới điện và phát huy tối đa hiệu quả của tấm pin năng lượng.

Thực tế cho thấy, Chính phủ đã có nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích điện mặt trời phát triển như Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25/11/2015 phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam.

Đặc biệt, để gỡ vướng cho điện mặt trời áp mái về các vấn đề liên quan thuế, bù trừ điện năng, cách thức thanh toán…, ngày 8/1/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định 11/2017. Hiện tại, Bộ Công Thương đã gửi dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 16 xin ý kiến các bộ, ngành. Các chính sách này đã mở ra nhiều cơ chế khuyến khích cho thị trường điện mặt trời tại Việt Nam.

Chia sẻ vấn đề này, ông Đào Minh Hiển – Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Điện 2 (TP.HCM) cho rằng, những lợi ích này là vô cùng lớn, khó có thể đong đếm bằng tiền cụ thể. Tuy nhiên, đầu tư một hệ thống điện mặt trời áp mái đòi hỏi chủ đầu tư phải có sẵn nguồn vốn ban đầu, thường tương đối cao và đây là nguyên nhân chính cản trở sự phát triển rộng rãi của hệ thống điện mặt trời áp mái.

Bảo Hân – Đức Linh

Giá vàng hôm nay quay đầu tăng nhẹ

 Giá vàng hôm nay 19/3 thị trường thế giới tăng mạnh kéo thị trường trong nước tăng theo do đồng USD giảm nhanh.

Mở cửa phiên giao dịch hôm nay (19/3), Công ty VBĐQ Sài Gòn công bố giá mua – bán vàng SJC ở mức 36,52-36,67 triệu đồng/lượng, tăng 20.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với cùng thời điểm phiên giao dịch ngày 16/3. Chênh lệch giá mua đang thấp hơn giá bán 150.000 đồng/lượng.

Cùng thời điểm, Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng ở mức 36,56-36,66 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra). So với phiên giao dịch đầu tuần, giá vàng tăng thêm 20.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra. Chênh lệch giá mua đang thấp hơn giá bán là 100.000 đồng/lượng.

Giá vàng thế giới hiện giao dịch ở mức 1.305,3 USD/oz, tăng 5 USD/oz so với cùng thời điểm phiên giao dịch hôm qua.

Tính theo tỷ giá ngoại tệ Vietcombank hôm nay (23.160 đồng/USD), giá vàng thế giới tương đương 36,42 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng trong nước 100.000 đồng/lượng./.

PV/VOV.VN

Cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế nhập khẩu

Bộ Tài chính vừa đưa ra Dự thảo nghị định Biểu thuế xuất khẩu (XK), nhập khẩu (NK) ưu đãi. Theo đó, Việt Nam cam kết xóa bỏ đối với phần lớn các mặt hàng hiện đang áp dụng thuế xuất khẩu XK và xóa bỏ gần 100% số dòng thuế NK.

Nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam sẽ được đưa vào Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt (Ảnh TL)
Nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam sẽ được đưa vào Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt (Ảnh TL)

Về cam kết thuế NK, Việt Nam cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế. Theo đó: 65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực; 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 kể từ khi hiệp định có hiệu lực; 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 kể từ khi hiệp định có hiệu lực.

Các mặt hàng còn lại cam kết xóa bỏ thuế NK đối với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 16 hoặc theo hạn ngạch thuế quan. Để triển khai thực hiện cam kết về thuế XK, thuế NK của Việt Nam theo Hiệp định CPTPP, Bộ Tài chính xây dựng và trình Chính phủ ban hành nghị định về biểu thuế XK, biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt của Việt Nam theo từng giai đoạn, trước mắt là cho giai đoạn từ năm 2019 đến hết ngày 31/12/2022.

Với đề xuất liên quan đến việc bổ sung một số mặt hàng khoáng sản vào Biểu thuế XK với mức thuế suất ưu đãi là 2% và điều chỉnh thuế XK một số mặt hàng vàng trang sức, mỹ nghệ xuống 0%… Bộ Tài chính đã có trả lời cụ thể.

Theo Bộ Tài chính, quy định tại Hiệp định CPTPP, Việt Nam không được áp dụng thuế XK đối với mặt hàng không có trong biểu cam kết về thuế XK. Các mặt hàng khoáng sản (oxit nhôm và hydroxit nhôm thuộc nhóm 2818) không nằm trong biểu cam kết về thuế XK của Việt Nam. Việc đưa thêm mặt hàng vào Biểu thuế XK ưu đãi thực hiện Hiệp định CPTPP là vi phạm cam kết.

Đối với mặt hàng vàng, các mặt hàng trong Biểu thuế XK ưu đãi thực hiện Hiệp định CPTPP được thực hiện theo đúng cam kết trong hiệp định. Trong đó, mặt hàng vàng trang sức, mỹ nghệ thuộc nhóm 71113.19 có thuế suất cam kết là 2%.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp XK các mặt hàng trên vẫn được áp dụng mức thuế suất theo Nghị định số 125/2017/NĐ-CP là 0% và không phải bổ sung hồ sơ theo quy định của Nghị định ban hành Biểu thuế thực hiện CPTPP.

Dự thảo nghị định Biểu thuế XK ưu đãi, Biểu thuế NK ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định CPTPP giai đoạn 2019 – 2022 đã được hoàn thiện để trình Chính phủ sau khi lấy ý kiến rộng rãi tới cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân.

Ngọc Hà

Xuất khẩu tôm đặt mục tiêu trên 4,2 tỷ USD trong năm 2019

Năm 2019, ngành tôm đặt ra mục tiêu phấn đấu sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 4,2 tỷ USD. Đồng thời, duy trì diện tích nuôi hiện có, sản lượng đạt 780.000 tấn,…

Tại Sóc Trăng, Bộ NN-PTNT vừa tổ chức hội nghị “Triển khai kế hoạch ngành tôm năm 2019”. Theo đó, năm 2019, ngành tôm đặt ra mục tiêu phấn đấu sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 4,2 tỷ USD. Đồng thời, duy trì diện tích nuôi hiện có, sản lượng đạt 780.000 tấn, trong đó sản lượng tôm sú 300.000 tấn và 480.000 tấn tôm thẻ.

Năm 2019, xuất khẩu tôm đặt mục tiêu trên 4,2 tỷ USD ảnh 1

Báo cáo từ Tổng cục Thủy sản (Bộ NN-PTNT) cho biết, tổng diện tích thả nuôi tôm nước lợ năm 2018 đạt trên 736.000 ha (tăng 3% so với năm 2017). Các tỉnh có diện tích thả nuôi tăng gồm: Bạc Liêu, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng… Sản lượng tôm nuôi nước lợ năm 2018 đạt trên 762.000 tấn (tăng 6,3% so với năm 2017).

Ngành tôm năm 2018 được đánh giá có tăng trưởng mạnh (tăng 3% về diện tích và tăng 6,3% về sản lượng so với năm 2017). Tuy nhiên, ngành tôm Việt Nam chỉ đạt giá trị xuất khẩu chưa tới 3,6 tỷ USD (giảm 7,8% so với cùng kỳ). Một số thị trường xuất khẩu chính bị giảm như: EU giảm 2,8%, Mỹ 3,3%, Nhật Bản 9,2%, Trung Quốc giảm 28%…

Một số tồn tại, thách thức đối với ngành tôm đã được chỉ ra như: chưa hoàn toàn làm chủ công nghệ chọn tạo, tôm giống (phải nhập khẩu 90% tôm chân trắng bố mẹ); giá thành sản xuất tôm ở nước ta vẫn cao hơn các nước như: Ấn Độ, Thái Lan, Ecuador, Indonesia… (trong đó thức ăn nuôi tôm chiếm 65-70% giá thành sản xuất); tình trạng lạm dụng thuốc, hóa chất, bơm chích tạp chất vào tôm nguyên liệu vẫn còn xảy ra; nhiều vùng nuôi chưa được đầu tư cơ sở hạ tầng đảm bảo, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ; rào cản thuế chống bán phá giá; kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm ở các thị trường Hoa Kỳ, EU, Hàn Quốc ngày càng gắt gao…

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh, để đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 4,2 tỷ USD, cũng như nâng cao sức cạnh tranh cho con tôm Việt cần tập trung tái cơ cấu ngành tôm theo hướng hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị, gắn kết giữa sản xuất với tiêu thụ; tăng cường kiểm soát và quản lý chất lượng con giống, vật tư đầu vào; kiểm soát chất lượng sản phẩm, xử lý nghiêm các trường hợp bơm chích tạp chất vào tôm nguyên liệu. Đặc biệt, đẩy mạnh phát triển thị trường, xử lý các rào cản kỹ thuật, xây dựng hình ảnh tôm Việt Nam nuôi sinh thái, hữu cơ, để quảng bá ra thị trường thế giới…

TUẤN QUANG

Hết tháng 2, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 72 tỷ USD

Số liệu chính thức vừa được Tổng cục Hải quan công bố cho thấy, tính đến hết tháng 2/2019 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 72,29 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước.

Sau 2 tháng đầu năm 2019, cả nước đã nhập siêu 64 triệu USD. Ảnh: Tiên Giang

Sau 2 tháng đầu năm 2019, cả nước đã nhập siêu 64 triệu USD. Ảnh: Tiên Giang

Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 36,11 tỷ USD, tăng 4,2% và trị giá hàng hóa nhập khẩu đạt 36,18 tỷ USD, tăng 5,8% so cùng kỳ năm 2018.

Riêng trong tháng 2, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 28,58 tỷ USD, giảm 34,1% so với tháng 1 năm 2019 chủ yếu do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nằm trọn trong tháng. Kết quả là, cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 2/2019 thâm hụt 768 triệu USD. Sau 2 tháng đầu năm 2019, cả nước đã nhập siêu 64 triệu USD.

Tổng cục Hải quan ghi nhận trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 2 tháng/2019 đạt 46,14 tỷ USD, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2018. Cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong 2 tháng đầu năm 2019 thặng dư 3,76 tỷ USD.

Về thị trường xuất nhập khẩu, trong 2 tháng đầu năm 2019, có 5 thị trường xuất khẩu đạt trị giá  trên 1 tỷ USD đó là: Hoa Kỳ đạt 8,18 tỷ USD, tăng  35,7%; EU đạt 6,18 tỷ USD, tăng 0,1%; Hàn Quốc đạt 2,92 tỷ USD, tăng 4,9%; Nhật Bản đạt 2,94 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó xuất khẩu sang Trung Quốc lại giảm 16,3%, với trị giá đạt 4,72 tỷ USD.

Về thị trường nhập khẩu, có 7 thị trường đạt trị giá  trên 1 tỷ USD trong 2 tháng đầu năm 2019, trong đó, chỉ có nhập khẩu từ Hàn Quốc giảm, còn lại các thị trường khác đều tăng. Nhập khẩu từ EU, Hoa Kỳ và Trung Quốc có tốc độ tăng lần lượt là 16,8%, 10% và 8,2%.

Xuân Yến

Tỷ giá ngoại tệ ngày 18/3: USD trong nước giảm theo thế giới

Giá USD trong nước sáng nay tăng trong khi chỉ số USD Index trên thị trường thế giới giảm.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sáng nay (18/3) niêm yết tỷ giá trung tâm VND/USD ở mức 22.952 đồng/USD, giảm 5 đồng.

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.640 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.264 VND/USD.

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 23.200 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.596 đồng.

Chỉ số đô la Mỹ (USD Index) đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với 6 loại tiền tệ chính (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đầu phiên sáng nay đang ở mức 96,05 điểm, giảm so với mức 96,75 điểm cùng thời điểm cuối tuần trước.

USD Index vẫn đang xu hướng giảm trong 1 tuần trở lại đây.

Theo Bloomberg, USD so với nhiều đồng tiền chủ chốt khác, hiện ở mức: 1 euro đổi 1,1321 USD; 111,54 yen đổi 1 USD  và 1,328 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,713 Nhân dân tệ (CNY).

Nhiều ngân hàng thương mại niêm yết giá USD biến động nhẹ: Cụ thể, Vietcombank và BIDV cùng niêm yết giá 23.150 đồng (mua vào) và 23.250 đồng (bán ra). VietinBank mua – bán giá 23.150-23.260 đồng/USD, tăng 5 đồng mỗi chiều giao dịch.

Techcombank giao dịch ở mức 23.130-23.250 đồng/USD.

PV/VOV.VN

Xuất khẩu dầu thô tăng về lượng, giảm kim ngạch

2 tháng đầu năm 2019, lượng dầu thô xuất khẩu tăng 7,1% về lượng nhưng giảm 14% về giá và giảm 7,9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018.

Xuất khẩu dầu thô tăng về lượng, giảm kim ngạch

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, trong tháng 2/2019 cả nước xuất khẩu 232.258 tấn dầu thô, thu về 112,08 triệu USD, giảm mạnh 52,3% về lượng và giảm 50,4% về kim ngạch so với tháng 1/2019, nhưng giá xuất khẩu lại tăng 4%, đạt trung bình 482,6 USD/tấn. So với tháng 2/2018 cũng giảm 19,4% về lượng và giảm 12,9% về giá và giảm 29,8% về kim ngạch.
Tính chung cả 2 tháng đầu năm 2019, lượng dầu thô xuất khẩu tăng 7,1% về lượng nhưng giảm 14% về giá và giảm 7,9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018, đạt 719.259 tấn, tương đương 337,3 triệu USD, giá trung bình 469 USD/tấn.
Trong 2 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu dầu thô sang tất cả các thị trường đều tăng cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Malaysia tăng mạnh nhất, tăng 107,9% về lượng và tăng 75% về kim ngạch, đạt 93.462 tấn, tương đương 42,21 triệu USD, chiếm gần 13% trong tổng khối lượng và tổng kim ngạch dầu thô xuất khẩu của cả nước; Tuy nhiên, giá xuất khẩu sang Malaysia lại sụt giảm 15,8% so với cùng kỳ, đạt trung bình 451,7 USD/tấn.
Dầu thô xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc cũng tăng mạnh 86,2% về lượng và tăng 55% về kim ngạch, đạt 320.505 tấn, tương đương 150,65 triệu USD – đứng đầu thị trường tiêu thụ dầu thô của Việt Nam; chiếm gần 45% trong tổng khối lượng và tổng kim ngạch dầu thô xuất khẩu của cả nước. Giá xuất khẩu giảm 16,7%, đạt 470 USD/tấn.
Xuất khẩu sang thị trường Thái Lan cũng tăng tương đối tốt 34,6% về lượng và tăng 19,3% về kim ngạch, đạt 199.349 tấn, tương đương 94,35 triệu USD; chiếm 28% trong tổng lượng và tổng kim ngạch. Giá xuất khẩu giảm 11,4%, đạt 473,3 USD/tấn.
Riêng thị trường Singapore tăng cả giá, lượng và kim ngạch. Cụ thể, xuất khẩu 39.164 tấn, tăng 14,5%; đạt 19,57 triệu USD, tăng 18,9%; giá trung bình 499,8USD/tấn, tăng 3,8%.
Đối với thị trường Nhật Bản, tháng 2/2019 không tham gia vào thị trường xuất khẩu, chỉ xuất khẩu trong tháng đầu năm, đạt 44.733 tấn, tương đương 20,38 triệu USD, chiếm trên 6% trong tổng khối lượng và tổng kim ngạch dầu thô xuất khẩu của cả nước.
Ở chiều ngược lại, nhập khẩu dầu thô vào Việt Nam 2 tháng đầu năm 2019 tăng gấp 9,1 lần về khối lượng và tăng gấp 15,2 lần về kim ngạch so với 2 tháng đầu năm 2018, đạt 1,46 triệu tấn, tương đương 635,41 triệu USD. Giá nhập khẩu tăng 66,1%, đạt 434,5 USD/tấn.Xuất khẩu dầu thô 2 tháng đầu năm 2019

Thị trường2T/2019+/- so với cùng kỳ (%)*
Lượng (tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Tổng cộng719.259337.297.8307,06-7,91
Trung Quốc320.505150.648.44986,2155,1
Thái Lan199.34994.345.68434,5819,26
Malaysia93.46242.213.292107,9175,09
Nhật Bản44.73320.377.395  
Singapore39.16419.574.70014,5218,87

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)

Tăng cường kết nối, thúc đẩy hợp tác với các đối tác khu vực châu Âu

Nhằm cung cấp thông tin chính sách, cơ hội hợp tác, tạo kênh đối thoại gần gũi, tăng cường kết nối các đối tác trong và ngoài nước trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và khu vực châu Âu, ngày 04/3, tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã tổ chức buổi “Gặp gỡ các đối tác khu vực châu Âu năm 2019”.

Tăng cường kết nối, thúc đẩy hợp tác với các đối tác khu vực châu Âu

Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng, Đại sứ Bruno Angelet – Trưởng Đại diện Liên minh châu Âu (EU) và hơn 100 đại biểu đến từ các bộ, ngành, địa phương của Việt Nam, các vị đại sứ, Tham tán Thương mại của các Đại sứ quán, Phái đoàn các nước châu Âu tại Việt Nam như: Phái đoàn EU, Liên bang Nga, Anh, Thụy Điển, Đan Mạch, Ireland, Tây Ban Nha, Italia, Ucraina, Áo, Belarus, Armenia, Thụy Sĩ, Hà Lan, Azerbaijan, Ba Lan, Kazastan, Na Uy… đã tới tham dự sự kiện này.
Đây là sáng kiến mà Bộ Công Thương tổ chức để kết nối các chủ thể tham gia vào hoạt động hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và châu Âu. Đồng thời, quảng bá hình ảnh Việt Nam và trưng bày giới thiệu các sản phẩm xuất khẩu tiêu biểu của doanh nghiệp Việt Nam.
Trong những năm qua, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước châu Âu không ngừng được mở rộng và phát triển. Từ quy mô trao đổi thương mại còn rất khiêm tốn vào những năm 1990, cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 40 quốc gia trong khu vực. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại luôn đạt mức 2 con số. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2018, kim ngạch trao đổi thương mại song phương giữa Việt Nam và châu Âu đạt 62,11 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu vào châu Âu 44,93 tỷ USD, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam xuất siêu vào châu Âu 27,75 tỷ USD, góp phần cải thiện cán cân thương mại và tạo đầu ra ổn định, bền vững cho hàng hóa Việt Nam. Các nước châu Âu cũng đã đầu tư vào Việt Nam gần 50 tỷ USD với 3.300 dự án, trải rộng trên khắp các lĩnh vực của nền kinh tế.
Tại buổi gặp, Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng đánh giá, châu Âu là thị trường quan trọng và luôn là đối tác tập trung ưu tiên hợp tác của Việt Nam. Thị trường giữa hai khu vực có mức độ bổ sung rất lớn. Trong đó, châu Âu là thị trường tiềm năng cho nhiều mặt hàng nông sản nhiệt đới, dệt may, da giày, đồ gỗ, điện thoại có thế mạnh của Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam là thị trường cửa ngõ để các doanh nghiệp châu Âu có thể tiếp cận với khu vực Đông Nam Á. Việt Nam đã ký và đưa vào hiệu lực thực thi Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh kinh tế Á – Âu, kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh châu Âu và đang nỗ lực kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do với EFTA. Điều đó có nghĩa là trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ có hiệp định thương mại tự do với hầu hết tất cả các nước châu Âu, tạo khung khổ pháp lý thuận lợi cho các hoạt động trao đổi thương mại. Việt Nam cũng đã thiết lập 23 cơ chế hợp tác Ủy ban liên Chính phủ, Ủy ban hỗn hợp và tham vấn chính sách song phương với các nước đối tác châu Âu. Đây là cơ chế đối thoại chính sách quan trọng, góp phần thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại và đầu tư song phương, giải quyết kịp thời và hiệu quả những vướng mắc cho doanh nghiệp.
Đại diện phía Liên minh châu Âu (EU), Đại sứ Bruno Angelet – Trưởng Đại diện EU cũng bày tỏ mong muốn Việt Nam trở thành đối tác thứ 3 của EU khi Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với EU được ký kết. Thời gian tới, việc hợp tác sẽ được thúc đẩy dựa trên tiềm năng sẵn có để hai bên khai thác những lợi ích của mình, mang lại hiệu quả tốt nhất.
Cũng trong khuôn khổ chương trình, Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng, các Đại sứ và đại diện các Hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài như Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham), các doanh nghiệp đã thăm quan gian hàng trưng bày một số sản phẩm xuất khẩu đặc trưng và có thế mạnh của Việt Nam. Đây được coi là một điểm nhấn quan trọng với mục đích quảng bá và giới thiệu về các mặt hàng có thế mạnh của nước ta như cà phê, da giày, đồ gia dụng, thực phẩm chế biến…
Sự kiện “Gặp gỡ với các đối tác khu vực châu Âu năm 2019” đã thu hút sự chú ý, được đánh giá là góp phần không nhỏ vào việc phát triển hơn nữa quan hệ kinh tế song phương, thúc đẩy các hoạt động kết nối đa dạng trong thời gian tới.
Văn phòng Bộ
Nguồn: Moit.gov.vn

10 xe bán chạy nhất tháng 2/2019: Honda CR-V dẫn đầu

Honda CR-V vẫn là mẫu xe bán chạy nhất tháng 2/2019 trong khi Toyota Vios bị đẩy xuống vị trí thứ năm.

1. Honda CR-V: 961

Doanh số thấp hơn so với tháng 1/2019 (với 2.812 xe bán ra) nhưng với con cố 961 xe Honda CR-V vẫn giữ vững được vị trí đầu bảng trong danh sách 10 mẫu xe bán chạy nhất tháng 2/2019.

Trên thực tế Honda CR-V là mẫu xe từng bị đánh bật khỏi danh sách top 10 xe bán chạy nhất trong tháng 12/2018 (với doanh số chỉ đạt 790 xe). Tuy nhiên, từ tháng đầu năm mới mẫu xe này đã có một pha trở lại đầy ngoạn mục hạ bệ “ông vua doanh số” Vios của Toyota, đồng thời chiếm luôn vị trí đứng đầu trong 10 mẫu ô tô bán chạy nhất tháng.

2. Hyundai Accent: 933

Doanh số của Hyundai Accent đã trải qua 3 tháng sụt giảm liên tục với 1.834 chiếc được bán ra trong tháng 12/2018, 1.695 xe được bán ra trong tháng 1/2019 và 933 chiếc trong tháng 2 này. Tuy nhiên với sức mua giảm chung của thị trường ô tô, con số 933 xe bán ra vẫn giúp Hyundai Accent về đích ở vị trí thứ hai chỉ sau mẫu CR-V của Honda.

3. Hyundai Grand i10: 849 xe

Sau 2 tháng liên tiếp tăng doanh số nhưng “đi lùi” trong bảng xếp hạng, bước sang tháng 2/2019 doanh số của Hyundai i10 đột ngột quay đầu giảm (từ 1.680 xe bán ra trong tháng 1/2019 xuống còn 849 xe), tuy nhiên điều đó không kéo Hyundai Grand i10 xuống vị trí thấp hơn mà còn đưa mẫu xe này từ vị trí thứ sáu tiến lên vị trí thứ ba trong danh sách 10 xe bán chạy nhất tháng.

4. Mazda 3: 701

Sau kỳ tích bán 2.334 xe trong tháng 1/2019, doanh số của Mazda 3 dường như đã quay về trạng thái ổn định với 701 xe bán ra trong tháng 2/2019.

Mặc dù tụt mất 2 bậc trong danh sách 10 xe bán chạy nhất tháng 2/2019 nhưng đây không tính là bước thụt lùi của Mazda 3 bởi trong suốt một năm “làm mưa làm gió” trong phân khúc sedan hạng C thì doanh số của mẫu xe này vẫn luôn chỉ đều đặn trong khoảng 800-1.000 xe/ tháng. (Doanh số cao nhất của Mazda 3 trong năm 2018 là vào tháng 12 cũng chỉ đạt 1.038 xe)

5. Toyota Vios: 636

Trái với năm rực rỡ 2018, doanh số của 2 tháng đầu năm cho thấy 2019 có vẻ là một năm không mấy thuận lợi với mẫu xe Vios của Toyota.

Sau cú tụt hạng từ vị trí dẫn đầu (với 3.657 xe bán ra trong tháng 12/2018) xuống vị trí thứ tư (với1.991xe bán ra trong tháng 1/2019), Vios vừa có một cú trượt kế tiếp xuống vị trí thứ năm khi chỉ tiêu thụ được 636 chiếc xe trong tháng 2/2019.

6. Honda City: 614

Honda City không có mặt trong danh sách 10 xe bán chạy nhất của tháng 1/2019 tuy nhiên trong suốt 2018 mẫu sedan hạng B vẫn luôn chứng tỏ được súc hút của mình. Đây cũng là mẫu xe có tình hình kinh doanh ổn định nhất của Honda Việt Nam với doanh số trung bình luôn ở mức 700 – 800 xe/tháng.

7. Mazda CX-5: 610

Tháng 1/2019 với doanh số bán ra đạt 2.123 xe, mẫu crossover 5 chỗ đã vươn từ vị trí thứ tám lên vị trí thứ ba trong bảng xếp hạng 10 mẫu xe bán chạy nhất tháng. Tuy nhiên Mazda CX-5 đã không giữ được phong độ ổn định khi chỉ bán được 610 xe trong tháng 2, sát nút với Honda City và về đích ở vị trí thứ 7.

8. Ford Ranger: 596

Tiếp tục giữ vị trí thứ 8 trong danh sách 10 xe bán chạy của tháng 2/2019 dù doanh số giảm đi một phần ba (chỉ 596 chiếc Ford Ranger được bán ra trong tháng 2 trong khi có tổng cộng 1.546 xe được tiêu thụ vào tháng 1/2019).

9. Kia Morning: 559

Dù doanh số giảm mạnh, chỉ còn non nửa so với tháng 1/2019 (doanh số đạt 1.270 xe) nhưng Kia Morning vẫn loanh quanh ở cuối bảng xếp hạng 10 xe bán chạy nhất tháng 2/2019. Ở phân khúc hatchback hạng A, Kia Morning vẫn đang được xem là đối thủ nặng ký của Hyundai Grand i10.

10. Kia Cerato: 536

Vào tháng đầu tiên ra mắt (12/2018) Kia Cerato thế hệ mới đã bán được 1.056 xe (giữ lvị trí thứ 10 trong top 10 mẫu xe bán chạy nhất tháng). Sang tháng 1/2019, doanh số của Kia Cerato tiếp tục tăng lên 1.603 xe (thăng hạng từ vị trí thứ 10 ở tháng 12/2018 lên vị trí thứ 7 trong tháng 1/2019).

Tháng 2/2019 có thể xem là tháng bết bát nhất của Cerato kể từ khi ra mắt, với 536 Kia Cerato cán đích ở vị trí cuối cùng trong danh sách 10 xe bán chạy nhất tháng 2.

Thu Hằng (Ảnh: Phan Linh)

Tỷ giá ngày 14/3: Giá USD vẫn tiếp tục giảm

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới sáng nay vẫn đang xu hướng giảm, ở vùng điểm thấp nhất 1 tuần trở lại đây.

Chỉ số đô la Mỹ (USD Index) đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với 6 loại tiền tệ chính (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đầu phiên sáng nay đang ở mức 96,51 điểm, đang giảm so với mức 96,94 điểm cùng thời điểm hôm qua.

ty gia ngoai te ngay 14/3: gia usd van tiep tuc giam hinh 1
Diễn biến USD Index trong 1 tuần trở lại đây

USD Index vẫn đang xu hướng giảm và hiện đang ở mức thấp nhất của 1 tuần trở lại đây.

Theo Bloomberg, USD so với nhiều đồng tiền chủ chốt khác, hiện ở mức: 1 euro đổi 1,1328 USD; 111,21 yen đổi 1 USD  và 1,328 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,707 Nhân dân tệ (CNY).

Như vậy, USD Index thời điểm này vẫn đang yếu hơn các đồng tiền chủ chốt khác.

Ở thị trường trong nước, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sáng nay (14/3) niêm yết tỷ giá trung tâm VND/USD ở mức 22.952 đồng/USD, tăng 5 đồng.

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.640 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.264 VND/USD.

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 23.200 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.585 đồng.

Nhiều ngân hàng thương mại niêm yết giá USD biến động nhẹ: Cụ thể,

Vietcombank và BIDV cùng niêm yết giá 23.150 đồng (mua vào) và 23.250 đồng (bán ra).

VietinBank mua – bán giá 23.143-23.253 đồng/USD, giảm 1 đồng mỗi chiều giao dịch.

Techcombank giao dịch ở mức 23.130-23.250 đồng/USD.

PV/VOV.VN

Giá vàng hôm nay 14/3: Lo ngại bất ổn, nhu cầu tăng, giá vàng phi mã

Một loạt các biến cố xuât hiện khiến thị trường đã đẩy nhu cầu vàng lên cao, qua đó khiến giá vàng hôm nay 14/3 tăng phi mã, lên mức 1.310 USD/Ounce.

Ảnh minh hoạ

Tính đến đầu giờ sáng 14/3, theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.310,47 USD/Ounce.

Trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchanghe, giá vàng thế giới giao tháng 4/2019 đứng ở mức 1.310,2 USD/Ounce, tăng 0,9 USD/Ounce trong phiên. Tuy nhiên, nếu so với đầu giờ sáng 13/3, giá vàng thế giới giao tháng 4/2019 đã tăng hơn 6 USD/Ounce

Như vậy, tính từ cuối giờ chiều ngày 12/3, giá vàng thế giới đã tăng tới 18 USD/Ounce.

Quy theo giá USD ngân hàng, vàng thế giới hiện có giá 36,58 triệu đồng/lượng. Chưa tính thuế và phí, giá vàng thế giới hiện đang thấp hơn giá vàng trong nước 150 ngàn đồng/lượng.

Giá vàng thế giới giảm sâu chủ yếu do đồng USD lao dốc và nhu cầu vàng trên thị trường tăng cao khi một loạt các yếu tố bất ổn xuất hiện, tạo tâm lý lo ngại bao trùm khắp thị trường.

Tại châu Âu, Brexit một lần nữa đã thất bại. Thủ tướng Anh Theresa May đã tuyên bố các bước tiếp theo. Tuyên bố của Thủ tướng Anh báo hiệu cuộc bỏ phiếu rời khỏi EU hôm thứ Tư mà không có bất kỳ thỏa thuận nào. Và nếu tiếp tục thất bại có thể dẫn đến một vòng bỏ phiếu khác vào thứ Năm liên quan đến việc kéo dài thời hạn 29/3.

Phản ứng trước thông tin trên, đồng Bảng Anh (GBP) đã quay đầu giảm, đồng thời kích hoạt các động thái giảm rủi ro trên thị trường.

Vòng đàm phán thương mại Mỹ – Trung được đánh giá là có những bước tiến quan trọng nhưng đến nay vẫn chưa có một kết quả cụ thể nào được đưa ra.

Ghi nhận cùng thời điểm, chỉ số đồng USD (ICE U.S. Dollar Index), thước đo diễn biến của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt khác, đứng ở mức 96,420 điểm, giảm 0,49%.

Nhu cầu vàng cũng được ghi nhận tăng cao. Sputnik dẫn số liệu từ Ngân hàng trung ương Trung Quốc (PBOC) cho biết, ngân hàng này đã tăng mạnh dự trữ vàng thời gian gần đây, trong đó mua vào khoảng 32 tấn vàng trong vòng 3 tháng qua. Cụ thể, PBOC đã mua 10 tấn vàng trong tháng 2, sau khi đã mua gần 12 tấn trong tháng 1/2019 và 10 tấn trong tháng 12/2018.

Đây là đợt tăng dự trữ vàng đầu tiên của Trung Quốc trong hơn 2 năm qua. Hiện tổng dự trữ vàng của Trung Quốc là 1.874 tấn, tương đương 60,26 triệu ounce. Hồi tháng 1, Trung Quốc là nước có dự trữ vàng lớn thứ 6 thế giới, xếp ngay sau Nga.

Động thái này của PBOC cũng như nhiều ngân hàng trung ương khác trên thế giới được cho là nhằm hạn chế tầm ảnh hưởng của đồng USD. Theo số liệu của Hội đồng vàng thế giới, các ngân hàng trung ương toàn cầu đã mua tổng cộng hơn 651 tấn vàng trong năm 2018.

Tại thị trường trong nước, theo đà phi mã của giá vàng thế giới, giá vàng SJC hôm nay cũng đồng loạt tăng mạnh. Tính đến cuối giờ chiều ngày 13/3, giá vàng SJC niêm yết tại TP Hồ Chí Minh ở mức 36,57 – 36,73 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra).

Cùng thời điểm, giá vàng SJC được Tập đoàn DOJI niêm yết ở mức 36,65 – 36,80 triệu đồng/lượng. Còn tại Phú Quý SJC, giá vàng 9999 hôm nay đứng ở mức 36,65 – 36,73 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, giá vàng SJC tính đến cuối giờ ngày 13/3 được Bảo Tín Minh Châu niêm yết ở mức 36,66 – 36,72 triệu đồng/lượng.

Minh Ngọc

Giá dầu thế giới tăng nhẹ ngày 12/3

Giá dầu thế giới tăng ngày 12/3 sau khi Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) hạ thấp dự báo về sản lượng dầu thô của Mỹ trong hai năm 2019 và 2020.

Cụ thể, vào lúc đóng cửa ngày giao dịch 12/3 tại thị trường New York (Mỹ), giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 4/2019 tăng 0,08 USD lên mức 56,87 USD/thùng. Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 5/2019 tại thị trường London (Vương quốc Anh) khép lại ngày giao dịch 12/3 với mức tăng 0,09 USD lên mức 66,67 USD/thùng.

Giá dầu thế giới tăng nhẹ ngày 12/3. Ảnh minh họa: TTXVN

EIA dự báo sản lượng dầu thô của Mỹ trung bình ở mức 12,3 triệu thùng/ngày trong năm 2019 và 13 triệu thùng/ngày trong năm 2020, trong đó hầu hết mức tăng sản lượng đến từ khu vực Permian thuộc Texas và New Mexico.

Theo báo cáo Triển vọng Năng lượng ngắn hạn công bố ngày 12/3 của EIA, các mức dự báo trên thấp hơn các con số ước tính về sản lượng dầu thô của Mỹ trong hai năm 2019 và 2020 mà cơ quan này đưa ra hồi tháng 2/2019.

Ngoài ra, EIA cũng ước tính sản lượng dầu thô của Mỹ trung bình ở mức 11,9 triệu thùng/ngày trong tháng 2/2019, giảm nhẹ so với mức trung bình của tháng 1/2019./.

Anh Quân (Theo THX)

Xây dựng thương hiệu nông sản Việt

Sản phẩm nông sản nâng được sức cạnh tranh hay không, phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng thương hiệu. Theo các chuyên gia nông nghiệp, thiệt thòi lớn nhất của nông sản Việt Nam là khi xuất khẩu ra thị trường thế giới lại không được mang thương hiệu Việt vì chúng ta chưa biết cách xây dựng và giữ thương hiệu.

Xây dựng thương hiệu nông sản Việt

Nâng sức cạnh tranh nông sản Việt phụ thuộc lớn vào xây dựng thương hiệu.

80% nông sản xuất khẩu không mang thương hiệu

Ngày càng có nhiều sản phẩm nông sản của Việt Nam chinh phục được thị trường thế giới, trong đó phải kể đến các loại trái cây như xoài, thanh long, nhãn, vải… Các sản phẩm nông sản khác như cà phê, hồ tiêu cũng là thế mạnh của Việt Nam, được thế giới ưa chuộng. Tuy nhiên, có một điểm nghẽn lâu nay của ngành nông sản nước nhà, đó là chúng ta vẫn chủ yếu xuất khẩu thô, chưa xây dựng được thương hiệu nên giá trị gia tăng thấp. Thiệt thòi hơn khi chúng ta không xây dựng được thương hiệu, nhiều sản phẩm nông sản của nước nhà đã phải “đội lốt” dán nhãn mác các doanh nghiệp (DN) nước ngoài.

Giới chuyên gia nhận định, khi các DN trong ngành chưa chú trọng xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông sản, thì nông sản Việt vẫn mãi chỉ “núp bóng” dưới danh nghĩa của những DN khác. TS Võ Trí Thành – nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, nhiều lần nêu quan điểm rằng, phần lớn mặt hàng nông sản của Việt Nam vẫn là xuất thô, chưa có thương hiệu và đây chính là rào cản khiến nông sản Việt luôn rơi vào thế bị động, giảm giá trị trên thị trường thế giới.

Có một thực tế đáng buồn hiện nay, đó là một tỷ lệ rất lớn (lên tới 70 – 80%) nông sản xuất khẩu của Việt Nam không được mang thương hiệu của các DN Việt (chế biến hoặc xuất khẩu). Các nông sản này chỉ thể hiện một chỉ dấu đơn giản nhất về nguồn gốc xuất xứ, đó là “nông sản Việt Nam”. Đây là bất lợi lớn với các DN tham gia vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị nông sản. Với tỷ lệ 70 – 80% nông sản xuất khẩu không có thương hiệu, rõ ràng các DN Việt sẽ rất thiệt thòi khi ở một vị thế không cao, rủi ro lớn.

Là một trong những người đau đáu với câu chuyện xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông sản, theo PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh – Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh (BCSI), chỉ có phát triển thương hiệu một cách mạnh mẽ và bền vững, nông sản Việt mới có thể trụ vững trên thị trường quốc tế, thương hiệu nông sản mạnh thì sức cạnh tranh của nông sản Việt sẽ được nâng lên.

Xây dựng thương hiệu nông sản Việt

Xây dựng thương hiệu nông sản Việt cần được chú trọng đầu tư.

Phải phát triển bằng được, nếu không muốn thua thiệt

Theo ông Thịnh, hiện nay, phần lớn nông sản trong nước khi xuất khẩu không được mang thương hiệu của đơn vị sản xuất, chế biến, phân phối mà chỉ được gắn mác “Made in Vietnam”. Điều này ẩn chứa rủi ro rất lớn. “Ví dụ,  nếu 100 DN cùng sản xuất, chỉ cần 1 DN có vấn đề là cả ngành nông nghiệp Việt Nam bị tai tiếng. Bởi vì người ta không lọc ra được đó là sản phẩm của DN nào, người ta chỉ biết đó là nông sản của Việt Nam” – ông Thịnh phân tích. Do vậy, câu chuyện nhận diện và phát triển thương hiệu có ý nghĩa rất lớn đối với xuất khẩu nông sản, khẳng định vị thế của sản phẩm nông sản ra thị trường thế giới.

Chúng ta đã có nhiều bài học cay đắng chỉ vì DN không chú trọng xây dựng thương hiệu khiến cho nhiều sản phẩm nông sản Việt bị rơi vào tay của các DN nước ngoài. Những sản phẩm như kẹo dừa Bến Tre, nước mắm Phú Quốc… đã từng nhận được những bài học này. Hay như câu chuyện 10 năm về trước, Việt Nam đã bàn về xây dựng và phát triển thương hiệu cá tra Việt Nam nhưng đến nay vẫn không được.

Nói về những câu chuyện này, ông Thịnh đặt câu hỏi: Mấu chốt nằm ở đâu? Câu trả lời chính là: Chúng ta chưa thực sự chú trọng xây dựng thương hiệu. Mặc dù tham vọng của các DN rất lớn khi vươn tầm ra nhiều thị trường thế giới, nhưng nếu không làm được thương hiệu thì các DN sẽ không thực hiện được gì cả. “Xây dựng thương hiệu cho nông nghiệp là tạo dựng niềm tin, uy tín, chứ không đơn giản là có logo và có một cái tên, một cái thương hiệu gắn cho nó. Điều này các hiệp hội, hợp tác xã đã làm nhưng gần như chưa đạt được hiệu quả như mong đợi” – TS Nguyễn Quốc Thịnh nhấn mạnh.

Theo giới chuyên gia, để phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam, cần sự tham gia của nhiều chủ thể, như các DN trực tiếp cung ứng nông sản; các tổ chức, tập thể gồm hiệp hội, hợp tác xã; chủ sở hữu của các nhãn hiệu chứng nhận… “Ta cứ nhìn 1 USD xuất khẩu nông sản thì người nông dân được hưởng bao nhiêu phần trăm trong đó. Vậy nên, phát triển thương hiệu cho nông sản là một giải pháp thúc đẩy và gia tăng giá trị nông sản dựa vào xuất khẩu” – ông Thịnh nói.

Với những nhận định nói trên, vị chuyên gia nhấn mạnh: “Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận khác đi, quyết liệt hơn với vấn đề xây dựng thương hiệu cho nông sản xuất khẩu, bởi đó là hình ảnh của quốc gia, của ngành hàng chứ không chỉ đơn thuần của một vài DN”.

Theo vị chuyên gia này, nói đến chuyện xây dựng thương hiệu thì phải xác định được chủ thể của nó. Ông Thịnh cho rằng ở Việt Nam hiện nay có 3 chủ thể chính tham gia vào quá trình xây dựng thương hiệu gồm: Các DN cung ứng xuất khẩu nông sản, các tổ chức tập thể như hiệp hội, hợp tác xã, các chủ sở hữu thương hiệu chứng nhận. Cả 3 chủ thể này đến nay vẫn chưa xây dựng thương hiệu một cách hiệu quả. Đó chính là điểm yếu của chúng ta hiện nay.

Nhiều ý kiến cũng cho rằng, để các sản phẩm nông sản Việt đi xa hơn nữa, tiếp cận được các thị trường khó tính trên thế giới, xây dựng thương hiệu chính là yếu tố quyết định cho “tham vọng tiến xa” của nông sản Việt. Chính bởi vậy, các DN Việt Nam cần phải chú trọng đầu tư vào khâu xây dựng thương hiệu cũng như bảo vệ bằng được thương hiệu mà mình đã gây dựng.

Minh Phương

Tỷ giá ngày 13/3: USD cắm đầu lao dốc so với các đồng tiền khác

-Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới sáng nay lao dốc so với các đồng tiền chủ chốt khác, nhưng giá USD trong nước đi ngang

Chỉ số đô la Mỹ (USD Index) đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với 6 loại tiền tệ chính (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đầu phiên sáng nay đang ở mức 96,94 điểm, đang giảm so với mức 97,19 điểm cùng thời điểm hôm qua.

USD Index đang xu hướng giảm kể từ phiên đầu tuần đến nay, với mức đỉnh phiên hôm thứ 2 đạt 97,30 điểm, tuy nhiên biên độ giảm không rộng.

Theo Bloomberg, USD so với nhiều đồng tiền chủ chốt khác, hiện ở mức: 1 euro đổi 1,1289 USD; 111,31 yen đổi 1 USD  và 1,308 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,708 Nhân dân tệ (CNY). Như vậy, USD Index thời điểm này giảm mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác.

Tại thị trường trong nước, nhiều ngân hàng sáng nay niêm yết giá mua – bán USD biến động nhẹ so với hôm qua. Cụ thể, Vietcombank và BIDV cùng niêm yết giá 23.150 đồng (mua vào) và 23.250 đồng (bán ra).

VietinBank mua – bán giá 23.144-23.254 đồng/USD, tăng 1 đồng mỗi chiều giao dịch.

Techcombank giao dịch ở mức 23.130-23.250 đồng/USD.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sáng nay (13/3) niêm yết tỷ giá trung tâm VND/USD ở mức 22.947 đồng/USD, giảm 2 đồng.

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.635 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.259 VND/USD.

PV/VOV.VN

Những số liệu ấn tượng trong ngành công nghiệp xe ô tô

Sau nhiều năm tăng trưởng, các nhà sản xuất ô tô trên toàn cầu đang phải đối mặt với những thách thức mới, bắt đầu với dấu hiệu chững lại của thị trường này trong năm 2019.

Những số liệu ấn tượng trong ngành công nghiệp xe ô tô

Triển lãm Ô tô quốc tế Geneva lần thứ 89 diễn ra từ ngày 7 đến 17/3 trong bối cảnh ngành công nghiệp ô tô gặp nhiều khó khăn và thách thức như cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, Mỹ đe dọa áp thuế nhập khẩu với xe ô tô của châu Âu, những bất ổn liên quan đến Brexit (chỉ việc nước Anh rời Liên minh châu Âu), doanh số bán hàng và hoạt động kinh doanh dự kiến bị chững lại.
Ngoài ra còn có vấn đề chuyển đổi kỹ thuật số trong quy trình sản xuất, hạn chế khí thải gây ô nhiễm, động cơ thay thế (động cơ điện, động cơ lai…), xe tự hành.
Theo các chuyên gia trong ngành công nghiệp ô tô, giai đoạn thuận lợi dường như đã kết thúc.
Sau đây là những con số đặc trưng cho ngành công nghiệp ô tô toàn cầu:
+ 96,5 triệu chiếc xe bán được trên toàn cầu
Năm ngoái, doanh số bán xe ô tô hạng nhẹ mới trên toàn cầu đạt mức cao kỷ lục và khoảng 96,5 triệu chiếc xe bán ra là con số cao hơn 31% so với năm 2010.
Sau nhiều năm tăng trưởng, doanh số bán xe ô tô dự kiến sẽ chững lại kể từ năm nay, do sự trì trệ ở các thị trường Trung Quốc, Mỹ và châu Âu.
+ 3,4 triệu việc làm trong ngành sản xuất ô tô EU
Theo thống kê mới nhất từ Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô châu Âu, tổng số việc làm trong năm 2016 trong ngành công nghiệp ô tô ở châu Âu là khoảng 3,4 triệu việc làm, bao gồm 2,5 triệu trực tiếp và 921.000 việc làm gián tiếp.
Trong những năm gần đây, con số này không ngừng gia tăng.
Tại Đức, số lượng việc làm trực tiếp trong ngành ô tô ở mức cao nhất là 857.000 việc làm, tiếp sau là Pháp 216.000 và Ba Lan 187.000 việc làm.
+ 10,8 triệu chiếc ô tô là doanh số bán xe của liên minh Renault-Nissan-Mitsubishi năm 2018
Liên doanh Renault-Nissan-Mitsubishi là doanh nghiệp hàng đầu trong ngành công nghiệp ô tô thế giới.
Năm 2018, Renault-Nissan-Mitsubishi đã bán được 10,8 triệu xe ô tô cá nhân và xe vận tải hạng nhẹ.
Liên doanh Pháp – Nhật này vượt qua các nhà sản xuất Volkswagen (của Đức) và Toyota (Nhật Bản).
+ 150.000 việc làm có thể bị cắt giảm tại Đức
Sụt giảm doanh số bán xe động cơ chạy dầu diezel giảm có thể dẫn đến việc mất đi 150.000 việc làm tại Đức.
Sự suy giảm này sẽ không được bù đắp bởi sự phát triển xe ô tô điện, được dự kiến sẽ tạo ra 40.000 việc làm trong điều kiện các thiết bị được sản xuất nội địa.
+ 3.021 ô tô điện bán ra tại Thụy Sỹ
Trong quý IV/2018, số lượng xe điện bán ra tại Thụy Sỹ đạt 3.021, tương ứng với mức thị phần dưới 2%.
Tính đến quý IV năm ngoái, cứ ba chiếc xe ô tô mới tại Na Uy thì có gần một chiếc là xe hoàn toàn chạy điện. Đây là một kỷ lục thế giới.
Trong khi đó, Volkswagen là công ty dẫn đầu tại thị trường Thụy Sỹ (chiếm 11% thị phần trong năm 2018) nhờ các mẫu xe Octavia (Skoda), Golf (VW) và Tiguan (VW). Tiếp theo là Mercedes (8,6%) và BMW (8,1%).
Tuy nhiên, thị phần của Volkswagen tại Thụy Sỹ từ năm 2009 đến 2018 đã giảm 0,9%. Ngược lại, thị phần của Mercedes và BMW đã tăng lần lượt 95% và 50%.
Nguồn: Hoàng Hoa (P/v TTXVN Geneva)/Bnews.vn, TTXVN 
Hương Nguyễn

Tháng đầu năm 2019 xuất khẩu hàng dệt may tăng trưởng tốt

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 1/2019 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may ra thị trường nước ngoài đạt 3,29 tỷ USD, tăng 19% so với tháng 12/2018 và tăng 32,2% so với tháng 1/2018.

Tháng đầu năm 2019 xuất khẩu hàng dệt may tăng trưởng tốt

Hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Mỹ chiếm tới 48,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước, đạt trên 1,59 tỷ USD, tăng 27,2% so với tháng 12/2018 và tăng 33,5% so với tháng 1/2018.
EU là thị trường đứng thứ 2 về kim ngạch, đạt 414,34 triệu USD, chiếm 12,6% trong tổng kim ngạch, tăng 9,3% so với tháng 12/2018 và tăng 24,5% so với tháng 1/2018; Tiếp sau đó là thị trường Nhật Bản 398,18 triệu USD, chiếm 12,1%, tăng tương ứng 20,3% và 28,6%; Hàn Quốc 325,85 triệu USD, chiếm 9,9%, tăng tương ứng 28,4% và 27,4%.
Hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á 134,4 triệu USD, chiếm 4,1%, tăng tương ứng 12,6% và 46,8%.
Nhìn chung, trong tháng 1/2019, xuất khẩu hàng dệt may sang hầu hết các thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó, xuất khẩu tăng mạnh ở các thị trường như: Angola tăng 986,4%, đạt 4,24 triệu USD, Nigeria tăng 529,2%, đạt 6,77 triệu USD; Slovakia tăng 417,4%, đạt 0,14 triệu USD; Ai Cập tăng 182,9%, đạt 0,79 triệu USD. Tuy nhiên, hàng dệt may xuất khẩu sụt giảm mạnh ở một số thị trường như: Thổ Nhĩ Kỳ giảm 45,5%, đạt 2,13 triệu USD; Ukraine giảm 36,6%, đạt 0,26 triệu USD; Hy Lạp giảm 36%, đạt 0,42 triệu USD; Thụy Sỹ giảm 35,7%, đạt 0,71 triệu USD.Xuất khẩu hàng dệt may tháng 1/2019

ĐVT: USD

Thị trườngT1/2019+/- so với T12/2018(%)*+/- so với T1/2018(%)*
Tổng kim ngạch XK3.294.071.98118,9932,24
Mỹ1.590.946.16927,2233,54
Nhật Bản398.176.03920,3328,64
Hàn Quốc325.851.38928,3927,37
Trung Quốc đại lục125.054.983-17,9715,03
Anh84.217.76718,3233,32
Đức78.051.522-6,4216,01
Canada68.961.589-1,5446,34
Hà Lan65.004.998-0,7226,46
Pháp57.562.98716,9526,69
Campuchia55.897.09925,146,59
Tây Ban Nha48.920.40435,3224,76
Bỉ31.025.78221,4641,69
Indonesia27.867.84814,9102
Đài Loan (TQ)27.496.302-2,7723,63
Australia27.257.8308,7348,78
Hồng Kông (TQ)26.164.517-9,1937,51
Italia22.581.9144,4223,28
Thái Lan19.421.95027,0662,19
Nga18.777.58311,29150,24
Chile15.729.8203170,07
Mexico11.357.44415,4235,95
Bangladesh10.785.99986,1493,44
Malaysia9.870.450-11,426,89
Philippines9.353.413-3,525,2
Singapore8.777.457-20,17-9,96
Đan Mạch8.308.680-6,073,2
Thụy Điển8.292.255-13,0318,72
Ấn Độ7.647.7681,02117,63
U.A.E6.888.686-17,79-1,54
Nigeria6.769.556319,18529,2
Brazil6.586.45519,3521,26
Ba Lan5.563.99153,86-4,6
Saudi Arabia4.562.76429,0131,2
Angola4.236.62015,36986,4
Nam Phi3.876.36924,2877,32
Israel2.801.48055,585,65
Na Uy2.732.428-17,68-19,21
Myanmar2.545.8278,848,9
New Zealand2.399.524-10,06113,75
Thổ Nhĩ Kỳ2.134.05528,3-45,49
Áo2.084.0372,56-7,15
Achentina1.732.35415,25-9,23
Panama1.679.329-0,452,06
Séc1.349.0493,511,66
Ai Cập790.56255,8182,9
Thụy Sỹ705.710-35,05-35,73
Phần Lan690.18414,52-9,68
Lào666.298-31,92120,54
Hy Lạp416.421-4,48-36,09
Ukraine263.39316-36,57
Slovakia141.74384,07417,4
Hungary132.982203,72-8,47

(Tính toán từ số liệu của TCHQ)

Thủy Chung

Vinanet

TT năng lượng TG ngày 7/3: Dầu giảm do dự trữ dầu thô của Mỹ tăng, khí tự nhiên giảm

Giá dầu giảm trong ngày hôm nay, bởi sản lượng dầu thô của Mỹ kỷ lục và dự trữ nhiên liệu thương mại đang tăng. Khí tự nhiên chốt phiên 6/3 giảm do dự báo thời tiết ôn hòa hơn.

TT năng lượng TG ngày 7/3: Dầu giảm do dự trữ dầu thô của Mỹ tăng, khí tự nhiên giảm

Giá dầu giảm do dự trữ dầu thô của Mỹ tăng trong bối cảnh sản lượng kỷ lục
Dầu WTI kỳ hạn của Mỹ ở mức 56,11 USD/thùng, giảm 11 US cent hay 0,2% so với đóng cửa phiên trước. Dầu thô Brent vẫn chưa được giao dịch, đóng cửa phiên trước tại 65,99 USD/thùng tăng 13 US cent hay 0,2%.
Dự trữ dầu thô của Mỹ tăng nhiều hơn dự kiến trong tuần trước, dự trữ tăng khoảng 7,1 triệu thùng lên 452,93 triệu thùng, theo báo cáo hàng tuần của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA).
Sản lượng dầu thô của Mỹ vẫn ở mức kỷ lục 12,1 triệu thùng/ngày, tăng hơn 2 triệu thùng/ngày kể từ đầu năm 2018.
Sản lượng dầu của Mỹ tăng vọt đang phá hủy những nỗ lực giảm sản lượng 1,2 triệu thùng/ngày của OPEC trong năm nay để thắt chặt thị trường và hỗ trợ giá.
Alfonso Esparza, chuyên gia phân tích tại công ty môi giới OANDA cho biết “cân bằng giữa sản lượng ngày càng tăng của Mỹ và những nỗ lực cắt giảm sản lượng của OPEC+ để ổn định giá bị phá vỡ bởi dự trữ của Mỹ cao hơn dự kiến và OECD cảnh báo tăng trưởng toàn cầu giảm tác động tới nhu cầu năng lượng tương lai”.
OECD cho biết kinh tế thế giới sẽ tăng 3,3% trong năm 2019, giảm 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trước đó của OECD đưa ra hồi tháng 11/2018.
Khí tự nhiên của Mỹ giảm do dự báo thời tiết tuần tới ôn hòa hơn
Khí tự nhiên của Mỹ giảm từ mức cao nhất trong 5 tuần trong phiên 6/3/2019 do các dự báo thời tiết dịu hơn và nhu cầu sưởi trong tuần tới ít hơn so với dự kiến trước đây.
Các thương nhân cho biết thị trường trở nên ít biến động trong vài tuần qua khi mùa xuân tới mặc dù nhiệt độ trong tuần này vẫn lạnh.
Khí tự nhiên giao tháng 4/2019 trên sàn giao dịch New York giảm 4,3 US cent hay 1,5% đóng cửa phiên 6/3 tại 2,841 USD/mmBtu. Hợp đồng này đóng cửa ở mức cao nhất kể từ ngày 29/1/2019.
Trong tháng 2/2019, chênh lệch giữa mức giao dịch cao nhất và thấp nhất một ngày đối với hợp đồng giao tháng tới trung bình chỉ 3,4% hay 9 US cent/mmBtu. Từ đầu tháng 3 tới nay mức chênh này là 2,1% hay 6 US cent.
Bảng giá năng lượng thế giới sáng 7/3/2019
Mặt hàngĐơn vị tínhGiá hiện nay+/-Thay đổi so với 1 ngày trướcThay đổi so với 1 năm trước
Dầu WTIUSD/thùng56,53270,20,36 %-5,95%
Dầu BrentUSD/thùng66,43310,310,47 %4,47%
Khí tự nhiênUSD/mmBtu2,84950,0080,28 %3,44%
XăngUSD/gallon1,80050,0080,45 %-3,62%
Dầu đốtUSD/gallon2,02440,00480,24 %8,85%

Nguồn: VITIC/Reuters

H. Lan

Vinanet

TT cà phê ngày 07/3: Tiếp tục tăng 100 đồng/kg

Giá cà phê nhân xô một số tỉnh Tây Nguyên hôm nay tiếp nối đà tăng lên mức 32.600 – 33.400 đồng/kg. Tại cảng TPHCM, giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% cộng thêm 5 USD giao dịch ở 1.447 USD/tấn (FOB), trừ lùi ở 85 USD/tấn.

TT cà phê ngày 07/3: Tiếp tục tăng 100 đồng/kg

Tham khảo giá cà phê nhân xô tại Việt Nam  

TT nhân xôGiá trung bìnhThay đổi
FOB (HCM)1.447Trừ lùi: -85
Đắk Lăk33.400+100
Lâm Đồng32.600+100
Gia Lai33.400+100
Đắk Nông33.200+100
Hồ tiêu44.5000
Tỷ giá USD/VND23.1500
Đơn vị tính: VND/kg|FOB: USD($)/tấn

 Nguồn: Diễn đàn của người làm cà phê

Thị trường cà phê thế giới có diễn biến trái chiều, nhưng giá cà phê trong nước vẫn nhích lên theo đà hồi phục của robusta thế giới. Giá cao nhất chốt ở 33.400 đồng/kg tại Gia Lai và Đắk Lăk, 33.200 đồng/kg ở Đắk Nông và thấp nhất ở 32.600 đồng/kg tại Lâm Đồng.
Đồng real Brazil ổn định trong khi USD giảm nhẹ đã thúc đẩy đầu cơ trên cả hai sàn vẫn mạnh tay bán ròng trong phiên giao dịch trước. Các nhà quan sát cho rằng, mặc dù thị trường thiếu vắng sức bán ra từ Brazil vì đang diễn ra lễ hội Carnival năm nay nhưng sức mua cũng chưa đáng kể do lo ngại giá còn giảm thêm. Họ nhận định, thiếu vắng sức bán mới từ Brazil cũng là cơ hội để các thị trường hồi phục trong ngắn hạn.
Trên thị trường thế giới, cuối phiên giao dịch hôm 6/3, giá cà phê robusta giao tháng trong tháng 3/2019 trên sàn London tăng 0,4% xuống mức 1.517 USD/tấn.
Nhu cầu tiêu thụ cà phê được dự báo sẽ tăng trong thời gian tới. Lượng tiêu thụ cà phê của người dân Hoa Kỳ đã tăng lên mức cao nhất trong 6 năm vì người dân Hoa Kỳ ưa thích cà phê hơn trà và sự gia tăng của chế độ ăn uống bình dân.
Ở châu Á, cà phê ngày càng trở nên phổ biến khi lối sống của người dân chuyển sang giống người phương Tây. Do đó, các công ty sản xuất cà phê khổng lồ của Hoa Kỳ như Starbucks và Dunkin tiếp tục mở rộng thị trường ở châu Á.
Hiện tại, Starbucks sở hữu chuỗi hơn 3.000 cửa hàng tại thị trường Trung Quốc. Sự tăng trưởng này làm tăng sự cạnh tranh với công ty đối thủ – Luckin Brand. Điều này hoàn toàn tốt cho ngành cà phê.
Phạm Hòa

Hàng hóa TG sáng 7/3/2019: Giá biến động thất thường

Phiên 6/3/2019 trên thị trường quốc tế, giá dầu và vàng đều biến động thất thường trên các sàn giao dịch, trong khi vàng duy trì ở mức thấp.

Hàng hóa TG sáng 7/3/2019: Giá biến động thất thường

Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) và dầu Brent biến động trái chiều sau khi số liệu của Chính phủ Mỹ cho thấy lượng dầu dự trữ của nước này bất ngờ tăng mạnh.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 13 US cent hay 0,2% lên 65,99 USD/thùng, trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ tại New York giảm 34 US cent hay 0,6% xuống còn 56,22 USD/thùng.
Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA) cho biết lượng dầu dự trữ của Mỹ đã tăng 7,1 triệu thùng trong tuần trước, vượt xa dự đoán tăng 1,2 triệu thùng mà giới phân tích đưa ra trước đó. Ngược lại, lượng xăng dự trữ, lại giảm 4,2 triệu thùng, trong khi giới phân tích dự đoán chỉ giảm 2,1 triệu thùng.
Bên cạnh đó, giá dầu cũng chuyển động theo chiều hướng đi xuống của thị trường chứng khoán Mỹ, khi tiến trình đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc chưa cho thấy dấu hiệu tiến triển rõ ràng.
Thị trường “vàng đen” thời gian qua đã bị ảnh hưởng bởi sản lượng dầu thô của Mỹ đang trên đà tăng mạnh. EIA cho biết sản lượng của Mỹ ở mức 12,1 triệu thùng/ngày trong tuần trước, mức cao nhất từ trước đến nay.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng ổn định quanh mức thấp nhất 5 tuần trong bối cảnh đồng USD và chứng khoán giảm nhẹ. Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay ở mức 1.286,01 USD/ounce; vàng giao sau nhích nhẹ 0,2% lên 1.287,6 USD/ounce.
Giá vàng đã chạm mức thấp 1.280,70 USD/ounce trong phiên 5/3/2019, thấp nhất kể từ ngày 25/1, sau khi để mất hơn 4% kể từ lúc đạt mức cao nhất của 10 tháng hôm 20/2.
Số liệu yếu kém từ Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) trong vài tuần trước đó đã làm dấy lên đồn đoán rằng Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) có thể hạ dự báo lạm phát và tăng trưởng của khu vực trong năm 2019, đồng thời tạm ngừng nâng lãi suất trong cuộc họp ngày 7/3.
Trong khi đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã một lần nữa hạ dự báo cho nền kinh tế toàn cầu trong năm 2019 và 2020, viện dẫn những tranh chấp thương mại và bất ổn từ Brexit.
Ngoài ra, các nhà đầu tư đang chờ đợi báo cáo việc làm của Mỹ, dự kiến công bố ngày 8/3. Đây được xem là một chỉ dấu quan trọng để đánh giá thể trạng của nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Về những kim loại quý khác, giá palađi tăng 0,9% lên 1.529,51 USD/ounce. Giá bạc giao ngay giảm 0,3% xuống 15,07 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ ngày 27/12/2018 là 15 USD/ounce trong phiên trước đó. Giá bạch kim giao ngay giảm 1,6% xuống 823 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá nhôm và các kim loại công nghiệp khác giảm trong phiên do các nhà đầu tư đợi thêm những dấu hiệu về nhu cầu tại Trung Quốc sau Tết Nguyên đán có phục hồi hay không.
Nhôm LME chốt phiên giảm 0,4% xuống 1.866 USD/tấn. Đồng LME giao sau 3 tháng giảm 0,2% đóng cửa tại 6.468 USD/tấn. Giá đồng LME giao ngay cao hơn so với hợp đồng giao sau 3 tháng đến 70 USD/tấn, cao nhất kể từ tháng 1/2015, cho thấy nguồn cung thắt chặt. Giới phân tích cho biết tình trạng thiếu hụt chủ yếu trong hệ thống của LME, nguồn cung vẫn sẵn sàng ở những nơi khác.
Cho tới nay, những dấu hiệu nhu cầu kim loại tại Trung Quốc là không rõ ràng, với dự trữ tăng tại nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này và mức cộng của giá giao ngay yếu. Cũng gây áp lực lên thị trường này là lo ngại về tăng trưởng toàn cầu sau khi OECD hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 và 2020.
Chỉ số LME của 6 kim loại chính đã tăng 5% trong 3 tuần qua, với số liệu chỉ ra vị thế mua ròng tăng với nhiều kim loại.
Giá nguyên liệu thô sản xuất thép của Trung Quốc giảm trong phiên 6/3 sau khi thành phố sản xuất thép hàng đầu Đường Sơn duy trì cảnh báo khói bụi cao nhất trong bối cảnh thời tiết bất lợi, trong khi chính quyền tuyên bố tiếp tục các biện pháp chống khói bụi. Giá thép cũng giảm, với hợp đồng thép cây trong xây dựng tại Thượng Hải giảm 1,2% xuống 3.737 CNY/tấn. Thép cuộn cán nóng sử dụng trong ô tô và đồ gia dụng đã giảm 1,6% xuống 3.708 CNY. Hợp đồng quặng sắt trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên giảm xuống 610,5 CNY khi kết thúc phiên.
Báo động mức 1, mức cao nhất trong hệ thống cảnh báo ô nhiễm 4 cấp của Trung Quốc, diễn ra kể từ ngày 1/3/2019, yêu cầu các nhà máy thép hạn chế sản lượng 40 tới 70% hay thậm chí dừng sản xuất, phụ thuộc quy mô khí thải của họ. Tuy nhiên giao dịch trầm lắng trong hầu hết ngày, trong khi đó các nhà đầu tư đợi manh mối tiến triển trong các cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung để có quyết định chiều hướng giá cả. Thành phố sản xuất thép hàng đầu Trung Quốc, Đường Sơn đã kéo dài mức báo động cấp 1 do tình trạng thời tiết xấu duy trì.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 5/2019 giảm 0,95 US cent tương đương 1% xuống 98,70 US cent/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn tăng 5 USD tương đương 0,3% lên 1.532 USD/tấn.
Đường thô kỳ hạn tháng 5/2019 chốt phiên giảm 0,28 US cent hay 2,3% xuống 12,15 US cent/lb, thấp nhất kể từ ngày 7/1/2019. Thời tiết đang cải thiện tại Brazil và giá dầu giảm tiếp thêm áp lực cho thị trường đường. Giá dầu giảm có thể khuyến khích các nhà máy Brazil sản xuất thêm đường hơn là ethanol sinh học. Đường trắng kỳ hạn tháng 5/2019 giảm 4,8 USD hay 1,4% xuống 338,1 USD/tấn.
Giá cao su tại Tokyo giảm ngày thứ hai liên tiếp theo xu hướng của giá dầu. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) đóng cửa giảm 1 JPY xuống 204,6 JPY/kg. Hợp đồng cao su giao tháng 5/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 20 CNY xuống 12.455 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới
Mặt hàngĐVTGiá+/-+/- (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng56,22-0,34-0,6%
Dầu BrentUSD/thùng65,99+0,13+0,2%
Dầu thô TOCOMJPY/kl44.970,00+360,00+0,81%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu2,85+0,01+0,28%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon179,08+0,18+0,10%
Dầu đốtUS cent/gallon201,31-0,31-0,15%
Dầu khíUSD/tấn616,50+1,50+0,24%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl61.100,00+370,00+0,61%
Vàng New YorkUSD/ounce1.287,90+0,30+0,02%
Vàng TOCOMJPY/g4.608,00-9,00-0,19%
Bạc New YorkUSD/ounce15,12+0,03+0,20%
Bạc TOCOMJPY/g54,00-0,10-0,18%
Bạch kimUSD/ounce828,58+1,18+0,14%
PalađiUSD/ounce1.535,15-1,66-0,11%
Đồng New YorkUS cent/lb292,75+0,90+0,31%
Đồng LMEUSD/tấn6.468,00-10,00-0,15%
Nhôm LMEUSD/tấn1.866,00-8,00-0,43%
Kẽm LMEUSD/tấn2.788,00+8,00+0,29%
Thiếc LMEUSD/tấn21.400,00-165,00-0,77%
NgôUS cent/bushel371,00-1,50-0,40%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel448,75-1,25-0,28%
Lúa mạchUS cent/bushel268,50-0,50-0,19%
Gạo thôUSD/cwt10,86-0,01-0,09%
Đậu tươngUS cent/bushel902,50+0,50+0,06%
Khô đậu tươngUSD/tấn306,100,000,00%
Dầu đậu tươngUS cent/lb29,74-0,04-0,13%
Hạt cải WCECAD/tấn456,00+0,70+0,15%
Cacao MỹUSD/tấn2.245,00+88,00+4,08%
Cà phê MỹUS cent/lb98,70-0,95-0,95%
Đường thôUS cent/lb12,16-0,28-2,25%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb115,90+0,05+0,04%
BôngUS cent/lb74,21-0,40-0,54%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet370,50+10,40+2,89%
Cao su TOCOMJPY/kg201,30-3,30-1,61%
Ethanol CMEUSD/gallon1,34-0,01-0,44%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF

Thu Hải

Vinanet

Giá vàng hôm nay 8/3: USD tăng vọt, vàng xuống đáy mới

Giá vàng hôm nay 8/3 trên thị trường thế giới giảm xuống đáy 9 tuần do đồng USD tăng lên mức cao mới trong bối cảnh đồng euro và Nhân dân tệ yếu với lo ngại ngập tràn về 2 khu vực kinh tế này.

Tới đầu giờ sáng 8/3 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.283 USD/ounce.

Giá vàng giao tháng 4 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.286 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay cao hơn 1,5% (19,5 USD/ounce) so với đầu năm 2018. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 35,5 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn 1,1 triệu đồng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới giảm xuống đáy 9 tuần do đồng USD tăng lên mức cao mới trong bối cảnh đồng euro và Nhân dân tệ yếu với lo ngại ngập tràn về 2 khu vực kinh tế châu Âu và Trung Quốc.

Đồng USD tăng chủ yếu do đồng euro, bảng Anh và Nhân dân tệ giảm. Đồng euro giảm ngay sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho biết trong cuộc họp chính sách thường kỳ rằng tổ chức này sẽ không thay đổi lãi suất trong năm 2019 và bất ngờ tuyên bố sẽ cung cấp thêm thanh khoản cho các ngân hàng nhằm thúc đẩy cho vay.

Quyết định đẩy thanh khoản nằm ngoài dự đoán của thị trường. Nó đồng nghĩa với việc ECB nới lỏng chính sách tiền tệ sớm hơn so với hầu hết các dự báo trước đó. Đồng euro đã giảm nhanh chóng, góp phần đẩy đồng USD tăng nhanh.

Đồng NDT ở mức thấp sau khi Trung Quốc hạ mục tiêu tăng trưởng ở mức thấp 6-6,5% trong năm 2019 cũng góp phần đẩy đồng USD đi lên bất chấp nền kinh tế Mỹ cũng vừa công bố 1 số các thông tin không mấy tích cực về nền kinh tế, trong đó có thâm hụt thương mại ở mức sâu hơn đối với Trung Quốc.

Giá vàng hôm nay 8/3: USD tăng vọt, vàng xuống đáy mới
Giá vàng hôm nay: giảm xuống đáy mới.

Ở chiều ngược lại, những bình luận tiêu cực của một số quan chức thương mại Mỹ về triển vọng thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung khiến dòng tiền trở lại với vàng. Tuy nhiên, giới đầu tư vẫn đang chờ đợi những tín hiệu rõ ràng hơn.

Giới đầu tư cũng lo ngại về triển vọng kinh tế toàn cầu. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã một lần nữa hạ dự báo cho nền kinh tế toàn cầu trong năm 2019 và 2020, viện dẫn những tranh chấp thương mại và bất ổn từ Brexit. Thị trường cũng đang chờ số liệu bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ được công bố vào thứ Sáu (8/3).

Trên thị trường vàng trong nước, chốt phiên ngày 7/3 đa số các cửa hàng vàng giữ giá vàng 9999 trong nước gần như không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên liền trước.

Tính tới cuối phiên giao dịch 7/3, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 36,52 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,62 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 36,45 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,64 triệu đồng/lượng (bán ra).

Theo Doji, trước diễn biến tăng giảm trong biên độ hẹp của giá vàng thế giới, kim quý trong nước dịch chuyển cùng xu hướng với diễn biến khá trầm lắng. Các giao dịch trong phiên phần lớn là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Ghi nhận đến cuối phiên, lượng khách theo chiều mua vàng vào chiếm khoảng 60% trên tổng số lượng giao dịch tại Doji.

V. Minh

Giá dầu tăng mạnh nhờ lạc quan về đàm phán thương mại Trung Quốc – Mỹ

Giới đầu tư trên thị trường năng lượng đã không ngừng dự báo về thỏa thuận thương mại Mỹ – Trung Quốc, dự kiến hai bên sẽ có thể thông nhất về một thỏa thuận thương mại trong tháng này.

Giá dầu tăng mạnh nhờ lạc quan về đàm phán thương mại Trung Quốc – Mỹ

Ảnh: MarketWatch

Phiên giao dịch ngày thứ Hai, giá dầu thô giao kỳ hạn tăng khi mà OPEC và một số nước đồng minh giảm sản lượng dầu, tuy nhiên, giá của dầu ở mức chốt phiên vẫn thấp hơn mức cao được thiết lập trong phiên. Nhà đầu tư thận trọng hơn với những loại tài sản được coi là rủi ro.
Chuyên gia phân tích về thị trường năng lượng tại Informa Economics, ông Marshall Steeves, nhận xét: “Sự mạnh lên của giá dầu, như chúng ta đang thấy, có liên quan đến kỳ vọng rằng các cuộc đối thoại Mỹ – Trung Quốc sẽ có lợi cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu, giúp cho thị trường chứng khoán toàn cầu hồi phục”.
Đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Hai, giá dầu thô giao kỳ hạn tháng 4/2019 tăng 79 cent tương đương 1,4% lên 56,59USD/thùng, trong phiên giao dịch đã có lúc giá dầu lên mức 57USD/thùng. Vào phiên ngày thứ Sáu, giá dầu giảm và chốt tuần giảm 2,6%, theo Dow Jones Market Data.
Thị trường London, giá dầu Brent giao kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 60 cent tương đương 0,9% lên 65,67USD/thùng, giá dầu như vậy thấp hơn so với mức 66,34USD/thùng thiết lập trong phiên. Giá dầu Brent kỳ hạn gần nhất có tuần giảm khoảng 3,2%.
Giới đầu tư trên thị trường năng lượng đã không ngừng dự báo về thỏa thuận thương mại Mỹ – Trung Quốc, dự kiến hai bên sẽ có thể thông nhất về một thỏa thuận thương mại trong tháng này, theo báo cáo từ Wall Street Journal.
Bắc Kinh đã đề nghị giảm thuế và bớt đi các biện pháp hạn chế với hàng nông sản, hóa học, ô tô và nhiều sản phẩm khác của Mỹ. Trong khi đó, Washington đang cân nhắc gỡ bỏ hết tất cả các biện pháp hạn chế với hàng Trung Quốc.
Diễn biến của các cuộc đối thoại rất quan trọng với giao dịch dầu bởi Trung Quốc hiện đang là một trong những nước nhập khẩu dầu lớn nhất, đối đầu thương mại Mỹ – Trung Quốc bị coi như mối nguy với nguồn cung dầu đang tăng lên.
Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak nói với phóng viên rằng Nga sẽ giảm sản lượng dầu xuống 228 nghìn thùng/ngày so với mức công bố vào tháng 10/2018. OPEC và các nước đồng minh ngoài OPEC dẫn đầu bởi Nga đã cam kết giảm sản lượng khoảng 1,2 triệu thùng dầu/ngày.
TRUNG MẾN

Kinh tế 2 tháng đầu năm: Xuất khẩu tăng, lạm phát thấp

 Kinh tế Việt Nam đã đi qua 2 tháng khởi đầu với nhiều tín hiệu đáng mừng, song phân tích chuyên sâu các chuyên gia cũng chỉ ra một số cảnh báo cần được cơ quan điều hành lưu ý.

  • Lạm phát năm 2019 có thể dưới 4%
Công nghiệp đạt khá, nông nghiệp khó đầu ra
Tăng trưởng kinh tế tiếp tục đạt kết quả tích cực. Sau 3 năm chuyển từ “trọng cầu” sang “trọng cung”, xuất siêu tăng lên, tức là GDP lớn hơn tích lũy tài sản và tiêu dùng cuối cùng, tháng 1 đã xuất siêu tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Tính chung 2 tháng nhập siêu nhẹ, nhưng có triển vọng xuất siêu. Nông nghiệp tiếp tục được mùa, có nhiều sản phẩm cung tiếp tục vượt cầu, mặc dù có Tết Nguyên đán nhưng giá cả tăng thấp, không tạo ra cơn sốt giá nào theo loại, theo địa bàn, theo thời gian. Tăng trưởng công nghiệp tiếp tục đạt khá; có nhiều ngành và sản phẩm chủ yếu tăng cao hơn tốc độ chung và tăng cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, nông nghiệp gặp khó khăn ở đầu ra, đặc biệt là lúa gạo, một số nông sản thực phẩm, có loại quay trở lại phải “giải cứu” như lúa gạo.

Tiêu thụ trong nước thể hiện ở tổng mức bán lẻ (TMBL) hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tính theo giá thực tế tăng khá cao (12,2%); nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì vẫn tăng khá, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng giá tiêu dùng, chứng tỏ lượng tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng khá. Đây là yếu tố có tác động về hai mặt; một mặt góp phần vào tăng trưởng kinh tế; mặt khác là kết quả và chứng tỏ mức sống thực tế đã được cải thiện một bước quan trọng.
Lượng tiêu thụ trong nước tăng khá có một phần do lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt quy mô khá (3,09 triệu lượt người), với mức chi tiêu bình quân 1 lượt khách như năm 2018 (650,4 USD), tổng chi tiêu trong 2 tháng đạt khoảng 2 tỷ USD, tương đương với 45 nghìn tỷ VND, bằng 5,7% TMBL giá thực tế trong 2 tháng qua.
Tuy nhiên, thu nhập của nông dân, người lao động ở các DN giải thể, ngừng hoạt động bị sụt giảm, làm giảm cầu, tác động tiêu cực đến tăng cung, tăng sản xuất ở trong nước. Đây là cảnh báo cần thiết.
Nhiều tín hiệu tích cực
Trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu 2 tháng đầu năm đạt được một số điểm tích cực chủ yếu. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đạt khá, trong đó khu vực kinh tế trong nước cao hơn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và cao hơn tốc độ chung (tương ứng tăng 9,9% so với 5,9% và 4,3%).
Tăng trưởng đạt được ở nhiều mặt hàng, trong đó có một số mặt hàng tăng cao hơn tốc độ chung. Mới qua 2 tháng, đã có 9 mặt hàng đạt trên 1 tỷ USD (dệt may; điện thoại và linh kiện; máy vi tính; giày dép; máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng; gỗ và sản phẩm gỗ; thủy sản; phương tiện vận tải và phụ tùng; sắt thép các loại). Đây là những mặt hàng có lợi thế về lao động đông đảo, giá cả rẻ và cơ hội hưởng lợi khi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung xảy ra…
Song do xuất khẩu đạt quy mô và có tốc độ tăng thấp hơn nhập khẩu, nên trong quan hệ xuất, nhập khẩu với nước ngoài, Việt Nam kỳ này ở vị thế nhập siêu nhẹ với mức xuất siêu của cùng kỳ năm trước.
Xuất siêu sang Mỹ tăng (6,2 tỷ USD so với 4,3 tỷ USD); nhập siêu sang Hàn Quốc giảm (4,3 tỷ USD so với 4,7 tỷ USD); đặc biệt với Nhật Bản đã chuyển từ nhập siêu (60 triệu USD) sang xuất siêu (600 triệu USD); Nhập siêu từ Trung Quốc tăng (5,6 tỷ USD so với 3,5 tỷ USD). Xuất khẩu một số mặt hàng giảm, như: Rau quả, hạt điều, cà phê, hạt tiêu, gạo, sắn và các sản phẩm của sắn, than, xăng dầu, phân bón, thủy tinh…
Vốn đầu tư, bao gồm cả nguồn ngân sách và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có mặt đạt kết quả tích cực nhưng tỷ lệ thực hiện kế hoạch năm của nguồn vốn ngân sách còn thấp (9,1%). Lượng vốn FDI đăng ký đạt 3299,7 triệu USD, tăng 57,8% (đăng ký mới 2444,9 triệu USD, tăng 25,1%, bổ sung 854,8 triệu USD, tăng 22,1%). Tổng lượng vốn thực hiện ước đạt 2,58 tỷ USD, tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước với tốc độ khá. Đây là một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào việc mua vào lượng ngoại tệ lớn ngay từ đầu năm, tăng dự trữ ngoại hối, góp phần ổn định tỷ giá VND/USD, kiểm soát lạm phát theo mục tiêu…
CPI sau 2 tháng năm nay đã tăng thấp hơn tốc độ tăng tương ứng của cùng kỳ năm trước (0,9% so với 1,24%). Điều này được giải thích là do các yếu tố của lạm phát tác động yếu, cung tiếp tục vượt cầu. Giá nhập khẩu một số nguyên vật liệu giảm…
ĐỨC MINH

Ô tô từ các nước ASEAN “đổ bộ” vào Việt Nam ngay từ đầu năm

Dẫn số liệu từ Tổng cục Hải quan, Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, Thái Lan và Indonesia đang dẫn đầu về lượng xe nhập khẩu vào Việt Nam do được hưởng ưu đãi về thuế.

ảnh 1

Ô tô nhập khẩu tháng 1-2019 tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái

Theo đó, trong số 11.685 chiếc ô tô nhập khẩu trong tháng 1-2019 với trị giá gần 273,83 triệu USD, xe ô tô xuất xứ từ thị trường Thái Lan là 7.345 chiếc, tương đương 153,86 triệu USD, chiếm 63% trong tổng lượng ô tô nhập khẩu của cả nước và chiếm 56,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu, dẫn đầu về số lượng xe Việt Nam nhập khẩu.

Nếu so với tháng 12-2018, lượng xe nhập từ thị trường này giảm 8,2% về số lượng và giảm 0,2% về kim ngạch, nhưng so với tháng đầu năm 2018 thì tăng rất mạnh gấp 204 lần về số lượng và gấp 127,5 lần về kim ngạch.

Giá ô tô nhập khẩu từ thị trường Thái Lan tăng 8,8% so với tháng 12-2018 nhưng giảm 37,5% so với cùng kỳ, đạt trung bình 20.948 USD/chiếc.

Tiếp đó, ô tô xuất xứ từ Indonesia đứng thứ hai về số lượng, với 2.761 chiếc, tương đương 39,3 triệu USD, chiếm 23,7% trong tổng lượng ô tô nhập khẩu của cả nước và chiếm 14,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu; giảm 35% về lượng và giảm 30,9% về kim ngạch so với tháng cuối năm 2018.

Ô tô nhập khẩu từ thị trường này hầu hết là loại giá rẻ, với mức trung bình 14.233 USD/chiếc, tăng 6,4% so với tháng 12-2018.

Trung Quốc và Nhật Bản cũng là thị trường xuất nhiều xe vào Việt Nam sau Thái Lan và Indonesia.

Theo thống kê của hải quan, lượng xe nhập khẩu trong tháng 1 chủ yếu là ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống với 7.862 chiếc, chiếm tỷ trọng hơn 67%; ô tô tải với 3.452 chiếc, chiếm tỷ trọng 30%; còn lại là ô tô trên 9 chỗ ngồi và xe chuyên dụng.

Đại diện Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại cho hay, dù chưa có thống kê cụ thể của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), song số liệu từ một số nhà sản xuất, lắp ráp vừa công bố cho thấy sức tiêu thụ ô tô rất tốt từ đầu năm.

Chẳng hạn, Hyundai Thành Công Việt Nam cho biết, tổng doanh số tháng 1 đạt 6.807 xe, tăng trưởng 11% so với tháng 12-2018.

“Sự phục hồi của thị trường ôtô Việt Nam trong năm 2019 được hỗ trợ từ nhu cầu tiêu dùng ôtô trên thị trường đang tăng mạnh. Giới chuyên môn cũng dự báo, năm 2019 và những năm tiếp theo, thị trường ôtô Việt Nam hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển mạnh”- đại diện Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại nhận định.

Theo các chuyên gia, năm 2019, ôtô nhập khẩu nguyên chiếc có xuất xứ từ các nước nội khối kỳ vọng tiếp tục được hưởng lợi từ Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Sau khi loại bỏ thuế nhập khẩu, mức giá của ôtô đến từ các quốc gia này dao động trong khoảng 300 – 500 triệu đồng/chiếc, phù hợp với thu nhập của phần lớn người dân Việt Nam.

Bên cạnh mức giá “mềm”, người tiêu dùng cũng có nhiều lựa chọn hơn với các dòng xe từ Indonesia và Thái Lan. Do đó, doanh số của các dòng xe bình dân và trung cấp vào năm 2019 được kỳ vọng sẽ tăng mạnh ở mức 20% so với cùng kỳ năm trước.

Không chỉ vậy, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) nhiều khả năng sẽ có hiệu lực vào giữa năm 2019. Điều này hứa hẹn sẽ mang lại tín hiệu tốt cho dòng xe hơi cao cấp.

Bởi theo thỏa thuận, thuế nhập khẩu đối với ôtô có xuất xứ từ châu Âu sẽ được cắt giảm dần từ mức 70% về 0% trong vòng 10 năm tới. Sự cắt giảm này hứa hẹn kích thích sức mua đối với ôtô hạng sang trong dài hạn.

Ngay trong tháng 3-2019, Toyota, Mazda, Kia đã đưa ra nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá nhằm thu hút khách hàng.

Hà Linh

Tỷ giá ngoại tệ ngày 5/3: USD chưa ngừng tăng

Chỉ số giá USD trên thị trường thế giới vẫn đang xu hướng tăng, hiện đã lên tới 96,58 điểm.

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (USD Index) đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với 6 loại tiền tệ chính (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đầu phiên sáng nay đang ở mức 96,58 điểm, cao hơn mức 96,38 điểm cùng giờ phiên hôm qua.

Chỉ số USD Index vẫn đang xu hướng tăng kể từ phiên cuối tháng 2 ở mức 95,60 điểm, đến nay chưa thấy xu hướng giảm.

Theo Bloomberg, USD so với nhiều đồng tiền chủ chốt khác, hiện ở mức: 1 euro đổi 1,133 USD; 111,84 yen đổi 1 USD  và 1,317 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,707 Nhân dân tệ (CNY).

Tại thị trường trong nước, nhiều ngân hàng sáng nay niêm yết giá mua – bán USD biến động nhẹ so với hôm qua. Cụ thể, Vietcombank niêm yết giá 23.150 đồng (mua vào) và 23.250 đồng (bán ra). Ngân hàng BIDV cũng công bố cùng mức giá này.

VietinBank mua – bán giá 23.153-23.253 đồng/USD, tăng 1 đồng mỗi chiều giao dịch.

Techcombank giao dịch ở mức 23.130-23.250 đồng/USD.

PV/VOV.VN

Phiên sáng 15/2: Áp lực bán gia tăng, thị trường quay đầu

Sau 4 phiên tăng mạnh liên tiếp, áp lực bán đã dâng cao trong phiên giao dịch sáng cuối tuần 15/2 khiến thị trường chìm trong sắc đỏ và chỉ số VN-Index quay đầu đi xuống.

Sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, thị trường bất ngờ khởi sắc trong những phiên giao dịch đầu tiên của Xuân Kỷ Hợi 2019. VN-Index liên tục phá vỡ ngưỡng kháng cự và trong phiên hôm qua (ngày 14/2), chỉ số này đã vượt mốc 950 điểm.

Cùng với dòng tiền trong nước ngày càng tham gia sôi động hơn giúp thanh khoản cải thiện qua từng phiên, nhà đầu tư nước ngoài cũng hỗ trợ tốt cho đà tăng của thị trường khi liên tục mua ròng mạnh hàng trăm tỷ đồng. Trong phiên hôm qua, khối ngoại đã mua ròng kỷ lục hơn 1.400 tỷ đồng với yếu tố đột biến đến từ cổ phiếu lớn MSN.

Trong phiên 14/2, mặc dù thị trường vẫn duy trì đà tăng nhưng diễn biến đã có sự phân hóa khá rõ nét. Theo nhận định của BVSC, áp lực bán chốt lời có thể sẽ gia tăng trong những phiên tới khi nhiều nhóm cổ phiếu đã tăng đáng kể trong khoảng thời gian ngắn. Dòng tiền được dự báo sẽ tiếp tục luân phiên dịch chuyển vào các nhóm cổ phiếu chưa tăng nhiều hoặc đang điều chỉnh tích lũy để tìm kiếm lợi nhuận…

Không nằm ngoài dự đoán trên, bước vào phiên giao dịch sáng cuối tuần 15/2, áp lực bán dâng cao khiến thị trường chìm trong sắc đỏ. Chỉ số VN-Index quay đầu điều chỉnh sau 4 phiên tăng khá mạnh liên tiếp.

Hầu hết nhóm cổ phiếu bluechip cũng đảo chiều giảm khiến biên độ giảm gia tăng, VN-Index nhanh chóng để mất mốc kháng cự 950 điểm trong đợt khớp lệnh liên tục. Trong đó, cặp đôi dẫn dắt thị trường trong phiên hôm qua là VIC và VHM, cùng nhóm cổ phiếu vua cũng lùi về giao dịch trong sắc đỏ, là gánh nặng chính của thị trường.

Tương tự, áp lực bán gia tăng cũng khiến sàn HNX rung lắc quanh mốc tham chiếu và liên tục đổi sắc.

T.Thúy

Giá hồ tiêu hôm nay 15/2: Cao nhất 47.000 đồng/kg

Thị trường hồ tiêu nguyên liệu trong nước hiện vẫn im ắng và đứng giá sau nhiều ngày liên tiếp.

Mở cửa phiên giao dịch hôm nay (15/2/2019), thị trường hồ tiêu vẫn chưa chứng kiến bước tăng trưởng mới và mức giá hồ tiêu nguyên liệu vẫn đang tiếp tục đi ngang như những ngày vừa qua. Giá tiêu hôm nay dao động trong khoảng 45.000 – 47.000 đồng/kg.

Cụ thể, giá tiêu tại Châu Đốc (Bà Rịa – Vũng Tàu) đang đứng ở mức 46.500 đồng/kg. Tương tự giá tiêu tại Đắk Lắk (Ea H’leo), Đắk Nông (Gia Nghĩa), Bình Phước đang ở mức 45.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đồng Nai đứng mức 45.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai (Chư Sê) vẫn giữ nguyên mức giá hôm qua, còn 45.000 đồng/kg. Giá tiêu Bình Phước đang ở mức 46.000 đồng/kg.

Giá hồ tiêu hôm nay 15/2: Tiếp tục đứng giá
Thị trường hồ tiêu trong nước hiện vẫn im ắng và chưa có biến động mới.

Đầu tháng 2/2019, giá hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng toàn cầu biến động không đồng nhất so với tháng 1/2019. Cụ thể, tại Brazil, giá hạt tiêu đen duy trì ổn định ở mức 2.250 USD/tấn kể từ ngày 9/1/2019 đến nay.

Trên sàn Kochi – Ấn Độ, ngày 8/2/2019 giá hạt tiêu đen giao ngay đạt mức 5.246 USD/tấn, tăng 0,2% so với ngày 31/1/2019, nhưng giảm 0,3% so với ngày 10/1/2019. Tại cảng Lampung ASTA của Indonesia, ngày 8/2/2019, giá hạt tiêu đen xuất khẩu của nước này đạt mức 2.698 USD/tấn, giảm 3,8% so với ngày 31/1/2019 và giảm 5,0% so với ngày 10/1/2019. Giá hạt tiêu trắng xuất khẩu đạt mức 4.257 USD/tấn, tăng 0,6% so với ngày 31/1/2019, nhưng giảm 3,8% so với ngày 10/1/2019.

Tại cảng Kuching của Malaysia, phiên giao dịch ngày 8/2/2019 giá hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng xuất khẩu của nước này cùng tăng 0,4% so với ngày 31/1/2019, so với ngày 10/1/2019 tăng lần lượt 0,6% và 0,5%, đạt mức 3.036 USD/tấn và 4.606 USD/tấn.

Rose
Theo Đời sống Plus/GĐVN

Đưa nông nghiệp sản xuất theo hướng công nghiệp

Kế hoạch đầu tư 7.800 tỷ đồng xây dựng Khu công nghiệp chuyên phục vụ nông nghiệp Vùng đồng bằng Bắc Bộ tại huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình) mà Công ty Ô tô Trường Hải (Thaco) vừa công bố đã gây sự chú ý và thú vị cho những người quan tâm.

.
Áp dụng cơ giới – tự động hóa và quản trị dựa trên nền tảng số hóa 4.0, theo chuỗi giá trị khép kín và chuyên biệt cho các loại nông sản là tầm nhìn mới của ngành nông nghiệp Việt Nam

Sự chú ý ở đây không chỉ bởi Trường Hải là một trong những doanh nghiệp tư nhân lớn đầu tư dự án nông nghiệp quy mô, mà còn bởi điểm khác biệt lớn nhất là Thaco và doanh nhân Trần Bá Dương đã bước vào lĩnh vực nông nghiệp sau khi thành danh trong sản xuất công nghiệp.

Có lẽ tư duy, kỹ năng quản trị trong sản xuất công nghiệp đã được Thaco áp dụng khi xây dựng Khu công nghiệp chuyên phục vụ nông nghiệp Vùng đồng bằng Bắc Bộ. Khu công nghiệp này chỉ rộng 250 ha, nhưng ngay từ đầu, Thaco đã xác định rõ các phân khu chức năng. Thaco còn thành lập Công ty Đầu tư khu công nghiệp và sẽ triển khai thành lập Công ty Sản xuất, chế biến nhằm cung ứng giống, vật tư, giải pháp canh tác, thu hoạch, chế biến bao tiêu sản phẩm… Xem tiếp trang 3

Đầu tư vào nông nghiệp – một trong những ngành kinh tế chủ lực của đất nước – dù có sự bứt tốc trong những năm qua, song vẫn còn nhiều hạn chế khi lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực này tính đến cuối năm 2018 chỉ chiếm 5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, số doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp mới chiếm 15% tổng số doanh nghiệp của cả nước, trong đó chủ yếu là quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Có lẽ, với dự án của mình, ông Dương kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi trong lĩnh vực nông nghiệp theo hướng sản xuất công nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, chất lượng an toàn, có tính ổn định và đảm bảo tính cạnh tranh.

Dựa trên những nguồn lực tích lũy được từ qua trình phát triển ở một lĩnh vực rất cơ bản của ngành công nghiệp như cơ khí, Thaco cũng đã đặt lên vai mình trách nhiệm tham gia góp phần thay đổi và phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam với tầm nhìn mới, áp dụng cơ giới – tự động hóa và quản trị dựa trên nền tảng số hóa 4.0, theo chuỗi giá trị khép kín và chuyên biệt cho các loại nông sản.

Người ta vẫn chưa quên, điều khiến doanh nhân Đoàn Nguyên Đức, người đứng đầu Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai chọn ông Dương là người đồng hành để vượt khó và phát triển dự án nông nghiệp quy mô 84.000 ha tại Việt Nam, Lào và Campuchia chính là kỹ năng quản trị bên cạnh nguồn tài chính sẵn có. Với khối tài sản hơn 53.000 tỷ đồng và công ăn việc làm của khoảng 30.000 con người, Hoàng Anh Gia Lai chắc hẳn đã “đãi cát rất kỹ để tìm vàng” nhằm chọn ra người tri kỷ, trao gửi tâm huyết của mình.

Thực tế, Thaco đã đầu tư vào Hoàng Anh Gia Lai gần 10.000 tỷ đồng trong khoảng 1 năm qua để tái cơ cấu nợ, hỗ trợ áp dụng cơ giới hóa các khâu trong sản xuất từ làm đất, chăm sóc, thu hoạch… đến hệ thống logistics. Thaco còn đầu tư hai khu công nghiệp chuyên về nông, lâm nghiệp tại Chu Lai và Đông Nam Bộ, đồng thời dốc sức xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường xuất khẩu. Điều đó cho thấy thế mạnh về tài chính, cùng tư duy khác biệt của Thaco khi áp dụng vào lĩnh vực kém thế hơn là nông nghiệp.

Không chỉ mang ý nghĩa với bản thân doanh nghiệp khi đa dạng ngành nghề hoạt động, Dự án Khu công nghiệp chuyên phục vụ nông nghiệp Vùng đồng bằng Bắc Bộ của Thaco còn góp phần thay đổi quan hệ sản xuất, tạo nền tảng để ngành nông nghiệp khu vực này phát triển phù hợp với xu thế mới, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Dự án này còn cho thấy tính tiên phong và tư duy đột phá về tích tụ ruộng đất trên tinh thần hài hòa lợi ích giữa người dân, Nhà nước và doanh nghiệp, giúp nông dân thay đổi tư duy làm nông nghiệp. Theo đó, đích đến không chỉ là “cơm no, áo ấm”, là “giàu mạnh cùng nông nghiệp”, mà cao hơn, như lời Thủ tướng phát biểu tại lễ công bố Dự án của Thaco sáng 14/2, thì nông nghiệp còn là “nền tảng thể chế trên con đường phát triển XHCN vì một Việt Nam độc lập, tự cường, không để người dân nào bị bỏ lại phía sau”.

Lẽ dĩ nhiên, điều này không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực của doanh nghiệp, vào quyết sách lớn của Chính phủ, mà còn cần tư duy mới mang tính đột phá khi xây dựng chính sách liên quan tới vấn đề hạn điền, tới vấn đề huy động vốn đầu tư trong nước và nước ngoài… Khi đó, Việt Nam mới có thể hình thành một một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Hoàng Minh

Giá vàng ngày 15/2: Kim quý vàng bật tăng trở lại sau ngày vía Thần Tài

Trong khi đó, giá vàng miếng giao ngay tại thị trường thế giới đã trở lại ngưỡng cao là 1311 USD/Oz.

Giá vàng thế giới đã tăng trở lại vào thứ Sáu khi đồng USD suy yếu nhẹ sau khi các dữ liệu đáng thất vọng cho thấy đà tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ đã chậm lại, động thái khiến tâm lý các nhà đầu tư trở nên nguội lạnh.

Doanh số bán lẻ của Hoa Kỳ ghi nhận mức giảm lớn nhất của nước này trong hơn 9 năm qua, cho thấy sự suy giảm mạnh trong hoạt động kinh tế vào cuối năm 2018.

Chính trường Hoa Kỳ đang tiếp tục có nhiều biến động khi Quốc hội nước này vừa thông qua khoản ngân sách trị giá 1,375 tỷ USD, điều này càng khiến ông Trump không hài lòng. Trước đó, Nhà Trắng xác nhận sẽ ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia để gây quỹ cho bức tường biên giới.

Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC sau ngày vía Thần Tài đã bất ngờ bật tăng trở lại sau khi giảm sâu 100.000 đồng/lượng, cụ thể đến 9h sáng nay, Tập đoàn DOJI đã niêm yết giá mua vào ở ngưỡng 36,65 triệu đồng/lượng, trong khi bán ra ở ngưỡng 37,15 triệu đồng/lượng.

Cùng thời điểm, Công ty VBĐQ Sài Gòn cũng thu mua vàng SJC tại mức 36,63 triệu đồng/lượng và bán ra tại mức 36,85 triệu đồng/lượng.

Giá vàng SJC được Công ty Bảo Tín Minh Châu giao dịch lần lượt tại mức 36,55 – 37,1 triệu đồng/lượng.

Nhìn chung, biên độ vàng đã được kéo dãn trên 50.000 đồng/lượng. Sau khi kết thúc ngày vía Thần Tài, nhiều doanh nghiệp cháy hàng dù lượng hàng đã được chuẩn bị gần 1 năm và tăng khoảng 30% so với năm trước.

Saudi Arabia tuyên bố sẽ giảm sản lượng, giá dầu tăng mạnh

Saudi Arabia – nước nắm quyền lực lèo lái OPEC, đã cam kết sẽ tiếp tục giảm sản lượng trong những tháng tới, mức giảm ước thêm khoảng 500 nghìn thùng dầu/ngày.

Saudi Arabia tuyên bố sẽ giảm sản lượng, giá dầu tăng mạnh

Ảnh: Noble Energy

Phiên giao dịch ngày thứ Tư, giá dầu thô giao kỳ hạn tăng, giá dầu trên thị trường thế giới đóng cửa ở mức cao nhất tính từ tháng 11/2018. Những báo cáo gần đây cho thấy sản lượng toàn cầu tiếp tục giảm, ngoài ra lạc quan về đàm phán thương mại Mỹ – Trung Quốc đẩy cao giá dầu.
Giá dầu toàn cầu, tuy nhiên đóng cửa dưới mức cao được thiết lập trong phiên. Số liệu gần đây cho thấy nguồn cung dầu nội địa Mỹ tăng tuần thứ 4 liên tiếp.
Thị trường New York, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 80 cent tương đương 1,5% lên 53,90USD/thùng.
Trong phiên đã có lúc giá dầu chạm mức 54,60USD/thùng. Mức đóng cửa của giá dầu như vậy cao nhất tính từ ngày 6/2/2018, theo Dow Jones Market Data.
Thị trường London, giá dầu Brent kỳ hạn tháng 4/2019 tăng 1,19USD/thùng tương đương 1,9% lên 63,61USD/thùng. Giá dầu giao kỳ hạn gần nhất đóng cửa ở mức cao nhất tính từ ngày 19/11/2018.
Theo Financial Times đưa tin, Saudi Arabia – nước nắm quyền lực lèo lái OPEC, đã cam kết sẽ tiếp tục giảm sản lượng trong những tháng tới.
Thông tin trên được đưa ra bởi Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia, ông Khalid al-Falih. Cụ thể, Saudi Arabia sẽ giảm sản lượng thêm khoảng 500 nghìn thùng/ngày xuống mức khoảng 9,8 triệu thùng dầu/ngày trong tháng 3/2019.
Chuyên gia phân tích tại Commerzbank viết trong một nghiên cứu gần đây: “Ước tính sản lượng dầu sẽ giảm khoảng 500 nghìn thùng/ngày so với thỏa thuận giảm sản lượng ban đầu, như vậy có thể thấy Saudi Arabia đã tuân thủ quá tốt yêu cầu giảm sản lượng”.
Tính đến ngày thứ Tư, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) trong báo cáo hàng tháng chỉ ra nguồn cung dầu toàn cầu giảm khoảng 1,4 triệu thùng dầu/ngày xuống 99,7 triệu thùng dầu/ngày.
TRUNG MẾN

CPTPP thúc đẩy hoàn chỉnh thể chế kinh tế của Việt Nam

Ý kiến chuyên gia đánh giá cao những nỗ lực cải cách vừa qua của Chính phủ và tin rằng trong 5 tới 10 năm tới, hệ thống thể chế kinh tế của Việt Nam sẽ hoàn chỉnh, trong bối cảnh CPTPP đã chính thức có hiệu lực.

Nền kinh tế Việt Nam hiện có độ mở rất lớn. Hình ảnh cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu sôi động tại cảng Hải Phòng.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan khẳng định điều này khi trả lời phỏng vấn Báo điện tử Chính phủ về những cơ hội và thách thức của Việt Nam trong kỷ nguyên CPTPP và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

CPTPP tạo vị thế khá thuận lợi cho Việt Nam trong các quan hệ khác

Đã có rất nhiều phân tích, đánh giá từ nhiều phía khác nhau về CPTPP. Cá nhân bà đánh giá thế nào?

Năm 2009, Việt Nam bắt đầu tham gia đàm phán TPP với tư cách quan sát viên, sau đó quyết định đàm phán chính thức từ năm 2010 với những nỗ lực vô cùng to lớn, nhất là sau khi Mỹ quyết định rút khỏi TPP, Việt Nam càng chứng tỏ được sự cố gắng, tích cực của mình để có được CPTPP.

Tôi cho rằng việc tham gia đàm phán TPP và CPTPP là một trong những quyết định tốt nhất, đúng đắn, sáng suốt nhất của Việt Nam. Khi bắt đầu đàm phán TPP, chúng ta đã có hai năm là thành viên của WTO, nhưng chúng ta cũng hiểu đó chỉ là bước phát triển theo bề rộng để rồi từ nền tảng WTO với những nguyên tắc hết sức cơ bản, chúng ta có thể nâng tầm hội nhập cao hơn.

Ai cũng biết, một mong muốn lớn của chúng ta trong TPP là có thị trường Hoa Kỳ rộng mở với những nguyên tắc làm ăn lâu dài trên cơ sở bình đẳng hơn, mang lại lợi ích nhiều hơn cho cả hai bên. Nhưng ngay cả khi Hoa Kỳ rút ra, những lợi ích đó tuy có phần bớt đi nhưng về cơ bản vẫn còn với các thành viên còn lại.

Đồng thời, khi Hoa Kỳ rút ra, các nước còn lại cũng bớt đi một số sức ép phải chấp nhận một số điều kiện khá khó của Hoa Kỳ. Như 22 điều kiện chưa thực hiện ngay trong CPTPP hầu hết đều liên quan tới sở hữu trí tuệ, tức là phần Hoa Kỳ đòi hỏi khắc nghiệt  nhất, các nước khó chấp nhận nhất và phải nhượng bộ nhiều nhất.

Tuy nhiên, các nước cũng kỳ vọng về lâu dài Hoa Kỳ có thể tham gia trở lại vì lợi ích của chính họ và sẽ có các nền kinh tế khác tham gia CPTPP.

Là thành viên sáng lập CPTPP, Việt Nam có quyền chấp nhận hay không chấp nhận các nước khác tham gia. Các nước tham gia sau cũng không có quyền áp đặt quá nhiều các điều kiện mới của họ mà phải chấp nhận các điều kiện của Hiệp định. Do đó, CPTPP tạo thành một vị thế khá thuận lợi cho Việt Nam trong quan hệ thương mại tương lai với các đối tác quan trọng khác.

Bên cạnh đó, CPTPP và TPP trước đó đều là một kênh tạo thuận lợi rất lớn cho Việt Nam trong đàm phán FTA với EU. Việt Nam là nước thứ hai trong Đông Nam Á mà EU lựa chọn đàm phán FTA, sau khi họ đã có FTA với nước tiên tiến nhất khu vực là Singapore. Sau quá trình đàm phán không mấy khó khăn với Singapore, tôi được biết họ lúc đó đã có những lựa chọn khác, nhưng cuối cùng họ chọn Việt Nam. Một trong những lý do, theo tôi, là Việt Nam đã tham gia đàm phán TPP. Chúng ta đã tận dụng được cơ hội từ TPP và CPTPP để thúc đẩy đàm phán với EU.

Với CPTPP và EVFTA, có thể nói các kênh hội nhập quốc tế của Việt Nam đã mở ra một cách rất cơ bản để tạo điều kiện Việt Nam thực hiện chiến lược lâu dài của mình là tăng trưởng bền vững dựa trên đổi mới sáng tạo, dựa vào công nghệ, thúc đẩy năng suất, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế và các ngành, các doanh nghiệp.

Cả hai Hiệp định này cũng đều chứa đựng những cam kết cao về cải cách thể chế kinh tế, vừa là động lực vừa là áp lực cho Việt Nam cải cách. Các cam kết này vượt trội hơn rất nhiều so với những cái chúng ta đang có, nhưng chúng hoàn toàn phù hợp với định hướng dài hạn của Việt Nam về đổi mới thể chế. Việt Nam đã xác định 3 khâu đột phá chiến lược, trong đó khâu đột phá số 1 là thể chế.

Thời gian qua, chúng ta đã cố gắng rất nhiều trong lĩnh vực này nhưng tất cả những cố gắng vẫn chưa đạt được những chuyển biến mạnh và triệt để như chúng ta mong muốn. Với các chuẩn rất cao trong các Hiệp định này, tôi tin rằng trong 5 năm và tối đa 10 năm tới, hệ thống thể chế kinh tế của Việt Nam sẽ là một hệ thống hoàn chỉnh như mục tiêu đã đề ra, để nền kinh tế có thể phát triển vững chắc và bao trùm.

Nền tảng nội lực và tư duy đều đã khác

Nhìn lại 12 năm Việt Nam là thành viên chính thức WTO, theo bà, đâu là những bài học quan trọng nhất mà chúng ta có thể áp dụng trong kỷ nguyên CPTPP và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới?

Tham gia WTO cũng là một quyết định lớn của Việt Nam với một quá trình khá gian nan qua 12 năm đàm phán. Cái khó của chúng ta khi đó là mới tiến hành đổi mới được khoảng 10 năm, hệ thống kinh tế thị trường chưa hình thành đầy đủ, hệ thống kế hoạch hóa tập trung vẫn tồn tại song song, WTO khó lòng chấp nhận nhiều quy định của Việt Nam.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2002-2006, đẩy mạnh đàm phán WTO, Việt Nam đã tăng tốc trong việc sửa đổi và xây dựng các luật mới, mỗi năm khoảng 25-26 luật thay vì 5-6 luật như các năm trước đó. Quá trình này đều dựa trên các nguyên tắc WTO, tức là nội luật hóa các quy định của WTO. Đó cũng là giai đoạn mà Việt Nam vừa đạt được tăng trưởng GDP bình quân cao, lên tới trên 7%, vừa giữ được ổn định vĩ mô. Đó là nền tảng tốt để chúng ta vững tâm tham gia WTO, nhưng không may là ngay sau đó, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra vào năm 2008.

Và dù cơ hội của chúng ta ở nhiều thị trường không được cao như kỳ vọng, nhưng ở một số thị trường thì cơ hội vẫn cực lớn.

Bà Phạm Chi Lan cho rằng năm 2018 đã ghi nhận hàng loạt dấu ấn về các quyết sách của Chính phủ trong thúc đẩy công nghệ cao.
Cũng nhờ có nền tảng WTO, chúng ta mới có Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản vào năm 2008, Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện Việt Nam – EU với EU vào năm 2010. Có thể nói, WTO đã tạo nền tảng để Việt Nam làm sâu sắc hơn các quan hệ song phương và kể cả việc tham gia đàm phán TPP.

Tuy nhiên, nhìn lại thì có thể thấy, chúng ta vẫn chưa tận dụng được tốt nhất, chưa tận dụng được hết các cơ hội. Trước hết là cơ hội cải cách thể chế, chúng ta nội luật hóa rất nhiều các quy định của WTO, nhưng lại có những giai đoạn mà chính sách đi vào cuộc sống chưa đủ nhanh, chẳng hạn các quy định của WTO về doanh nghiệp nhà nước. Có thể thấy trong nhiều nguyên nhân dẫn tới những vấn đề của khối doanh nghiệp nhà nước, có nguyên nhân do có những giai đoạn chúng ta không thực hiện đầy đủ các quy định của WTO về lĩnh vực này.

Dù lợi ích chưa quá cao như kỳ vọng, nhưng những bài học từ WTO là hết sức có ý nghĩa cho giai đoạn hiện tại.

So với thời kỳ gia nhập WTO, tôi tin là nền tảng của chúng ta ngày nay đã tốt hơn, vững chắc hơn, kể cả về nội lực của nền kinh tế và cả tư duy về kinh tế thị trường, vai trò của nhà nước, về vai trò của doanh nghiệp tư nhân và nhà nước. Rồi nhận thức của chúng ta về khoa học và công nghệ, khi năm 2018 đã ghi nhận hàng loạt dấu ấn về các quyết sách của Chính phủ trong thúc đẩy công nghệ cao.

Có thể nói từ 2016 trở lại đây, các định hình chính sách ngày càng rõ, tạo nền tảng cho chúng ta phát triển trong giai đoạn mới.

Nỗ lực lớn và thành tựu đáng kể trong 3 năm qua

Có những ý kiến cho rằng chúng ta chưa chuẩn bị đủ kỹ lưỡng cho CPTPP, quan điểm của bà như thế nào?

Trong nhiệm kỳ Chính phủ mới, đã có rất nhiều nỗ lực được dấy lên, trước hết là khắc phục các khiếm khuyết của nền kinh tế, như doanh nghiệp nhà nước phải thoái vốn đầu tư ngoài ngành, đẩy mạnh cổ phần hóa… và có nhiều việc Chính phủ đã cương quyết hơn trong công tác này.

Hiện Chính phủ đã tập trung nhiều hơn vào việc kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước, việc thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp chứng tỏ chúng ta đã hiểu rõ hơn nên xử sự với doanh nghiệp nhà nước như thế nào trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thủ tướng đã tuyên bố là Nhà nước không bán bia, bán sữa, đó là một thông điệp hoàn toàn đúng đắn, phù hợp kinh tế thị trường, để doanh nghiệp nhà nước tập trung vào các lĩnh vực cốt lõi.

Gắn với đó là nỗ lực rất lớn về cải thiện môi trường kinh doanh, quá trình này ngày càng làm được nhiều việc hơn, sâu sát hơn với đời sống thực tế của doanh nghiệp. Cuộc tổng kết mới đây của VCCI về dòng chảy pháp luật kinh doanh 2018 đã ghi nhận các con số kỷ lục về các văn bản pháp quy được ban hành theo hướng cắt giảm các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính. Tôi nghĩ đây là cố gắng nổi trội của Chính phủ để giúp nền kinh tế tập trung nguồn lực cho các doanh nghiệp có khả năng sử dụng tốt nhất.

Đảng, Nhà nước cũng đã liên tục có nghị quyết, quyết định khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân như một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đó là cách hành xử đúng và chắc chắn sẽ có kết quả tốt.

Năm 2018 cũng đánh dấu một cột mốc phát triển quan trọng của các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam. Có những doanh nghiệp từ bất động sản đã mở dần ra đa ngành theo năng lực của họ, đi vào công nghiệp, thậm chí công nghiệp ô tô – một ngành cạnh tranh rất lớn, hoặc đi vào phát triển công nghệ cao. Hoặc các doanh nghiệp tư nhân làm các công trình hạ tầng lớn với thời gian ngắn và số vốn rất khiêm tốn, điều đó chứng tỏ hiệu quả khu vực tư nhân và sự trưởng thành của họ, cũng như độ chín muồi của nền kinh tế.

Định hướng nữa là phát triển công nghệ. Ngay từ năm 2016, Chính phủ đã đưa ra định hướng quốc gia khởi nghiệp, với các chương trình chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Việc tái cơ cấu các ngành cũng dựa trên hướng đổi mới sáng tạo, đưa công nghệ vào, như trong lĩnh vực nông nghiệp đã có cải thiện khá rõ nét nhờ hướng tiếp cận này. Như vậy, thay vì dựa vào quá nhiều vốn hay lao động giá rẻ, định hướng phát triển công nghệ đã cho ra những thành quả bước đầu và cho chúng ta niềm tin đây là hướng đi đúng. Có thể nói năm 2018 ghi nhận hàng loạt dấu ấn về các quyết sách của Chính phủ trong thúc đẩy công nghệ cao.

Tất nhiên đổi mới, phát triển công nghệ là quá trình gian nan lắm, nhiều nước đều muốn phát triển công nghệ nhưng có phải ai khát khao cũng làm được đâu? Còn nhiều việc phải làm lắm nhưng tôi tin chúng ta sẽ ngày càng làm tốt hơn, nhất là với sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân và lực lượng khoa học công nghệ của người Việt ở nước ngoài. Như trong năm ngoái, lần đầu tiên Chính phủ đã kêu gọi được 100 nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài về nước tham gia Mạng lưới đổi mới sáng tạo. Cùng với đó là sự hưởng ứng của các đối tác quốc tế, như tôi được biết trong các chuyến thăm vừa qua của Thủ tướng tới Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, đã có rất nhiều đề xuất đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái tạo.

Cùng với đó là những nỗ lực của Việt Nam trong hội nhập quốc tế. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã hết sức năng động trong các mối quan hệ quốc tế, nhờ đó vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng lên, mở ra giai đoạn hội nhập quốc tế cao hơn, sâu hơn, mang lại những thay đổi thực chất cho nền kinh tế Việt Nam cũng như những cơ hội mới cho Việt Nam phát triển.

Cuối cùng, phải kể đến những cố gắng thúc đẩy cải cách trên các lĩnh vực khác như cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải cách bộ máy và đặc biệt là cố gắng đẩy mạnh phòng chống tham nhũng. Cải cách thể chế và chống tham nhũng là rất quan trọng, hai việc đó gắn liền với nhau, tham nhũng chính là lực cản cải cách và muốn chống tham nhũng thì phải cải cách thể chế.

Theo tôi, đó là những thành tựu rất đáng kể của Chính phủ trong thời gian vừa qua. Trong 3 năm của nhiệm kỳ 5 năm, chúng ta đã làm được rất nhiều việc, tất nhiên không phải việc gì cũng vẹn tròn, nhưng tôi tin rằng những bài học kinh nghiệm sẽ giúp chúng ta thành công trong cả nhiệm kỳ và chuẩn bị tốt cho giai đoạn mới, góp phần thực hiện mong muốn từ lâu của chúng ta là đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển theo chiều sâu.

Theo Báo Chính phủ

Dịch vụ dầu khí: Những điểm nhấn trong năm 2018

Trong bối cảnh khối lượng công việc và giá dịch vụ giảm sâu do ảnh hưởng của giá dầu trong ba năm vừa qua, nhiều đơn vị hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ dầu khí đã đẩy mạnh tìm kiếm đơn hàng, phát triển dịch vụ ra nước ngoài và đạt nhiều kết quả tích cực.

Năm 2018 giá dầu thô có dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên, do ảnh hưởng tiêu cực kéo dài từ những năm gần đây khiến đến các hoạt động thăm dò, khai thác, phát triển mỏ, đầu tư trong ngành dầu khí vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các công ty dịch vụ dầu khí trong việc mở rộng và tìm kiếm thị trường.

Trước bối cảnh đó, các đơn vị dịch vụ trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã có nhiều giải pháp tích cực để ứng phó với tình hình khối lượng công việc và giá dịch vụ suy giảm. Một số đơn vị đã đẩy mạnh tìm kiếm đơn hàng, phát triển dịch vụ dầu khí ra nước ngoài, các đối tác liên doanh và bước đầu đạt kết quả tích cực.

dich vu dau khi nhung diem nhan trong nam 2018
Cảng dịch vụ PTSC

Cụ thể, tại Tổng công ty CP Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling), các giàn khoan của PV Drilling đã ký được một số đơn hàng với các đối tác nước ngoài, giàn PV DRILLING I khoan cho Kris Energy Thailand, Cuu Long JOC, JVPC, Hoang Long JOC, Thang Long JOC, VSP. Giàn khoan PV DRILLING II khoan cho VSP, IDEMITSU. Giàn khoan PV DRILLING III khoan cho Repsol từ cuối tháng 3/2018 đến hết tháng 2/2019. Giàn khoan PV DRILLING VI khoan cho IPC Malaysia, Rosneft, Cuu Long JOC, VSP. Giàn PV DRILLING 11 khoan cho BMS OC (BMS).

Tổng công ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí (DMC) đã thực hiện 01 hợp đồng xuất khẩu mặt hàng Barite với khối lượng 3.500 tấn, trị giá 7,5 tỷ đồng. Hiện tại, DMC tiếp tục đẩy mạnh tìm kiếm đơn hàng mới trong năm 2019. Hoạt động cung cấp hóa chất cho các nhà máy lọc dầu đạt được kết quả tốt. Cụ thể cung cấp cho BSR và NSRP thông qua nhà thầu JGC, do có sự chuẩn bị tốt về nguồn hàng và phương án cung cấp có giải pháp kỹ thuật đi kèm nên DMC đã ký kết được nhiều hợp đồng hoá chất có giá trị lớn và hợp đồng cung cấp dầu mỡ, vật tư tiêu hao bổ sung cung cấp vào NSRP thông qua JGC. Doanh thu đạt 150 tỷ đồng, vượt 50% kế hoạch năm và vượt 36% so năm 2017.

Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) cũng không ngừng tìm kiếm các giải pháp để đẩy mạnh và phát triển cung cấp dịch vụ ra thị trường nước ngoài, tham gia chào giá. Trong năm 2018 PTSC đã trúng thầu nhiều gói cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho các khách hàng lớn tại các thị trường Myanmar, Brunei, Thái Lan, Trung Đông (Qatar, UAE), v.v… giúp cho đơn vị ổn định doanh thu, duy trì được công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời tạo tiếng vang về năng lực trúng thầu các dự án lớn của PTSC trong khu vực.

Tương tự, Tổng công ty CP Dịch vụ Tổng hợp Dầu khí (PETROSETCO) đã tích cực tìm kiếm mặt hàng, ngành hàng phân phối mới, đối tác mới nhằm tối ưu hóa hệ thống phân phối và khai thác tốt nhu cầu của khách hàng hiện có. PETROSETCO đã bám sát các biến động của thị trường về giá cả, nhu cầu tiêu thụ… của các sản phẩm PP, LPG, xơ sợi… để điều chỉnh hoạt động SXKD cho phù hợp, đảm bảo hiệu quả; nâng cao năng lực cung cấp, năng lực cạnh tranh để đẩy mạnh tham gia các gói thầu cung cấp vật tư thiết bị cho các đơn vị trong ngành và ngoài ngành; phát triển dịch vụ logistics, dịch vụ vận tải siêu trường siêu trọng, giữ vững thị trường truyền thống, đồng thời phát triển ra thị trường ngoài ngành… Kết quả doanh thu hợp nhất của PETROSETCO vượt 18% kế hoạch; nộp ngân sách Nhà nước ước vượt 279% kế hoạch.

Trong năm 2018, Tổng công ty CP Vận tải Dầu khí (PVTrans) cùng với đối tác đã tham gia vận chuyển thành công 6 chuyến tàu VLCC chở dầu thô cho NSRP, đánh dấu bước tiến mới của PVTrans trong lĩnh vực quản lý khai thác tàu dầu thô và chuẩn bị đầu tư trong năm 2019. Năm 2018 cũng là năm đánh dấu sự tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ của PVTrans với các chỉ tiêu kết quả SXKD cao nhất kể từ khi thành lập, đánh dấu một bước phát triển mới của PVTrans với các kỷ lục về kết quả kinh doanh, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 6 năm liên tục trung bình 17% và duy trì tỷ lệ tăng trưởng liên tục trong hơn 6 năm qua.

Năm 2018, doanh thu dịch vụ dầu khí toàn Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đạt 199,5 nghìn tỷ đồng, vượt 30% kế hoạch năm. Một số đơn vị đạt kết quả vượt mức kế hoạch năm 2018 đề ra, về doanh thu, 09 đơn vị gồm PTSC, PVTrans, PETROSETCO, PVDrilling, PVCombank, PVOil hoàn thành vượt mức kế hoạch năm; về lợi nhuận có 03 đơn vị gồm PTSC, PVTrans và PVOil đạt vượt mức kế hoạch năm.

Nhìn chung trong năm qua, các đơn vị dịch vụ không ngừng khẳng định năng lực, kinh nghiệm cũng như chất lượng dịch vụ cung cấp cho các nhà thầu dầu khí tại Việt Nam. Với đội ngũ chuyên gia lành nghề giàu kinh nghiệm, các đơn vị đã thay thế được nhiều chức danh phải thuê chuyên gia nước ngoài, đủ khả năng làm tổng thầu thực hiện các công trình mà trước đây phải thuê nhà thầu nước ngoài hoặc nhà thầu ngoài ngành thực hiện. Các dịch vụ cung cấp ngày càng được nâng cao cả về lượng và chất. Các đơn vị luôn chủ động cân đối và tập trung đầu tư nguồn lực, cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thị trường trong nước và khu vực.

Trúc Lâm

Trị giá xuất nhập khẩu đạt hơn 1 tỷ USD dịp Tết

Số liệu thống kê vừa được Tổng cục Hải quan công bố cho thấy, trong 9 ngày nghỉ Tết (2/2/2019 – 10/2/2018), tổng trị giá xuất nhập khẩu sơ bộ đạt hơn 1 tỷ USD. Trong đó, trị giá xuất khẩu là 389 triệu USD, tăng tới 34,6% và trị giá nhập khẩu là 611 triệu USD, tăng nhẹ 1,2% so cùng kỳ dịp Tết năm ngoái.

Ảnh minh họa: Internet

Ảnh minh họa: Internet

Các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, điện thoại, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt tới 263 triệu USD, chiếm gần 68% trong tổng trị giá xuất khẩu của cả nước trong dịp Tết Kỷ Hợi 2019. Ngoài ra, xuất khẩu một số nhóm hàng khác có trị giá lớn như: máy móc, thiết bị dụng cụ và phụ tùng đạt 19,3 triệu USD, clanhke và xi măng đạt 10,5 triệu USD, xăng dầu các loại đạt 10,3 triệu USD…

Tổng trị giá nhập khẩu trong dịp Tết đạt 611 triệu USD, trong đó chủ yếu nhập khẩu các nhóm hàng là máy vi tính, điện thoại và linh kiện với 358 triệu USD, chiếm gần 60%; nhóm hàng máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng đạt 86,4 triệu USD; xăng dầu các loại đạt 21,2 triệu USD …

Xuân Yến

Giá vàng hôm nay 14/2: Ồ ạt bán ra, không ngừng tăng giá

Giá vàng hôm nay 14/2 trên thị trường thế giới tiếp tục tăng giá bất chấp đồng USD treo cao và các tổ chức đẩy mạnh bán ra. Giá vàng trong nước vọt lên đỉnh mới với nhu cầu mua vàng ngày vía Thần tài tăng đột biến.

Tới đầu giờ sáng 14/2 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.312 USD/ounce.

Giá vàng giao tháng 4 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.316 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay cao hơn 0,7% (9,5 USD/ounce) so với đầu năm 2018. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 36,3 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 900 ngàn đồng/lượng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới tiếp tục tăng giá bất chấp đồng USD treo cao và các tổ chức đẩy mạnh bán ra. Giá vàng trong nước vọt lên đỉnh mới với nhu cầu mua vàng ngày vía Thần tài tăng đột biến.

Vàng thế giới tiếp tục xu hướng đi lên cho dù đồng USD cũng gia tăng sức mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác. Trong khi đó, giá vàng trong nước được các doanh nghiệp mua vào ở mức thấp hơn khá nhiều, giảm 100-200 ngàn đồng/lượng, nhưng bán ra ở mức cao hơn, nhiều nơi đã vượt ngưỡng 37,4 triệu đồng/lượng.

Vàng thế giới treo ở mức cao bất chấp quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust giảm mạnh lượng vàng nắm giữ, bớt 0,4% trong ngày 12/2 vừa qua. Tổng cộng quỹ này đã giảm lượng vàng khoảng 3% kể từ đầu năm tới nay.

Sở dĩ vàng vẫn tiếp tục xu hướng tăng cho dù đồng USD treo cao và tổ chức lớn bán vàng là do giới đầu tư vẫn quan ngại về những bất ổn vẫn tiềm ẩn trên khắp thế giới, từ nội bộ nước Mỹ cho đến khu vực châu Âu và các mối quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung hay đa phương giữa các nước.

Giá vàng hôm nay 14/2: Ồ ạt bán ra, không ngừng tăng giá
Giá vàng hôm nay: treo cao.

Giới đầu tư cũng đánh cược vào khả năng đồng USD khó lòng tăng giá do Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tỏ ra thận trọng với triển vọng của nền kinh tế Mỹ, bao gồm cả cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung đang diễn ra.

Fed gần đây đã thay đổi quan điểm về chính sách tiền tệ. Ngân hàng Trung ương Mỹ cho biết sẽ kiên nhẫn trong lộ trình tăng lãi suất. Giới đầu tư lo ngại về đà tăng trưởng kinh tế yếu đi trên toàn cầu và tính hình căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.

Một số tín hiệu cho thấy, cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung có thể tốt dẹp. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin ngày 13/2 nói rằng ông hy vọng các cuộc đàm phán thương mại tại Trung Quốc trong tuần này sẽ “có kết quả”, trong khi tổng thống Mỹ Donald Trump có ý định giãn hạn chót cho Trung Quốc nếu 2 bên tiến sát tới một thỏa thuận.

Tuy vậy, tất cả mới chỉ là khả năng và giới đầu tư chưa thể tin tưởng vào triển vọng kinh tế Mỹ cũng như toàn cầu. Vàng vẫn là một lựa chọn của nhiều người.

Mỹ và Trung đang nỗ lực đạt thỏa thuận trước hạn chót là ngày 1/3. Nếu không, Mỹ sẽ nâng thuế từ 10% lên 25% đối với 200 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung sẽ trở nên khó có lối thoát.

Trên thị trường vàng trong nước, giá vàng miếng, vàng nhẫn đều treo cao trong ngày vía Thần tài. Chốt phiên ngày 13/2 đa số các cửa hàng vàng tăng giá vàng 9999 trong nướcthêm tăng giảm khó lường, nhưng vẫn ở mức cao, quanh 37,2 triệu đồng/lượng.

Tính tới cuối phiên giao dịch 13/2, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 36,85 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,40 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 36,78 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,04 triệu đồng/lượng (bán ra).

Theo Doji, nhu cầu mua vàng cầu may vào dịp Thần Tài đầu năm mới tăng vọt. Số lượng khách dự kiến tham gia giao dịch trong những ngày này sẽ tăng gấp hàng ngàn lần so với ngày thường.

V. Minh

TT năng lượng TG ngày 13/2/2019: Dầu tăng 1%, khí tự nhiên tăng

Giá dầu tăng 1% trong bối cảnh OPEC cắt giảm sản lượng, các lệnh trừng phạt của Mỹ chống lại Venezuela, khí tự nhiên của Mỹ tăng do dự báo thời tiết lạnh.

TT năng lượng TG ngày 13/2/2019: Dầu tăng 1%, khí tự nhiên tăng

Dầu tăng
Giá dầu tăng khoảng 1% trong ngày hôm nay do tổ chức OPEC cho biết họ cắt giảm sâu sản lượng trong tháng 1/2019 và do các lệnh trừng phạt của Mỹ với xuất khẩu dầu của Venezuela.
Dầu thô WTI kỳ hạn ở mức 53,64 USD/thùng, tăng 54 US cent hay 1% so với đóng cửa phiên trước. Dầu thô Brent kỳ hạn tăng 0,9% hay 53 US cent lên 62,95 USD/thùng.
Jeffrey Halley, nhà phân tích thị trường thuộc công ty môi giới kỳ hạn OANDA, Singapore cho biết giá dầu tăng sau khi “Saudi Arabia thông báo họ cắt giảm sản lượng hàng ngày và xuất khẩu thêm 500.000 thùng/ngày so với mức hạn ngạch OPEC đã thỏa thuận”.
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) cho biết họ đã cắt giảm sản lượng gần 800.000 thùng/ngày trong tháng 1 xuống 30,81 triệu thùng/ngày.
Vấn đề nguồn cung tại Venezuela, một thành viên khác của OPEC, cũng nâng đỡ các thị trường dầu mỏ do quốc gia Nam Mỹ này chịu đựng một cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị, với Washington đang đưa ra các lệnh trừng phạt xuất khẩu xăng dầu chống lại công ty năng lượng nhà nước PDVSA.
Bất chấp những rạn nứt chính trị giữa Venezuela và Mỹ, các nhà máy lọc dầu của Mỹ đã là các khách hàng lớn nhất của dầu thô Venezuela.
Những khách hàng này đã rời bỏ sau khi Washington áp đặt các lệnh trừng phạt trước đó trong năm nay. Venezuela đã cố tằng tìm các khách hàng thay thế, đặc biệt tại Châu Á, nhưng dưới áp lực của Mỹ nhiều khách hàng né tránh giao dịch với PDVSA.
Khí tự nhiên của Mỹ tiếp tục tăng
Khí tự của Mỹ tăng lên mức cao nhất trong hơn một tuần do dự báo thời tiết lạnh hơn và nhu cầu sưởi cao hơn trong tuần tới so với dự báo trước đó.
Khí tự nhiên kỳ hạn tháng 3/2019 tại sàn giao dịch bán buôn New York đóng cửa phiên 12/2/2019 tăng 4,6 US cent hay 1,7% lên 2,688 USD/mmBtu, mức đóng cửa cao nhất kể từ ngày 1/2/2019.
Với các thời tiết lạnh hơn một chút so với dự báo trước đây, nhà cung cấp số liệu Refinitiv dự báo nhu cầu khí tại 48 tiểu bang của Mỹ sẽ đạt 126,3 tỷ feet khối (bcfd) vào tuần tới, tăng từ dự báo 124,8 bcfd trước đó. Trong khi đó, sản lượng khí tại 48 tiểu bang tăng lên mức cao nhất trong 4 tuần tại 86,9 bcfd vào ngày 11/2/2019.
Bảng giá năng lượng thế giới sáng 13/2/2019
Mặt hàngĐơn vị tínhGiá hiện nay+/-Thay đổi so với 1 ngày trướcThay đổi so với 1 năm trước
Dầu WTIUSD/thùng53,61360,450,85%-11,53%
Dầu BrentUSD/thùng63,02670,480,77 %-2,10%
Khí tự nhiênUSD/mmBtu2,6430-0,04-1,56%2,16%
XăngUSD/gallon1,44230,01250,88 %-15,83%
Dầu đốtUSD/gallon1,92630,01530,80 %2,20%

Nguồn: VITIC/Reuters

H. Lan – Vinanet

Nhiều sản phẩm độc đáo cho ngày Thần tài

Năm nay, Công ty Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Minh Châu đã chế tác và tuyển chọn rất nhiều sản phẩm được người dân đặc biệt tín nhiệm trong ngày vía thần tài những năm trước.

Nhiều sản phẩm độc đáo cho ngày Thần tài

Bảo Tín Minh Châu đã chế tác và tuyển chọn nhiều sản phẩm trang sức tinh xảo hình Linh giáp hợi. Ảnh: BTMC

Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày Thần tài (mồng 10 tháng Giêng), ngày mà nhiều người dân tấp nập đi mua vàng và trang sức để đón lộc, cầu may. Đón trước xu thế này, các nhà vàng đã sẵn sàng chuẩn bị nhiều mẫu mã để phục vụ nhu cầu của người dân.
Năm nay, Công ty Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Minh Châu đã chế tác và tuyển chọn rất nhiều sản phẩm được người dân đặc biệt tín nhiệm trong ngày vía thần tài những năm trước.
Bà Nguyễn Thị Luyến, Giám đốc phụ trách Kinh doanh Công ty Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Minh Châu cho biết, Bảo Tín Minh Châu đã sẵn sàng tung ra thị trường các mẫu mã trang sức vàng ta, vàng tây đặc sắc như: mặt dây thần tài – rước tài đón lộc; mặt dây các linh giáp – hộ mệnh bình an, ngập tràn hạnh phúc; nhẫn kim tiền – tiền vàng sung túc; nhẫn kim tiền gắn đá ngọc quý – phú quý cát tường, bình an hộ mệnh; vòng, lắc họa tiết hoa – may mắn, rạng ngời như hoa; trang sức vàng, bạc gắn đá ngọc quý thiên nhiên – phong thủy, hộ mệnh, may mắn quanh năm.…
Đặc biệt, nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều khách hàng muốn sở hữu Linh Giáp Hợi trong năm Kỷ Hợi này, Bảo Tín Minh Châu đã chế tác và tuyển chọn nhiều sản phẩm trang sức tinh xảo hình Linh Giáp Hợi như: đĩnh vàng kim hợi, tượng trưng cho sự no đủ quanh năm, an nhàn hạnh phúc; kim hợi tượng vàng mang ý nghĩa đón lộc xuân sang an khang thịnh vượng; nhẫn kim tiền kim hợi tượng trưng cho sự may mắn, an nhàn, sung túc cả năm.
Bên cạnh các trang sức tuyển chọn đặc sắc, trong dịp Thần tài năm nay, Bảo Tín Minh Châu cũng đã chuẩn bị rất nhiều sản phẩm nhẫn tròn trơn vàng rồng Thăng Long các bản vị 0,5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ, 3 chỉ, 5 chỉ, 10 chỉ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu mua vàng lấy may của người tiêu dùng.
Tại Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Doji, nhiều mẫu mã với nhiều thiết kế nổi trội mang thẩm mỹ cao, giá cả hợp lý cũng được tung ra như: lì xì Tài Lộc hoàn toàn bằng vàng 24K, sản phẩm ép vỉ vàng 999.9, quà tặng mỹ nghệ vàng Kim Bảo Phúc, Trang sức vàng 24K Kim Tiền …
Theo đại diện Doji, các dòng sản phẩm quà tặng thương hiệu Kim Bảo Phúc với hình ảnh linh vật đại diện cho năm Kỷ Hợi 2019 “heo vàng” làm điểm nhấn cho các sản phẩm mới ngày Thần tài năm nay.
Cùng với đó Doji cũng tung ra các sản phẩm quà tặng phủ vàng đa dạng về mẫu mã như: heo vàng phát lộc, heo vàng đại phúc, trư vàng như ý, trư vàng hoan hỉ, kim hợi cát tường, thẻ bình an vàng, lì xì vàng…
Bà Nguyễn Thị Luyến, Giám đốc phụ trách Kinh doanh Công ty Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Minh Châu khẳng định, các sản phẩm trang sức đều được chế tác và tuyển chọn kỹ lưỡng, mẫu mã đa dạng, chế tác tinh xảo, giàu giá trị văn hóa, tâm linh, nhiều mức giá, đá ngọc kiểm định uy tín giúp khách hàng dễ dàng lựa chọn được món hoặc bộ trang sức ưng ý để làm đẹp và cầu may trong dịp đầu năm.
Nguồn: Đỗ Huyền/BNEWS/TTXVN

Hàng hóa TG sáng 13/2/2019: Giá hầu hết tăng

Phiên 12/2/2019 trên thị trường quốc tế (kết thúc vào rạng sáng 13/2/2019 giờ VN), giá nhiều mặt hàng chủ chốt tăng giá. Một trong những yếu tố chính đẩy giá hàng hóa tăng lên là hy vọng Mỹ và Trung Quốc sẽ đạt được thỏa thuận thương mại.

Hàng hóa TG sáng 13/2/2019: Giá hầu hết tăng

Tổng thống Mỹ Donald Trump mới đây đã cho biết ông có thể đẩy lùi thời hạn tăng thuế (hiện được xác định là ngày 1/3/2019) đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc nếu hai bên đạt được đủ tiến bộ trong việc đạt được một thỏa thuận. Ông cũng bày tỏ mong đợi cuộc gặp dự kiến với Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ giúp hai bên nhất trí được một số điểm của thỏa thuận này. Ông Trump nói một phái đoàn đàm phán Mỹ đã có mặt tại Bắc Kinh trước thềm cuộc họp cấp cao nhằm đạt được một thỏa thuận thương mại trước thời hạn chót vào ngày 1/3 tới.
Theo kế hoạch, trong hai ngày 14-15/2, Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer và Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin sẽ tham gia cuộc thảo luận chính với phía Trung Quốc, do Phó Thủ tướng Lưu Hạc và Thống đốc Ngân hàng trung ương Dịch Cương làm trưởng đoàn.
Các nhà đầu tư hy vọng rằng vòng đàm phán mới giữa Mỹ và Trung Quốc trong tuần này sẽ đưa hai bên tiến đến gần hơn một giải pháp để giải quyết những tranh chấp thương mại đang diễn ra.
Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng do một loạt các yếu tố, đặc biệt là việc Saudi Arabia cho biết nước này sẽ giảm sản lượng thêm 500.000 thùng dầu/ngày trong trong tháng 3/2019.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent trên sàn London tăng 91 US cent tương đương 1,5% lên 62,42 USD/thùng, dầu ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York cũng tăng 69 US cent tương đương 1,3% lên 53,10 USD/thùng.
Trong báo cáo mới nhất, OPEC cho biết họ đã giảm sản lượng gần 800.000 thùng/ngày xuống còn 30,81 triệu thùng/ngày trong tháng 1/2019. Giới quan sát cho rằng kế hoạch cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cùng các đồng minh, trong đó có Nga, có hiệu lực đến cuối tháng 6/2019 đã thắt chặt nguồn cung trên thị trường năng lượng, bất chấp sản lượng tăng ở Mỹ.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia, ông Khalid al-Falih cũng cho hay nước này sẽ cắt giảm sản lượng xuống còn khoảng 9,8 triệu thùng/ngày trong tháng Ba để hỗ trợ giá dầu. Như là một phần của thỏa thuận với OPEC, quốc gia Vùng Vịnh đã cam kết hạ nguồn cung xuống còn khoảng 10,3 triệu thùng/ngày.
Đồng thời, sự lạc quan của các nhà đầu tư cũng gia tăng với hy vọng về một bước đột phá trong vòng đàm phán thương mại mới nhất giữa Mỹ và Trung Quốc cũng góp phần thúc đẩy giá vàng tăng.
Về thông tin liên quan, tại Hội nghị thượng đỉnh Chính phủ Thế giới (WGS) diễn ra trong các ngày 10-12/2 tại Dubai, Bộ trưởng Năng lượng Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất, Suheil al-Mazrouei, nhận định cán cân cung và cầu trên thị trường dầu mỏ sẽ cân bằng trong quý I/2019 sau nhiều tuần sản lượng được cắt giảm. Theo ông, OPEC đã cắt giảm sản lượng đủ lớn để điều chỉnh lại thị trường. Dựa trên số liệu tạm thời về mức sản xuất trong tháng đầu năm 2019 , Bộ trưởng Mazrourei cho hay hầu hết các nước tham gia đều tuân thủ thực hiện thỏa thuận và đang nỗ lực hết khả năng để góp phần bình ổn thị trường.
Tuy nhiên, thị trường dầu mỏ vẫn còn rất nhiều biến động và hiện giá dầu dao động chỉ trên mức 60 USD/thùng sau khi đã phục hồi từ mức thấp 50 USD/thùng hồi cuối năm ngoái. Con số trên vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức 85 USD/thùng ghi nhận hồi đầu tháng 10/2018 trước khi giá dầu bắt đầu trượt dốc.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng trong bối cảnh đồng USD giảm và thị trường lạc quan về triển vọng đàm phán thương mại Mỹ – Trung. Giá vàng giao ngay tại London tăng 0,2% lên 1.310,95 USD/ounce, sau khi đã giảm 0,4% trong phiên trước đó; vàng giao sau tại New York cũng tăng 0,2% lên 1.314 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD – thước đo “sức khỏe” của đồng bạc xanh so với giỏ sáu đồng tiền chủ chốt khác trên thị trường – phiên này giảm 0,42% xuống 96,67 điểm sau tám phiên tăng liên tiếp. Đồng USD yếu đi khiến giá vàng giao kỳ hạn tăng do vàng, được định giá bằng đồng USD, trở nên bớt đắt đỏ đối với các nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác.
Nhà phân tích Fawad Razaqzada thuộc Forex.com cho rằng: “Nếu trong ngắn hạn giá vàng phá ngưỡng 1.315 USD thì có thể sẽ còn tăng hơn nữa”.
Về những kim loại quý khác, giá palađi cũng tăng 0,8% lên 1.397 USD/ounce, bạc tăng 0,1% lên 15,71 USD/ounce trong khi bạch kim tăng 0,4% lên 784,5 USD/ounce (ở phiên trước, giá bạch kim đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 2/1/2019 là 779,5 USD/ounce).
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng loạt giảm. Kẽm giảm phiên thứ 3 liên tiếp xuống mức thấp nhất hơn 2 tuần do đồng USD tăng lên mức cao nhất gần 2 tháng ở phiên liền trước và các nhà đầu tư vẫn lo ngại về tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Kẽm giao sau 3 tháng trên sàn London đã giảm 1,4% xuống 2.608 USD/tấn vào cuối phiên vừa qua, trong phiên có lúc chỉ 2.602,5 USD/tấn. Giá kim loại này đã từng tăng thêm gần 1/5 trong giai đoạn 5/1-5/2/2019 và chạm mức cao kỷ lục 7 tháng là 2.810 USD/tấn ở cuối giai đoạn đó, trước khi quay đầu giảm. Lượng kẽm lưu kho trên sàn London hiện ở mức thấp nhất kể từ tháng 1/2008.
Đối với các kim loại cơ bản khác, đồng giảm 0,7% xuống 6.106 USD/tấn, nhôm giảm 1% xuống 1.862 USD/tấn, chì giảm 0,5% xuống 2.035 USD/tấn, nickel giảm 0,6% xuống 12.410 USD/tấn và thiếc giảm 0,5% xuống 20.925 USD/tấn.
Giá quặng sắt trên thị trường Trung Quốc phiên vừa qua đã giảm khỏi mức cao kỷ lục cao của phiên trước đó khi các nhà đầu tư bán ra để kiếm lời trong bối cảnh lo ngại về triển vọng thương mại giữa Washintong và Bắc Kinh. Quặng sắt trên sàn Đại Liên giảm 2,7% xuống 634 CNY (93,60 USD)/tấn. Phiên trước có lúc giá đạt 652 CNY.
Ở thời điểm hiện tại, rất khó để dự đoán về xu hướng giá quặng sắt vì còn nhiều sự thiếu chắc chắn liên quan đến các yếu tố cơ bản.
Giá thép cũng giảm trong phiên vừa qua, với thép cây dùng trong xây dựng trên sàn Thượng Hải giảm 1,8% xuống 3.785 CNY/tấn, trong khi thép cuộn cán nóng (thép tấm) giảm 1,9% xuống 3.674 CNY/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê tăng trong phiên vừa qua. Loại arabica giao tháng 3 tăng 0,25 US cent tương đương 0,2% lên 1,0045 USD/lb vào cuối phiên, mặc dù đã chạm mức thấp nhất 5 tuần là 99,85 US cent ở cuối phiên trước. Tỷ giá đồng real tiếp tục chi phối thị trường cà phê arabica. Trong khi đó loại robusta giao cùng kỳ hạn tăng 7 USD tương đương 0,5% lên 1.535 USD/tấn.
Giá đậu tương trên sàn Chicago hồi phục từ mức thấp nhất gần 3 tuần do hoạt động mua mang tính kỹ thuật và lạc quan về khả năng đạt được thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc – nước nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới. Kết thúc phiên, đậu tương kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 5-1/2 US cent lên 3,78-1/4 USD/bushel.
Ngô hồi phục từ mức thấp nhất 4 tuần, đồng thời lúa mì cũng vững lên. Hợp đồng ngô kỳ hạn tháng 3 tới tăng 5-1/2 US cent lên 3,78-1/4 USD/bushel, trong khi lúa mì cùng kỳ hạn tăng 1-3/4 US cent lên 5,2 USD/bushel.
Giá đường thô tăng lên mức cao nhất 1 tuần theo xu hướng của thị trường dầu thô, trong khi đường trắng kỳ hạn tháng 3/2019 giảm xuống mức thấp nhất 4 tháng trước khi đáo hạn.
Kết thúc phiên, đường thô giao tháng 3 tăng 0,18 US cent tương đương 1,4% lên 12,85 US cent/lb, sau khi có lúc đạt 12,92 US cent, cao nhất trong vòng 1 tuần. Giá dầu tăng khích lệ Brazil tăng tỷ lệ mía sản xuất ethanol và giảm lượng mía dùng sản xuất đường. Dự trữ ethanol tại Brazil tính tới giữa tháng 1/2019 đạt mức cao nhất kể từ 201 (7,29 lít). Tuy nhiên, dự báo Ấn Độ sẽ xuất khẩu đường sau vài tuần tới cản trở giá đường thô tăng hơn nữa.
Đối với đường trắng, hợp đồng giao tháng 3 giảm 50 US cent tương đương 0,2% xuống 325,80 USD/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc xuống chỉ 323,4 USD/tấn, thấp nhất trong vòng 4 tháng. Mức trừ lùi của hợp đồng giao tháng 3 so với tháng 5 tiếp tục tăng lên khi hợp đồng tháng 3 đáo hạn vào ngày thứ Tư (13/2).
Giá cao su kỳ hạn trên thị trường Tokyo phiên vừa qua tăng theo xu hướng tại Thượng Hải do sản lượng giảm ở các khu vực sản xuất cao su chủ chốt và đồng yen yếu đi so với USD.
Kết thúc phiên, hợp đồng kỳ hạn tháng 6/2019 trên sàn Tokyo tăng 3,1 JPY len 153,1 JPY/kg. Cao su TSR20 kỳ hạn tháng 8/2019 tăng 3,6 JPY lên 153,1 JPY/kg. Trong khi đó trên sàn Thượng Hải, hợp đồng kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 285 CNY (42,07 USD) lên 11.615 CNY/tấn.
Sản lượng cao su tự nhiên của Malaysia tháng 12/2018 giảm 18% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù do với tháng 11/2018 thì tăng 5,4%, đạt 54.992 tấn. Xuất khẩu cao su tự nhiên của nước này tháng 12/2018 giảm 9% so với tháng trước đó, xuống 48.183 tấn.
Giá hàng hóa thế giới
Mặt hàngĐVTGiá+/-+/- (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng53,10+0,69+1,32%
Dầu BrentUSD/thùng62,61+1,10+1,79%
Dầu thô TOCOMJPY/kl42.020,00+470,00+1,13%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu2,69+0,05+1,74%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon142,72+0,80+0,56%
Dầu đốtUS cent/gallon190,72+1,50+0,79%
Dầu khíUSD/tấn584,50+8,00+1,39%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl57.850,00+250,00+0,43%
Vàng New YorkUSD/ounce1.314,00+2,10+0,16%
Vàng TOCOMJPY/g4.646,00+3,00+0,06%
Bạc New YorkUSD/ounce15,690,000,00%
Bạc TOCOMJPY/g56,10+0,10+0,18%
Bạch kimUSD/ounce792,48+0,86+0,11%
PalađiUSD/ounce1.408,00+2,28+0,16%
Đồng New YorkUS cent/lb277,20-1,80-0,65%
Đồng LMEUSD/tấn6.150,00-60,00-0,97%
Nhôm LMEUSD/tấn1.880,00-1,00-0,05%
Kẽm LMEUSD/tấn2.644,00-60,00-2,22%
Thiếc LMEUSD/tấn21.025,00-25,00-0,12%
NgôUS cent/bushel378,25+5,50+1,48%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel520,00+1,75+0,34%
Lúa mạchUS cent/bushel287,00+4,75+1,68%
Gạo thôUSD/cwt10,25-0,02-0,19%
Đậu tươngUS cent/bushel917,50+12,50+1,38%
Khô đậu tươngUSD/tấn313,20+4,30+1,39%
Dầu đậu tươngUS cent/lb30,67+0,10+0,33%
Hạt cải WCECAD/tấn481,20+1,50+0,31%
Cacao MỹUSD/tấn2.270,00+5,00+0,22%
Cà phê MỹUS cent/lb103,55+0,25+0,24%
Đường thôUS cent/lb12,66+0,17+1,36%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb118,90+0,55+0,46%
BôngUS cent/lb71,11-0,65-0,91%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet401,40-2,70-0,67%
Cao su TOCOMJPY/kg180,30-0,60-0,33%
Ethanol CMEUSD/gallon1,33+0,01+0,83%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF

TT gạo tuần đầu tháng 2/2019: Giá xuất khẩu tăng, bất chấp thị trường ảm đạm

Thị trường gạo tuần đến ngày 3/2/2019 ghi nhận giá xuất khẩu của Việt Nam tăng 10 USD/tấn dù hoạt động thương mại ở mức yếu.

TT gạo tuần đầu tháng 2/2019: Giá xuất khẩu tăng, bất chấp thị trường ảm đạm

Dẫn nguồn tin từ Vietnambiz, giá gạo 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam đã tăng từ 340 USD/tấn vào tuần trước lên 350 USD/tấn trong tuần này, dù hoạt động hoạt động thương mại vẫn yên ắng, theo Reuters.
Một thương nhân có trụ sở tại Tp.HCM cho biết, hầu như không có hoạt động xuất khẩu nào từ Việt Nam trong tuần tới do nghỉ Tết Nguyên đán.
Trong khi đó, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan và Ấn Độ đều đi ngang so với tuần trước, với giá gạo 5% tấm tại Thái Lan đạt390 – 402 USD/tấn (FOB), và 381 – 386 USD/tấn ở Ấn Độ.
Mặc dù vậy, thị trường xuất khẩu dự kiến sẽ phục hồi trở lại nhờ những đơn hàng mới. Hôm 27/1, cơ quan mua gạo quốc gia Ai Cập, Tổng cục Cung ứng Hàng hóa (GASC), đã nhận được thêm 4 lời đề nghị tại cuộc đấu thầu nhập khẩu gạo quốc tế đầu tiên của quốc gia này, dự kiến được chuyển đến trong giai đoạn ngày 20/3 – 20/4 và/hoặc ngày 1 – 30/4, các thương nhân cho biết.
Những lời đề nghị này đến từ Trung Quốc, Việt Nam và Ấn Độ.
Tại Campuchia, thị trường gạo liên tiếp nhận thông tin trái chiều.
Sau khi Ủy ban châu Âu (EC) quyết định áp thuế đối với gạo có nguồn gốc từ Myanmar và Campuchia, xuất khẩu gạo đón nhận một thông tin tích cực là Trung Quốc tăng hạn ngạch nhập khẩu gạo từ quốc gia này trong năm 2019.
Theo đó, hôm 21/1/2019, trong buổi gặp với Thủ tướng Campuchia Hun Sen, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đồng ý nâng hạn ngạch nhập khẩu gạo từ quốc gia Đông Nam Á lên 400.000 tấn cho năm 2019, tăng so với năm ngoái là 300.000 tấn.
Ngoài ra, KhmerTimes trích dẫn nguồn từ Bộ Nông nghiệp Campuchia cho biết, với việc áp dụng thuế quan gần đây của Liên minh châu Âu (EU), ngành lúa gạo Campuchia đang cần tập trung vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh, bằng cách tăng hiệu quả và giảm chi phí.
Tạo ra một giống lúa thơm chất lượng cao là một trong những ưu tiên của Bộ Nông nghiệp Campuchia. Bộ này kêu gọi các cơ quan chính phủ, viện nghiên cứu tiếp tục làm việc với khu vực tư nhân để giúp tài trợ cho nghiên cứu này.
Nhấn mạnh sự cần thiết trong việc hợp lý hóa các thủ tục nhập khẩu phân bón và thuốc trừ sâu, cũng như giảm thời gian kiểm tra chất lượng, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho các nhà xuất khẩu.
Còn tại Hàn Quốc, tiêu thụ gạo của Hàn Quốc tiếp tục giảm trong năm ngoái, mặc dù sự phổ biến của đồ ăn sẵn sử dụng gạo ngày càng tăng, một báo cáo của chính phủ công bố hôm 28/1 cho thấy.
Trong đó, tiêu thụ gạo bình quân đầu người giảm 1,3% so với năm trước xuống còn 61 kg trong năm tài chính 2018 (gia đoạn tháng 11/2017 – tháng 10/2018), theo Cục thống kê Hàn Quốc. The Nation cho biết, gạo là lương thực chính của quốc gia châu Á này.
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, trong kỳ 1 tháng 1/2019, cả nước đã xuất khẩu 186,3 nghìn tấn gạo, trị giá 83,71 triệu USD, giảm 31,3% về lượng và giảm 34,47% trị giá so với kỳ 2 tháng 12/2018.
Trong tuần từ 18/1 đến 24/1/2019 mặt hàng gạo được xuất khẩu sang các thị trường như Hongkong, Singapore, Thái Lan, Malaysia… với giá xuất bình quân khoảng 440,36 USD/Tấn, FOB.
Tham khảo giá gạo xuất khẩu trong tuần
Nguồn: TCHQ
Chủng loạiĐVTĐơn giá (USD)Cửa khẩuPTTT
Gạo nếp Việt Nam 10% tấm. Đóng bao đồng nhất 25 kg/bao, cả bì 25.08 kg/baoKg445Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)FOB
Gạo nếp Việt Nam 5% tấm, hàng đóng trong bao PP 25kgsTấn479Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)FOB
Gạo nếp đóng đồng nhất trong bao PP 50 kgTấn478Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)FOB
Gạo nếp 10% tấmTấn707.4Cảng VICTFOB
Nếp 5% tấm . Đóng trong bao PP mới, 50kg/1 baoTấn455Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)FOB
Nếp 5% tấm đóng bao 25 kg/baoTấn525Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)FOB
Gạo 10% tấm (đóng đồng nhất 30kg/bag)Tấn450Đình Vũ Nam HảiFOB
Gạo 25% tấm, bao gồm 94,000 bao; hàng đóng đồng nhất trong bao PP 50kg/baoTấn342Phao 41FOB
Gạo trắng hạt dài Việt nam 5% tấm giống 5451 .Tấn398Cảng Mỹ Thới (AG)FOB
Gạo thơm 5% tấm, xuất xứ: Việt Nam, 50 kg baoTấn670Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)FOB
Gạo Jasmine hạt dài Viêt Nam 5% tấm.Tấn492Phao SR6AFOB
Tấm gạo , xuất xứ Việt Nam, 50 kg baoTấn387Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)FOB
Tấm thơm, hàng đóng trong bao PP 50kgTấn410Cảng Cát Lái (Hồ Chí Minh)FOB
Tấm Jasmine Việt Nam. Hàng đóng đồng nhất trong bao PP+PE 50 kg.Tấn367PHAO SR6AFOB
Nguồn: VITIC Tổng hợp

TKV đề xuất tăng giá than, EVN thêm áp lực tăng 5.500 tỷ chi phí

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ báo cáo về việc chi phí sản xuất điện sẽ bị đội thêm khoảng 5.500 tỷ đồng do giá than sản xuất trong nước và than trộn được TKV tăng giá bán trong năm 2019.

Chi phí sản xuất điện năm 2019 sẽ đội thêm 5.500 tỷ đồng do than tăng giá
Chi phí sản xuất điện năm 2019 sẽ đội thêm 5.500 tỷ đồng do than tăng giá

Theo EVN, cuối năm 2018, tập đoàn và Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng công ty Đông Bắc đã ký hợp đồng hợp tác cung cấp than dài hạn cho các nhà máy nhiệt điện thuộc EVN.  Dự kiến lượng than cung cấp năm 2019 là 25,84 triệu tấn, trong đó khối lượng than khai thác trong nước là 19 triệu tấn, than trộn là 6,84 triệu tấn.

Việc phải sử dụng than trộn cấp là do TKV và Tổng công ty Đông Bắc không cung cấp đủ chủng loại than sản xuất trong nước cho các nhà máy điện nên phải nhập khẩu than để pha trộn với than trong nước.  Tuy nhiên, giá than trộn theo đề xuất của TKV và Tổng công ty Đông Bắc cao hơn từ 188-273 nghìn đồng/tấn, tương đương 11,18%-15,06% tuỳ loại.

Theo tính toán của EVN, nếu áp dụng giá than trộn như đề xuất của TKV và Tổng công ty Đông Bắc, chi phí mua điện năm 2019 sẽ bị đội thêm khoảng 1.498,06 tỷ đồng. Trong đó, với than trộn mua từ TKV tăng 1.062,89 tỷ đồng, than trộn mua từ Tổng công ty Đông Bắc tăng 435,17 tỷ đồng.

EVN cũng báo cáo Thủ tướng xem xét cho phép các nhà máy điện được điều chỉnh giá bán điện trong hợp đồng mua bán điện và tham gia thị trường điện do sử dụng than trộn và được tính toán cập nhật vào giá điện bình quân trong năm 2019.

Trao đổi với Tiền Phong, một lãnh đạo EVN cho biết, năm 2019, nếu  giá than bán cho điện được Chính phủ cho điều chỉnh sẽ khiến chi phí sản xuất điện tăng thêm 5.000 tỷ đồng. Tính cả  chi phí do tăng giá than trộn, tổng chi phí sản xuất điện sẽ bị đội thêm khoảng 5.500-5.600 tỷ đồng.

Việc cấp than cho điện đã trở thành vấn đề nóng hồi cuối năm 2018 khi Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh phải tạm dừng 2 trong 4 tổ máy do thiếu than. Sau vụ việc trên, TKV và các đơn vị đã phải triển khai nhiều giải pháp để đảm bảo cấp than cho các nhà máy nhiệt điện.

CPTPP đem đến cho doanh nghiệp Canada 500 triệu khách hàng mới

Theo phóng viên TTXVN tại Canada, ngày 11/2, tại Trung tâm Hội nghị Vancouver, Bộ trưởng Đa dạng hóa thương mại quốc tế của Canada, ông Jim Carr cùng Bộ trưởng Cơ sở hạ tầng và Cộng đồng, ông François-Philippe Champagne, và đại diện khối doanh nghiệp đã tham dự buổi lễ đánh dấu việc Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực.

Chú thích ảnh
Bộ trưởng Đa dạng hóa thương mại quốc tế của Canada Jim Carr. Ảnh: REUTERS

Hỗ trợ các doanh nghiệp Canada nắm bắt cơ hội trên quy mô toàn cầu và kiến tạo việc làm cho tầng lớp trung lưu là trọng tâm trong chiến lược đa dạng hóa của nước này.

CPTPP mở rộng cửa hơn cho các doanh nghiệp Canada khi tiếp cận các thị trường năng động nhất tại châu Á – Thái Bình Dương. Các doanh nghiệp Canada, từ nông dân, ngư dân, các nhà khoa học, các hãng chế tạo… đến các chủ sở hữu doanh nghiệp nhỏ – được tiếp cận khoảng 500 triệu khách hàng mới.

Cùng với Hiệp định Thương mại và Kinh tế toàn diện Canada – EU và Hiệp định Canada – Mỹ – Mexico, các doanh nghiệp Canada được tiếp cận tới 1,5 tỷ khách hàng mới tại hơn 50 quốc gia.

Trong bối cảnh CPTPP đi vào hiệu lực, các nhà xuất khẩu Canada có thể tận dụng lợi thế của việc giảm thuế quan trên tất cả các lĩnh vực, như nông nghiệp và chế biến nông sản, hải sản, hàng công nghiệp và máy móc, lâm sản…, cùng sự cải thiện trong việc tiếp cận các thị trường.

Để hỗ trợ người dân hưởng lợi từ các thỏa thuận thương mại và tiếp cận các thị trường mới, Chính phủ Canada đang đầu tư 1,1 tỷ CAD (tương đương 827 triệu USD) vào các chương trình và dịch vụ như: cung cấp nguồn lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khai thác các cơ hội xuất khẩu mới; tăng cường dịch vụ thương mại dành cho các nhà xuất khẩu; hỗ trợ các sáng kiến giúp tăng giá trị gia tăng, phát triển doanh nghiệp.

CPTPP là thỏa thuận thương mại tự do giữa Canada với 10 quốc gia ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, gồm Australia, Brunei, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam. Ngày 30/12/2018, CPTPP có hiệu lực tại 6 nước đã phê chuẩn hiệp định: Canada, Australia, Nhật Bản, Mexico, New Zealand và Singapore. Ngày 14/1/2019, CPTPP có hiệu lực tại Việt Nam.

CPTPP được kỳ vọng sẽ thúc đẩy giao thương giữa Việt Nam và Canada. Với lộ trình giảm thuế khá nhanh của Canada (từ 17 – 18% xuống 0% trong vòng 3 năm), một số nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam được dự báo tăng trưởng mạnh từ năm 2019 như dệt may, giầy dép, túi xách, nhựa, đồ gỗ…

Canada hiện là quốc gia duy nhất trong Nhóm 7 nền công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) có thỏa thuận thương mại với toàn bộ các thành viên khác của G7. Giới doanh nghiệp Canada đặc biệt quan tâm đến lộ trình mở cửa thị trường của Việt Nam đối với một số sản phẩm nông sản như thịt lợn, thịt bò, thịt gà, thủy sản, hoa quả tươi…

Hương Giang (TTXVN)

Kinh tế Việt Nam tiếp tục có nhiều diễn biến tích cực

 Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình hình kinh tế – xã hội trong tháng đầu tiên của năm 2019 tiếp tục có những diễn biến tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, việc điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ kết hợp chặt chẽ. Đặc biệt, thị trường tiền tệ, tỷ giá, ngoại hối ổn định, thanh khoản tốt, mặt bằng lãi suất ổn định.
Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tình hình kinh tế – xã hội trong tháng 1 năm 2019 tiếp tục có những diễn biến tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định. Tình hình sản xuất kinh doanh các khu vực chủ yếu của nền kinh tế trong tháng diễn biến tích cực, trong đó khu vực dịch vụ diễn ra sôi động trong dịp Tết Dương lịch và cận Tết Nguyên đán.
Theo đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1/2019 tăng 0,1% so với tháng 12/2018 và tăng 2,56% so với cùng kỳ năm 2018 (cùng kỳ tăng 2,65%). Hầu hết các nhóm hàng hóa, dịch vụ chính đều tăng so với tháng trước , trong đó một số nhóm hàng hóa tăng cao do nhu cầu tiêu dùng chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên đán, gồm: đồ uống và thuốc lá tăng 0,69% ; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,66% (lương thực tăng 0,52% ; thực phẩm tăng 0,85% ); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,39%.
Riêng hai nhóm có CPI giảm, gồm: Giao thông giảm nhiềm nhất 3,04% do ảnh hưởng của đợt giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 1/1/2019 cùng với việc sử dụng quỹ bình ổn xăng, dầu tại kỳ điều hành ngày 16/1/2019 làm CPI xăng, dầu giảm 6,98% ; bưu chính viễn thông giảm 0,09%.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Trong khi đó, thị trường tiền tệ, tín dụng tương đối ổn định. Đến cuối năm 2018, tổng phương tiện thanh toán tăng 11,67%, huy động vốn tăng 11,95%, tín dụng đối với nền kinh tế tăng khoảng 13,93% so với cuối năm 2017. Mặt bằng lãi suất tiếp tục ổn định . Thanh khoản thị trường diễn ra bình thường, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ kịp thời.
Tỷ giá trung tâm có xu hướng tăng nhẹ, đến ngày 24/01/2019, tỷ giá trung tâm ở mức 22.880 (tỷ giá sàn 22.193 VND/USD và mức tỷ giá trần 23.566 VND/USD), tăng 55 VND/USD (+ 0,24%) so với cuối năm 2018. Tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng chủ yếu giao dịch quanh mức giá mua của ngân hàng nhà nước (23.200 VND/USD), không biến động nhiều so với cuối năm 2018.
Trong tháng 1/2019, giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng quốc tế, tuy nhiên trong biên độ hẹp hơn. Đầu tháng 01/2019, giá vàng bình quân trong nước được giao dịch quanh mức 36,43/36,55 triệu đồng/lượng, sau đó tăng theo giá vàng quốc tế. Đến sáng ngày 24/01/2019, giá vàng trong nước giao dịch ở mức 36,4/36,6 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa giá vàng miếng SJC và giá vàng quốc tế hiện ở mức khoảng 600 nghìn đồng/lượng.
Về thu, chi ngân sách nhà nước, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước tháng đầu tiên năm 2019 ước đạt 144,6 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 10,2% dự toán năm.
Riêng về dòng vốn đầu tư nước ngoài, số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, tính đến ngày 20/1/2019, tổng vốn đầu tư có yếu tố nước ngoài ước đạt 1,9 tỷ USD, tăng 51,9% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, có có 226 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 805 triệu USD, tăng 81,9%; có 72 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm khoảng 340 triệu USD, bằng 74,5% so với cùng kỳ năm 2018 và 489 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 360 triệu USD, tăng 54,7%. Giải ngân vốn FDI đạt khoảng 1,55 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2018.
Trong đó, các lĩnh vực sản xuất vẫn thu hút được nhiều sự quan tâm nhất của các nhà đầu tư, đứng đầu là công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm tỷ trọng 62,4% tổng số vốn đăng ký); lĩnh vực hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đứng thứ hai (chiếm 9,7%); lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ ba (chiếm 9,3%).
Tiếp tục ưu tiên tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh
Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2019, Chính phủ nhất quán tiếp tục ưu tiên tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập; giảm tỷ lệ doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; giảm chi phí đầu vào, chi phí cơ hội, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp và người dân.
Ngay trong ngày đầu năm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về việc tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, mục tiêu nhằm nâng cao thứ hạng của Việt Nam trong các xếp hạng quốc tế của WB, WEF, WIPO, UN về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh… Phấn đấu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh nước ta thuộc nhóm ASEAN 4.
Trong tháng đầu năm 2019, có 10.079 doanh nghiệp được thành lập mới với số vốn đăng ký đạt 151.117 tỷ đồng, giảm 7% về số doanh nghiệp và tăng 53,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018; tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 15 tỷ đồng, tăng 64,8%; tính cả 3.998 lượt doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn, tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung vào nền kinh tế trong tháng đạt gần 635,2 nghìn tỷ đồng, tăng 100,8% so với cùng kỳ năm 2018.
Bên cạnh đó, trong tháng còn có 8.465 doanh nghiệp trước đây gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, nay đã trở lại hoạt động, tăng 84,5% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong tháng 1/2019 của cả nước là 10.804 doanh nghiệp, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm 2018. Số doanh nghiệp này sau khi kết thúc thời hạn tạm ngừng có thể sẽ quay trở lại tình trạng hoạt động kinh doanh. Trong tháng có 4.767 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Minh Ngọc

Khơi thông nguồn lực kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân được coi là động lực tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Do đó việc thúc đẩy đầu tư để khu vực này trở thành động lực chính cho phát triển là ưu tiên hàng đầu của Việt Nam trong tương lai. Điều rất cần vào lúc này là “bàn tay kiến thiết” của Nhà nước nhằm tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các doanh nghiệp (DN).

Khơi thông nguồn lực kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân phát triển là nền tảng quan trọng đóng góp cho kinh tế Việt Nam.

 Kinh tế tư nhân còn hạn chế

Theo nghiên cứu của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), tỷ trọng nguồn tài chính tư nhân trong nước trong tổng các nguồn lực tài chính cho phát triển của Việt Nam là tương đối thấp và tăng chậm so với các nước ASEAN khác. Dù đầu tư từ khu vực tư nhân trong nước trong những năm qua đã tăng cao so với những năm trước, nhưng chỉ chiếm 40% tổng tài chính cho phát triển. Tỷ trọng nguồn tài chính tư nhân của Việt Nam trong tổng đầu tư ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với Lào, Malaysia, Philippines và Thái Lan. Tỷ lệ đầu tư tư nhân trên đầu người của Việt Nam là 490 USD so với mức trung bình của các nước ASEAN là 690 USD, thuộc nhóm thấp nhất ở khu vực ASEAN.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên được xác định là do cơ cấu kinh tế của Việt Nam, với đặc điểm là các DN thuộc khu vực tư nhân có quy mô nhỏ hơn các DN thuộc khu vực Nhà nước và các DN FDI. UNDP cho rằng Việt Nam cần tiếp tục tăng tốc phát triển khu vực kinh tế tư nhân, huy động nhiều hơn nguồn tài chính của tư nhân trong nước cho phát triển. Do đó để mở rộng đầu tư của khu vực tư nhân thì yếu tố đầu tiên là tạo ra một sân chơi bình đẳng cho khu vực tư nhân trong nước, trong đó có cả việc cải cách DN nhà nước và sửa đổi chính sách thu hút FDI nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho các công ty tư nhân gia nhập thị trường, tăng cường mối liên kết của các công ty này với các chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu.

UNDP cũng cho rằng, cần thực hiện các chính sách và cung cấp sự hỗ trợ có trọng điểm để các DN tư nhân trong nước phát triển về quy mô, nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh, cải thiện các mối liên kết với các chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu. Song song đó, Chính phủ cần tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ DN trong nước tiếp cận đất đai và tín dụng, nâng cao năng lực kỹ thuật để áp dụng công nghệ mới và nắm bắt cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi

Tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam 2019, ông Nguyễn Văn Bình – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương từng đề cập, trong bối cảnh dư địa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ không còn nhiều, thì những chính sách cơ cấu nhằm giải phóng và tạo năng lực sản xuất mới như phát triển kinh tế tư nhân, cơ cấu lại DN nhà nước hoàn toàn có khả năng tạo ra đột phá về cải thiện năng suất lao động, về tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên câu hỏi được ông Bình đưa ra nằm ở việc chúng ta cần làm gì để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh một cách thực chất gắn với hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó tạo điều kiện kinh tế tư nhân phát triển nhanh và bền vững để tăng cường khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam.

Theo Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), muốn khuyến khích người dân bỏ tiền ra đầu tư, Nhà nước cần đảm bảo môi trường kinh doanh không những thuận lợi, mà còn an toàn. Do vậy, song hành với cải cách hành chính, cải cách tư pháp cần phải là một trọng tâm cải thiện môi trường kinh doanh sắp tới.

DN Việt Nam đang dựa quá nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng và lãi suất thực của vốn vay quá cao trong tương quan so sánh với các nền kinh tế khác đang hạn chế năng lực cạnh tranh của DN. Trong bối cảnh trái phiếu Chính phủ phát hành còn ở quy mô lớn, thì lãi suất vay khó mà giảm xuống, càng làm cho khu vực DN tư nhân không thoát khỏi rào cản này. Những khó khăn trên ảnh hưởng rất lớn đến DN tư nhân, đó là chưa kể nạn phân biệt đối xử, nạn tham nhũng, các rào cản thủ tục hành chính.

Nhìn nhận Việt Nam bước vào năm 2019 với kỳ vọng về không ít cơ hội và thách thức đan xen, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP; EVFTA; RCEP và các mạng công nghiệp 4.0 có thể tạo thêm xung lực cho cải cách và tiếp cận nguồn lực kỹ năng, công nghệ, vốn từ bên ngoài.

Do đó theo CIEM, Việt Nam cần tiếp tục hướng dẫn, tổ chức triển khai hiệu quả các luật căn bản của thể chế kinh tế thị trường như: Bộ luật Dân sự; Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi); Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi); Luật Quản lý nợ công; Luật Cạnh tranh (sửa đổi); Luật an ninh mạng. Ưu tiên cải cách môi trường kinh doanh theo hướng tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với Nghị quyết 02/NQ-CP năm 2019, cũng như tiếp tục cải cách toàn diện các quy định về điều kiện kinh doanh nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN, phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.

H.Vũ

Tỷ giá ngoại tệ ngày 12/2: Giá USD trong nước và quốc tế cùng tăng

Giá USD sáng nay (12/2) tại cả thị trường trong nước và quốc tế cùng tăng.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sáng nay (12/2) niêm yết tỷ giá trung tâm VND/USD ở mức 22.905 đồng/USD, tăng 10 đồng so phiên hôm qua.

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.591 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.219 VND/USD.

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 23.200 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.532 đồng.

Mở cửa phiên giao dịch sáng 12/2, giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại biến động tăng so với phiên hôm qua. Cụ thể, Vietcombank mua – bán ở mức 23.160-23.250 đồng/USD, tăng 10 đồng mỗi chiều giao dịch.

VietinBank mua – bán giá 23.160-23.250 đồng/USD, tăng 2 đồng mua vào, giảm 6 đồng bán ra. BIDV thì niêm yết giá 23.160-23.250 đồng/USD, tăng 5 đồng.

Trên thị trường thế giới, chỉ số đô la Mỹ (USD Index) đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với 6 loại tiền tệ chính (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đầu phiên sáng nay đang ở mức 96,84 điểm, tăng so với mức 96,41 điểm cùng giờ phiên hôm qua. USD Index tăng liên tục từ phiên đầu tháng 2 đến nay.

Giá USD hiện đang đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1279 USD; 110,38 Yen đổi 1 USD  và 1,286 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD = 6,7923 CNY./

PV/VOV.VN

Đồng USD tăng mạnh đẩy giá vàng giảm

Chỉ số ICE Dollar, chỉ số đo biến động của đồng USD so với 6 loại tiền tệ lớn khác, tăng 0,6% lên 97,10 điểm – chỉ số như vậy giao dịch ở mức cao nhất tính từ giữa tháng 12/2018.

Đồng USD tăng mạnh đẩy giá vàng giảm

Ảnh: GettyImages

Phiên giao dịch ngày thứ Hai, giá vàng giảm khi chỉ số đồng USD giao dịch ở mức cao nhất tính từ tháng 12/2018, nhu cầu của nhà đầu tư sở hữu các loại tiền tệ khác đối với vàng giảm bớt.
Chuyên gia phân tích thị trường cao cấp tại Active Trades, ông Ricardo Evangelista, nhận xét: “Rõ ràng, khi mà bất ổn tăng cao hơn, nhà đầu tư đang tìm kiếm nhiều hơn nữa sự an toàn ở đồng USD Mỹ. Những lo lắng liên quan đến kinh tế Trung Quốc, tăng trưởng yếu và căng thẳng chính trị tại khu vực đồng tiền chung châu Âu, Brexit cũng như căng thẳng thương mại kéo dài gây tác động xấu lên tâm lý thị trường, đồng USD lại được lựa chọn nhiều hơn như một tài sản an toàn”.
Đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Hai, giá vàng giao kỳ hạn tháng 4/2019 giảm 6,60USD/ounce tương đương 0,5% xuống 1.311,90USD/ounce. Trong tuần trước, giá vàng giảm 0,3%, thế nhưng tính từ cuối năm ngoái, giá vàng đã tăng 2,9%, dựa trên biến động của giá vàng giao hợp đồng loại gần nhất.
Nhà đầu tư mua mạnh vàng khi diễn biến các cuộc đàm phán không có gì mới, tăng trưởng toàn cầu bị điều chỉnh giảm dự báo, nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến các loại tài sản có độ rủi ro thấp.
Chỉ số ICE Dollar, chỉ số đo biến động của đồng USD so với 6 loại tiền tệ lớn khác, tăng 0,6% lên 97,10 điểm – chỉ số như vậy giao dịch ở mức cao nhất tính từ giữa tháng 12/2018. Trong tuần trước, chỉ số đồng USD tăng 1,1%.
Giới đầu tư đang chờ đợi thông tin về diễn biến của các cuộc đàm phán thương mại trong tuần này, phái đoàn Mỹ đến Trung Quốc để tham gia các vòng đàm phán về thương mại. Trong tuần trước, Tổng thống Mỹ khẳng định ông không có kế hoạch gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trước thời hạn chót ngày 1/3/2019 nhằm có được một thỏa thuận thương mại.
Tổng thống Trump đã từng nói về khả năng sẽ tăng thuế với khoảng 200 tỷ USD hàng nhập khẩu Trung Quốc lên 25% nếu hai bên không đạt được thỏa thuận thương mại.

TRUNG MẾN

Xuất khẩu lâm sản tháng 1 tăng 11%

Giá trị xuất khẩu lâm sản tháng 1/2019 ước đạt 903 triệu USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó: gỗ và sản phẩm gỗ đạt 852 triệu USD, tăng 10%; lâm sản ngoài gỗ đạt 51 triệu USD, tăng 20%.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá trị xuất khẩu lâm sản tháng 1/2019 ước đạt 903 triệu USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó: gỗ và sản phẩm gỗ đạt 852 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ 2018; lâm sản ngoài gỗ đạt 51 triệu USD, tăng 20% so với cùng kỳ 2018.

Ngành chế biến gỗ và lâm sản hiện là ngành hàng có giá trị xuất khẩu chủ lực. Ảnh: TTXVN

Giá trị xuất siêu lâm sản tháng 1 ước đạt 661 triệu USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2018. Thị trường xuất khẩu lâm sản hiện nay chủ yếu vẫn là 5 thị trường: Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc và Hàn Quốc, chiếm khoảng 87% tổng giá trị xuất khẩu lâm sản.

Trong tháng 1/2019, một số tỉnh bắt đầu tiến hành trồng rừng tập trung, kết quả đã trồng 2.360 ha.

Căn cứ cơ sở dữ liệu theo dõi mùa vụ trồng rừng của Tổng cục Lâm nghiệp, từ tháng 1 đến tháng 3 là mùa vụ trồng rừng vụ Xuân của các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ. Tổng cục Lâm nghiệp đề nghị các đơn vị, địa phương quan tâm chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền và hướng dẫn các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân ở địa phương triển khai trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng theo mùa vụ, đảm bảo hiệu quả và hoàn thành kế hoạch phát triển rừng năm 2019.

Các địa phương cũng tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 9644/CT-BNN-TCLN ngày 12/12/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ nhân dịp Xuân Kỷ Hợi năm 2019.

Về bảo vệ rừng, trong tháng 1, cả nước đã phát hiện 951 vụ vi phạm các quy định của Luật Lâm nghiệp, giảm 332 vụ, tương ứng giảm 26% so với tháng 01/2018; diện tích rừng bị thiệt hại 26,3 ha, giảm 34 ha, tương ứng giảm 56% so với cùng kỳ năm 2019.

Để chủ động triển khai các biện pháp bảo vệ rừng ngăn chặn và giải quyết căn bản các điểm nóng về cháy rừng, phá rừng trái pháp luật ngay từ đầu năm và nhất là trong mùa khô, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Chỉ thị số 557CT-BNN-TCLN ngày 25/01/2019 về việc tăng cường ngăn chặn các điểm nóng về phá rừng, cháy rừng.

Năm 2019, Tổng cục Lâm nghiệp đặt mục tiêu giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt trên 10,5 tỷ USD. Đồng thời, bảo vệ và phát triển bền vững đối với 100% diên tích rừng hiện có, ngăn chặn và xử lý kịp thời, có hiệu quả các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, giảm ít nhất 10% số vụ vi phạm và giảm ít nhất 20% diện tích rừng bị thiệt hại so với năm 2018./.

Bích Hồng/BNEWS/TTXVN

PV Power và Gazprom thúc đẩy hợp tác phát triển các dự án điện khí tại Việt Nam

Ngày 28/1/2019, tại trụ sở Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam – CTCP (PV Power), Tổng giám đốc PV Power Lê Như Linh đã tiếp ông Tumanov Sergei Viktorovich, Giám đốc điều hành công ty Gazprom E.P International.

Gazprom là một doanh nghiệp hàng đầu của Liên bang Nga hoạt động trong lĩnh vực dầu khí, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp nhiên liệu LNG. Gazprom hiện đang nghiên cứu phát triển mỏ khí Báo Vàng tại khu vực biển tỉnh Quảng Trị để sử dụng phát điện tại Việt Nam.

tong giam doc pv power tiep va lam viec voi dai dien gazprom
Tổng giám đốc PV Power Lê Như Linh tiếp và làm việc với ông Tumanov Sergei Viktorovich – Giám đốc điều hành công ty Gazprom E.P International

Buổi làm việc diễn ra trên tinh thần cởi mở, hai bên đã trao đổi về việc hợp tác phát triển các dự án điện khí tại Việt Nam, cung cấp LNG nhập khẩu cho các nhà máy điện của PV Power. Trong thời gian tới, hai bên dự định có thể sẽ tiến hành ký biên bản ghi nhớ.

tong giam doc pv power tiep va lam viec voi dai dien gazprom
Toàn cảnh buổi làm việc

Hiện tại, PV Power đang triển khai đầu tư nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 sử dụng khí LNG nhập khẩu, PV Power đang báo cáo PVN về việc tìm kiếm đối tác để cùng triển khai dự án NMĐ Sơn Mỹ II sử dụng LNG nhập khẩu, tìm kiếm nguồn khí LNG để bổ sung cho NMĐ Cà Mau 1&2.

PV

TKV quyết nâng cao sản lượng than khai thác

Ngày 30/1/2019 Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam tổ chức Hội nghị điều độ sản xuất than tháng 1/2019 và tổng kết chiến dịch thi đua 90 ngày đêm sản xuất, tiêu thụ than Quý IV/2018.

Năm 2018, nhu cầu than cho các hộ tăng trưởng đột biến. Để đáp ứng nhu cầu than tiêu thụ tăng mạnh, trên cơ sở nhận thức rất rõ về vai trò trách nhiệm trong việc cung cấp than cho nền kinh tế, đặc biệt là than cho điện, TKV đã triển khai nhiều giải pháp như: Điều chỉnh tăng kế hoạch sản xuất, tổ chức phát động thi đua cao điểm 90 ngày đêm sản xuất và tiêu thụ than quý IV/2018. Đây là lần đầu tiên kể từ khi thành lập Tập đoàn, TKV tổ chức thi đua cao điểm sản xuất, tiêu thụ than.

Trong quá trình triển khai đợt thi đua, TKV đã tiến hành sơ kết 45 ngày và 60 ngày đêm thực hiện, nhằm kịp thời đánh giá kết quả thực hiện và đề ra các biện pháp để hoàn thành các mục tiêu thi đua. Kết thúc đợt thi đua cho thấy hầu hết các đơn vị thành viên của TKV đã nghiêm túc triển khai, đạt được kết qủa cao cả về sản lượng than sản xuất cũng như các chỉ tiêu công nghệ bóc đất, đào lò, góp phần cùng Tập đoàn hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị năm 2018, đảm bảo cung cấp đủ than cho nền kinh tế. Cụ thể, có 10/25 đơn vị hoàn thành vượt toàn diện cả chỉ tiêu công nghệ và chỉ tiêu sản lượng ≥ 5%; 7/25 đơn vị chỉ vượt chỉ tiêu công nghệ hoặc chỉ tiêu sản lượng.

TKV quyết nâng cao sản lượng than khai thác

Tập đoàn đã khen thưởng cho các đơn vị hoàn thành vượt mức mục tiêu thi đua 17 đơn vị với tổng số tiền 1,245 tỷ đồng. Công đoàn TKV cũng đã trao thưởng cho các đơn vị với tổng số tiền 195 triệu đồng.

Bước vào triển khai kế hoạch năm 2019, Tập đoàn đã chỉ đạo các đơn vị tập trung gia tăng tối đa sản lượng than, phấn đấu khai thác ít nhất 40 triệu tấn than. Tổng giám đốc và Ban Thường vụ Công đoàn Than- Khoáng sản Việt Nam cũng đã ban hành Kế hoạch phát động thi đua 2019. Thực hiện kỷ luật điều hành của Tập đoàn, các đơn vị đã ra quân sản xuất với khí thế quyết tâm cao nhằm đảm bảo nguồn than cung cấp cho các hộ tiêu thụ, nhất là hộ điện và nguồn than sẵn sàng dự phòng cho dịp nghỉ Tết Nguyên Đán nhiều ngày.

Kết quả, trong tháng 1, Tập đoàn đã sản xuất 4 triệu tấn than; bằng 10% KH năm. Trong đó, một số đơn vị đạt cao, từ 12-13% kế hoạch năm như Than Núi Béo, Than Hà Lầm, Than Hà Tu, Than Đèo Nai, TCT công nghiệp mỏ Việt Bắc.

TKV quyết nâng cao sản lượng than khai thác

Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Lê Minh Chuẩn ghi nhận và biểu dương kết quả mà các đơn vị đã đạt được trong chiến dịch thi đua 90 ngày đêm năm 2018, cũng như trong tháng đầu tiên năm 2019. Chủ tịch HĐTV Lê Minh Chuẩn nhấn mạnh, năm 2019 sẽ là năm thử thách đối với TKV và các đơn vị sản xuất than khi mà nhu cầu than cho các hộ tiêu thụ tiếp tục tăng cao.

Cũng tại Hội nghị, TGĐ Tập đoàn Đặng Thanh Hải đã có những chỉ đạo cụ thể nhiệm vụ SXKD trong tháng 2/2019. Theo đó, Tập đoàn sẽ sản xuất 2,8 triệu tấn than, bốc xúc đất đá 11 triệu m3. Đào lò 14.060 m và tiêu thụ 3 triệu tấn than. Để đạt được kết quả này, TGĐ đề nghị các đơn vị nâng cao tính tự chủ trong điều hành SXKD của mỗi đơn vị. TGĐ cũng yêu cầu các đơn vị đẩy mạnh áp dụng các thiết bị tiên tiến, công nghệ hiện đại vào sản xuất để tăng năng suất lao động. Đồng thời, tăng cường công tác an toàn lao động trong điều kiện nhịp độ sản xuất tăng cao.

Thúy Ngà

Giá vàng miếng cao nhất nửa năm, USD ngân hàng tăng

So với giá vàng thế giới quy đổi, giá vàng trong nước hiện chỉ cao hơn từ 50.000-100.000 đồng/lượng…

Tín hiệu từ FED và sự sụt giá của đồng USD giúp củng cố lực tăng cho giá vàng – Ảnh: Getty/CNBC.

Giá vàng thế giới tăng sau cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), đưa giá vàng miếng trong nước sáng nay (31/1) lên ngưỡng 37 triệu đồng/lượng. Giá USD tự do ổn định và giá USD ngân hàng tăng, dù tỷ giá ngoại tệ này trên thị trường quốc tế sụt giảm.

Lúc hơn 10h trưa nay, Tập đoàn Phú Quý niêm yết giá vàng SJC cho thị trường Hà Nội ở mức 36,86 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,96 triệu đồng/lượng (bán ra). Tại thị trường Tp.HCM, Công ty SJC báo giá vàng miếng cùng thương hiệu ở mức 36,8 triệu đồng/lượng và 37 triệu đồng/lượng, tương ứng giá mua và bán.

So với cùng thời điểm sáng qua, giá vàng miếng hiện tăng 80.000-100.000 đồng/lượng, nâng tổng mức tăng trong 1 tuần trở lại đây lên gần nửa triệu đồng mỗi lượng. Đây là vùng giá cao nhất của vàng miếng kể từ trung tuần tháng 7 năm ngoái, theo biểu đồ giá vàng của các doanh nghiệp kim hoàn lớn.

Giá các sản phẩm vàng 999,9 đang đồng loạt ở trên ngưỡng 37 triệu đồng/lượng. Tập đoàn Phú Quý báo giá vàng nhẫn tròn trơn hiệu Phú Quý ở mức 36,6 triệu đồng/lượng và 37 triệu đồng lượng, tương ứng giá mua và bán, tăng 100.000 đồng/lượng so với cùng thời điểm sáng qua.

Công ty Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng nhẫn tròn trơn Rồng Thăng Long ở mức 36,58 triệu đồng/lượng (mua vào) và 37,03 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 70.000 đồng/lượng so với cuối giờ chiều qua.

Giá vàng trong nước đang được đẩy lên theo giá vàng thế giới, nhưng vẫn tăng chậm hơn giá vàng thế giới. Bởi vậy mà so với giá vàng thế giới quy đổi, giá vàng trong nước hiện chỉ cao hơn từ 50.000-100.000 đồng/lượng.

Giá USD tự do tại Hà Nội sáng nay phổ biến ở mức 23.185 đồng (mua vào) và 23.205 đồng (bán ra), không thay đổi so với sáng hôm qua.

Sau nhiều ngày đi ngang hoặc giảm nhẹ, giá USD niêm yết tại Ngân hàng Vietcombank sáng nay tăng 10 đồng, lên mức 23.160 đồng (mua vào) và 23.250 đồng (bán ra).

Trên thị trường thế giới, chỉ số Dollar đo sức mạnh đồng USD so với một rổ gồm 6 đồng tiền chủ chốt khác tụt về mức 95,33 điểm trong phiên châu Á sáng nay, so với ngưỡng 95,8 điểm sáng qua. Trong phiên Mỹ ngày thứ Tư, có lúc chỉ số này giảm còn 95,2 điểm, từ ngưỡng 96,6 điểm vào tuần trước.

Đồng USD rớt giá mạnh sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) phát tín hiệu dừng nâng lãi suất trong năm 2018 và giảm tốc chương trình thắt chặt định lượng (QT).

Tín hiệu từ FED và sự sụt giá của đồng USD giúp củng cố lực tăng cho giá vàng, loại tài sản không mang lãi suất và được định giá bằng USD.

Lúc đóng cửa tại thị trường New York, giá vàng giao ngay tăng 8,1 USD/oz, tương đương tăng 0,6%, đạt 1.320,4 USD/oz.

Lúc hơn 10h trưa nay, giá vàng giao ngay trong phiên châu Á giảm 0,7 USD/oz so với chốt phiên Mỹ, còn 1.319,7 USD/oz.

Đây là vùng giá cao nhất của vàng trong vòng 8 tháng. Trong tháng 1 này, giá vàng giao ngay đã tăng 2,8%, tiến tới hoàn tất tháng tăng thứ tư liên tiếp, hãng tin Reuters cho hay.

Trong một dấu hiệu cho thấy vàng đang được giới đầu tư ưa chuộng trở lại, khối lượng nắm giữ của quỹ giao dịch hoán đổi (ETF) vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust hiện đang ở mức cao nhất kể từ tháng 6/2018. Trong tháng 1 này, SPDR Gold Trust đã tăng nắm giữ 4,6%, mức tăng tháng mạnh nhất kể từ tháng 9/2017.

Giá vàng thế giới quy đổi hiện tương đương khoảng 36,9 triệu đồng/lượng nếu được quy đổi theo giá USD tự do và chưa tính các chi phí liên quan.

DIỆP VŨ

Chính sách mới nổi bật có hiệu lực từ tháng 2/2019

Theo đó, hàng loạt chính sách mới như: Điều chỉnh tiền lương tháng đóng BHXH; Chuyển đổi thẻ ATM sang thẻ chi; Chương trình giáo dục phổ thông mới… sẽ chính thức có hiệu lực từ tháng 2/2019.

Chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương trình giáo dục phổ thông mới đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tại Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018.

Đáng chú ý, có nhiều môn học mới sẽ xuất hiện trong Chương trình học của nhiều cấp học, điển hình như:

– Cấp tiểu học: Có môn học mới là Tin học và Công nghệ, bên cạnh các môn học trước đây như: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Lịch sử và Địa lý…

– Cấp trung học cơ sở: Môn Tin học trở thành môn học bắt buộc, ngoài ra môn Lịch sử và Địa lý, Khoa học và Tự nhiện sẽ có cách thức tổ chức mới.

– Cấp trung học phổ thông: Học sinh được lựa chọn học theo nhóm Khoa học Xã hội (gồm các môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, Lịch sử, Địa lý); nhóm Khoa học tự nhiên (gồm các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học); nhóm Công nghệ và nghệ thuật (gồm Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật).

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/2/2019.

Điều chỉnh tiền lương tháng đóng BHXH

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư 35/2018/TT-BLĐTBXH điều chỉnh tiền lương và thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.

Từ ngày 1/1/2019, tiền lương tháng đã đóng BHXH với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định bắt đầu tham gia BHXH từ năm 2016 trở đi, người lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định… được điều chỉnh theo công thức:

Tiền lương tháng đóng BHXH sau điều chỉnh của từng năm = Tổng tiền lương tháng đóng BHXH của từng năm x mức điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH của năm tương ứng.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15/2/2019.

Bổ sung nhiều nhà tù để xác nhận người hoạt động cách mạng

Thông tư 02/2019/TT-BLĐTBXH đã thay đổi Danh mục nhà tù và những nơi bị coi là nhà tù trong các thời kỳ kháng chiến để xem xét xác nhận người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đầy.

Danh mục mới bổ sung loạt nhà tù và những nơi được coi là nhà tù, như:

– Tại tỉnh An Giang, có thêm tiểu khu Long Xuyên, tiểu khu Châu Đốc, chỉ khu quận An Phú, chỉ khu quận Tân Châu, chỉ khu quận Chợ Mới, chủ khu Huệ Đức…

– Tại tỉnh Bắc Giang, có thêm đồn Con Voi xã Trung Sơn, huyện Việt Yên; Bốt Kim Sa xã Đan Hội, huyện Lục Nam…

Ngoài ra, Thông tư còn nêu cụ thể thời gian tồn tại của các nhà tù nói trên.

Thông tư này được ban hành ngày 08/01/2019, có hiệu lực từ ngày 21/2/2019.

Chuyển đổi thẻ ATM sang thẻ chip

Việc chuyển đổi có lộ trình và được bổ sung tại Thông tư 41/2018/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 19/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

chinh sach moi noi bat co hieu luc tu thang 2/2019
Trong thời gian chuyển đổi, tổ chức phát hành thẻ và tổ chức thanh toán thẻ phải đảm bảo hoạt động thẻ diễn ra liên tục, ổn định, an toàn và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của chủ thẻ. (Ảnh minh họa – Internet).

Lộ trình chuyển đổi được quy định như sau:

– Đến 31/12/2019, ít nhất 35% ATM, 50% thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán tuân thủ tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa;

– Đến 31/12/2020, 100% ATM và thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán tuân thủ tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa;

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 18/02/2019.

Bộ trưởng được đi xe công giá đến 1,1 tỷ đồng

Ngày 11/01/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định 04/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/02/2019 quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô trong các cơ quan Nhà nước.

Trong đó, Nghị định nêu rõ:

– Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội được sử dụng thường xuyên 01 ô tô, kể cả đã nghỉ công tác và không quy định mức giá.

– Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND của Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh được sử dụng 01 xe ô tô có giá tối đa 1,1 tỷ đồng trong thời gian công tác.

– Thứ trưởng, Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND của Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh được sử dụng ô tô đưa đón từ nơi ở đến cơ quan và đi công tác với giá mua tối đa 920 triệu đồng/xe.

Trường hợp người tiền nhiệm nghỉ, chuyển công tác hoặc thôi giữ chức vụ, ô tô đã trang bị chưa đủ điều kiện thanh lý, thay thế thì người kế nhiệm tiếp tục sử dụng, không trang bị mới.

 Quy định mới về thời gian tập sự của giáo viên, giảng viên

Thông tư 31/2018/TT-BGDĐT quy định thời gian tập sự theo chức danh nghề nghiệp giáo viên, giảng viên trong các cơ sở giáo dục công lập như sau:

– Đối với giảng viên hạng III, giáo viên THPT hạng III, giáo viên dự bị đại học hạng III: Tập sự 12 tháng. Trước đây giáo viên THPT chỉ cần tập sự 09 tháng.

– Đối với giáo viên trung học cơ sở hạng III: Tập sự 09 tháng

– Đối với giáo viên mầm non hạng IV,  giáo viên tiểu học hạng IV: Tập sự 06 tháng.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 8/2/2019.

Chi 200 triệu đồng để mua tin thuốc lá nhập lậu

Thuốc lá lậu bảo đảm chất lượng sẽ được đấu giá, tiền thu được sẽ chi cho hoạt động chống buôn lậu thuốc lá theo Thông tư 122/2018/TT-BTC

Ngoài ra, tiền có được từ đấu giá sẽ được chi cho các khoản sau:

– Chi mua tin thuốc lá nhập lậu tối đa không quá 200 triệu đồng/vụ việc;

– Chi xăng dầu cho phương tiện để kiểm tra, bắt giữ đối tượng và tang vật vi phạm;

– Chi bồi dưỡng làm đêm, làm thêm giờ cho cán bộ, công chức…

Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được số tiền thu được do đấu giá thì cơ quan, đơn vị được giao tổ chức bán đấu giá có trách nhiệm nộp toàn bộ số tiền vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước.

Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/2/2019.

Hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm

Ngày 28/12/2018, Bộ TT&TT đã ban hành Thông tư số 22/2018/TT-BTTTT quy định cụ thể Danh mục hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12/02/2019. Theo đó, hàng hóa khi nhập khẩu theo danh mục dưới đây phải có giấy phép của Bộ TT&TT (chỉ áp dụng đối với hàng hóa có mã số HS 08 số):

Trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa trong Danh mục thực hiện theo quy định tại Điều 27, Điều 28 Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 của Chính phủ.

Ban hành danh mục 13 sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia

Nội dung đáng chú ý này được quy định tại Thông tư 37/2018/TT-BNNPTNT về danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia.

Theo đó, 13 sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia được hỗ trợ theo Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 bao gồm:

– Gạo; Cà phê; Cao su; Điều; Hồ tiêu;

– Chè; Rau, quả; Sắn và sản phẩm từ sắn;

– Thịt lợn; Thịt và trứng gia cầm;

– Cá tra; Tôm; Gỗ và sản phẩm từ gỗ.

Thông tư 37/2018/TT-BNNPTNT bắt đầu có hiệu lực từ ngày 8/2/2019.

Như Dũng

Xuất nhập khẩu Việt Nam – Braxin đang trên đà phục hồi

Thương vụ Việt Nam tại Bra-xin cho biết, chính sách thương mại của Braxin có thể thay đổi với việc chính quyền mới đang ngỏ ý tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do và thành lập các khối kinh tế mới trong đó vai trò của Bra-xin được thể hiện rõ hơn.

Xuất nhập khẩu Việt Nam - Braxin đang trên đà phục hồi

Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, năm 2018, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Bra-xin đạt 4,44 tỉ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó xuất khẩu đạt 2,06 tỉ USD, nhập khẩu đạt 2,38 tỉ USD.

Theo số liệu nói trên, xuất khẩu các sản phẩm chính của Việt Nam sang Bra-xin trong năm 2018 tăng mạnh ở một số mặt hàng như sản phẩm từ cao su tăng 97%, sản phẩm nội thất từ chất liệu gỗ khác (+77%), nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày (+69%), Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác (+57%), các sản phẩm khác có tăng nhưng không đáng kể, cụ thể như: Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận ( +34%), Kim loại thường khác và sản phẩm (+30%).

Đáng lưu ý, mặt hàng thủy sản giảm đáng kể (giảm 16%) so với cùng kì năm 2017, sự suy giảm lượng cá xuất khẩu vào Braxin là do tác động của việc tăng cường kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đối với file cá đông lạnh khi thông quan đối với tất cả mặt hàng thủy sản nhập khẩu.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu của Bra-xin sang Việt Nam có xu hướng tiếp tục tăng trong năm 2018, do nhu cầu cao cho các nguyên liệu công nghiệp như kim loại thường khác (tăng +10.632 %), thức ăn gia súc và nguyên liệu (+234%), quặng và khoáng sản khác (+197%), Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (116%), Bông các loại(+58%), Gỗ và sản phẩm gỗ (+41%), so với cùng kỳ năm 2017. Nhưng cũng có một số mặt hàng giảm đáng kể như phế liệu sắt thép (-95%), đậu tương (-43%), Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày (-33%).

Số liệu của cả hai bên cho thấy, trao đổi thương mại hai chiều có xu hướng phục hồi và tăng đều qua các năm. Nhập khẩu các sản phẩm của Braxin vào Việt Nam tăng mạnh (tăng 30%) so với năm 2017 có nguyên nhân là do Chính phú Bra-xin chủ trương hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu bằng cải cách thủ tục xuất khẩu, đồng nội tệ trong năm giảm mạnh so với đô la Mỹ có lợi cho xuất khẩu. Các mặt hàng nông nghiệp có thể mạnh của Bra-xin đang vào mùa vụ thu hoạch và có năng suất cao. Sự biến động của thương mại thế giới đặc biệt là các nền kinh tế vốn là đối tác chính của Braxin (Mỹ, Trung Quốc) khiến các mặt hàng nông sản Braxin được tìm kiếm nhiều hơn trên thị trường quốc tế.

Dự báo, trong năm 2019, cùng với chủ trương kích cầu nền kinh tế và những kết quả của cuộc họp cấp cao giữa hai nước diễn ra trong năm 2018, xuất nhập khẩu giữa hai nước tiếp tục trên đà tăng trưởng ổn định. Bên cạnh đó, cơ cấu hàng hóa cũng cho thấy tính bổ sung cao của hai nền kinh tế, Bra-xin chủ yếu xuất khẩu các loại hàng hóa cơ bản (tỉ trọng chiếm khoảng 80% xuất khẩu của Bra-xin sang Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu hàng hóa chế biến, chế tạo (chiếm khoảng 90%) nhập khẩu của Bra-xin từ Việt Nam trong năm 2018. Điều này cho thấy tiềm năng trao đổi thương mại giữa hai nước còn rất lớn vì mỗi nước đều có thế tận dụng tốt năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực có thế mạnh.

Tổng thống đắc cử Jair Bolsonaro là người theo trường phái cực hữu sẽ tập trung vào phát triển kinh tế theo mô hình nước Mỹ hiện tại. Là một nước có tổng thu nhập quốc nội GDP lớn nhất Nam Mỹ và đứng thứ 7 thế giới, trước đây, kinh tế Bra-xin không thực sự hướng ngoại, chủ yếu vào phục vụ phát triển thị trường nội địa. Nhưng sắp tới, chính sách này có thể thay đổi với việc chính quyền mới đang ngỏ ý tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do và thành lập các khối kinh tế mới trong đó vai trò của Bra-xin được thể hiện rõ hơn.

Về xuất khẩu, Bra-xin tiếp tục áp dụng các chính sách tăng cường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp chủ đạo như đậu tương, ngô, bông, thịt các loại bằng việc áp dụng hàng loạt các chương trình kích thích xuất khẩu như chương trình 500 nghìn tấn: nhằm đạt được trung bình hàng tháng là 500 nghìn tấn trong tổng xuất khẩu thịt gia cầm và thịt lợn cho đến cuối năm 2020.

Mặt khác, Bra-xin tiếp tục thực hiện các quy định quốc tế về phòng vệ thương mại. Năm 2018, cho đến đầu tháng 12/2018 , đã có 33 cuộc điều tra về việc bán phá giá đã được bắt đầu, trong đó 27 cuộc điều tra đã được rà soát. Trong cùng thời gian, 17 cuộc điều tra khác áp dụng biện pháp chống bán phá giá và điều tra trợ cấp được hoàn thành với việc áp dụng biện pháp áp thuế. Chính sách này khả năng cao sẽ có thể thay đổi khi Chính phủ mới thực hiện cải cách bắt đầu từ năm 2019.

Về đầu tư, Braxin đã được nâng hạng đáng kể trong các chỉ số về thương mại nước ngoài (đã đi từ vị trí thứ 139 đến vị trí thứ 106) và đi từ thứ 125 lên 109 trong chỉ số về môi trường kinh doanh. Sự cải thiện này phản ánh những nỗ lực của  Bra-xin trong việc thực hiện các biện pháp thuận lợi hóa thương mại. Điều này đã góp phần củng cổ niềm tin cho các nhà đầu tư tại Braxin.

Sự biến động của thương mại thế giới khiến xu hướng đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu được Braxin tiếp tục đẩy mạnh. Hiện tại, các mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam chiếm ưu thế là thủy sản, giày dép, sản phẩm từ cao su và hàng thủ công mỹ nghệ. Braxin có nhu cầu cao cho các sản phẩm tiêu dùng và làm đẹp với giá cả cạnh tranh. Vì vậy, để củng cố vị trí các mặt hàng trên tại thị trường Bra-xin, các doanh nghiệp cần tích cực tham gia các hội chợ để quảng bá giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm đối tác mới. Đồng thời lưu ý cập nhật thông tin thường xuyên và đảm bảo chất lượng hàng theo quy định nước sở tại nhằm xây dựng hình ảnh thương hiệu vì mục đích lâu dài.

 Tuấn Hưng

Tiềm năng của năng lượng tái tạo trong lĩnh vực năng lượng của Việt Nam

Năng lượng tái tạo có tiềm năng trở thành một phương án với chi phí thấp nhất giúp Việt Nam đáp ứng được nhu cầu năng lượng trong nước.

Ngày 23/1/2019 tại Hà Nội, hãng tư vấn quản lý toàn cầu hàng đầu McKinsey & Company đã công bố sách trắng có tiêu đề “Tìm kiếm một con đường khác cho tương lai năng lượng Việt Nam”.

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển năng lượng tái tạo bởi gần xích đạo và có bờ biển dài thuận lợi để phát triển điện mặt trời và điện gió.

Do đó, việc sử dụng năng lượng tái tạo đã được Chính phủ khuyến khích phát triển bằng nhiều chính sách, ưu đãi cho các nhà đầu tư. Điều này dẫn đến thời gian vừa qua, điện mặt trời là một trong những năng lượng tái tạo phát triển “nóng” với nhiều dự án đăng ký đầu tư. Tuy nhiên, việc phát triển năng lượng tái tạo đang gặp những khó khăn đến việc đền bù, giải phóng mặt bằng, đấu nối lưới điện quốc gia.

Toàn cảnh buổi họp báo

Theo đánh giá trên toàn cầu, Việt Nam là một trong 18 nền kinh tế mới nổi có sự phát triển vượt bậc. Vì vậy, Việt Nam cần nâng cao năng lực để đáp ứng nhu cầu đang tăng nhanh của mình về năng lượng để duy trì tăng trưởng. Con đường mà Việt Nam chọn để nâng cao năng lực đó sẽ có những tác động sâu rộng đến tiềm năng tăng trưởng GDP, thương mại, vấn đề môi trường và an ninh năng lượng.”

Với lợi thế là quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển năng lượng tái tạo bởi gần xích đạo và có bờ biển dài thuận lợi để phát triển điện mặt trời và điện gió. Cùng với xu hướng giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu của điện mặt trời và điện gió trong vòng 5 năm qua, trong đó giá vốn điện mặt trời giảm 75% và điện gió giảm 30%, đã đưa năng lượng tái tạo trở thành một nguồn cung cấp điện năng có chi phí dễ chấp nhận hơn so với các nguồn nhiệt điện truyền thống về dài hạn.

Ông Antonio Castellano, Giám đốc Hợp danh kiêm Trưởng ban Điện năng – Khí tự nhiên khu vực Đông Nam Á của McKinsey & Company chia sẻ tại buổi lễ

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, năng lượng tái tạo sẽ giúp ngành điện Việt Nam đạt kết quả tốt hơn so với xu thế hiện nay xét trên 3 khía cạnh chính gồm: giá thành, độ sạch và an ninh năng lượng.

Tại buổi họp báo, ông Antonio Castellano – Giám đốc Hợp danh kiêm Trưởng ban Điện năng – Khí tự nhiên khu vực Đông Nam Á của McKinsey & Company, cho biết: “Việt Nam muốn thúc đẩy phát triển tiềm năng của năng lượng tái tạo cần phải: Tạo ra các điều kiện thị trường thuận lợi để phát triển năng lượng tái tạo, nâng cao năng lực quốc gia trong việc triển khai các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn có sự hợp tác với các nhà đầu tư quốc tế có năng lực, nâng cao vai trò của lĩnh vực sản xuất điện từ khí đốt thiên nhiên trong tổng quy hoạch điện quốc gia”.

Năng lượng tái tạo có tiềm năng trở thành lựa chọn có chi phí thấp nhất đối với Việt Nam để đáp ứng nhu cầu năng lượng của mình. Hành động ngày hôm nay để tạo nền tảng cho phát triển năng lượng tái tạo sẽ đem lại cho Việt Nam tiềm năng để có được một tương lai ít tốn kém hơn, sạch hơn, an ninh năng lượng cao hơn.

Hà An

Sacombank vượt kế hoạch lợi nhuận nhờ thu nhập bất thường

Khoản lợi nhuận 627 tỷ đồng từ hoạt động khác được ghi nhận trong 4 giúp Sacombank đạt hơn 2.246 tỷ đồng lợi nhuận, vượt 22% kế hoạch đề ra.

Sacombank vượt kế hoạch lợi nhuận nhờ thu nhập bất thường

Ông Dương Công Minh, Chủ tịch Sacombank.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) công bố kết quả kinh doanh năm 2018. Theo đó, thu nhập lãi thuần đạt 7.633 tỷ đồng, tăng trưởng 44% so với năm trước đó. Các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối hay mua bán chứng khoán không tăng trưởng cao như hoạt động tín dụng.

Tăng trưởng cao nhất là khoản thu nhập khác, được ghi nhận phần lớn trong quý cuối năm. Cụ thể, ngân hàng báo lãi 626,4 tỷ đồng từ hoạt động khác trong quý 4. Tính cả năm, lãi từ hoạt động khác đạt 932 tỷ đồng, tăng hơn 3 lần so với năm 2017.

Nhờ lợi nhuận lớn từ hoạt động khác này, lợi nhuận của Sacombank cũng tăng mạnh. Lợi nhuận trước thuế trong quý 4 đạt 932 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với cùng kỳ. Lợi nhuận cả năm đạt 2.246 tỷ đồng và vượt 22% kế hoạch lợi nhuận ngân hàng đặt ra (1.838 tỷ đồng).

Báo cáo tài chính của Sacombank không thuyết minh cụ thể nguồn thu từ hoạt động khác. Ở một số ngân hàng, khoản mục này thường ghi nhận phần tài sản thu hồi được từ một số khoản nợ đã xóa trước đó. Điều này khá phù hợp với việc Sacombank đã bán đầu giá rất nhiều tài sản đảm bảo của các khoản nợ xấu, chủ yếu là bất động sản tại TP.HCM và các tỉnh lân cận trong năm 2018

Kể từ khi ông Dương Công Minh trở thành chủ tịch Sacombank, ngân hàng này đã đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu và tài sản có vấn đề nhằm giảm tỷ lệ nợ xấu. Theo báo cáo của ngân hàng, đến cuối năm 2018, tỷ lệ nợ xấu của Sacombank chỉ còn 2,5%, giảm mạnh so với con số 4,2% hồi cuối năm ngoái.

Hiện giá trị nợ xấu nội bảng của Sacombank chỉ còn khoảng 5.500 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu giảm nhờ việc ngân hàng đã tăng mạnh quy mô tín dụng, khoảng 15% và đạt khoảng 256.622 tỷ đồng vào cuối năm 2018.

Hiện ngân hàng đang bán khoảng 40 nghìn tỷ đồng các khoản nợ cho VAMC, đồng thời duy trì quy mô các khoản phải thu 23.729 tỷ đồng, chủ yếu là các tài sản cấn trừ nợ và các khoản lãi, phí phải thu hơn 23.000 tỷ đồng khác. Phần lớn khoản lãi và phí phải thu này sẽ được ngân hàng phân bổ dần vào chi phí hoạt động của ngân hàng theo năng lực tài chính trong vòng tối đa là 10 năm.

Dù vậy, trong buổi lễ tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2018, ông Dương Công Minh cho biết, sau 18 tháng triển khai đề án tái cơ cấu, Sacombank đang “đi đúng hướng” và sẽ hoàn thành quá trình tái cơ cấu theo lộ trình 5 năm thay vì 10 năm như kế hoạch.

Trần Anh 

Đồng USD giảm giá, vàng tăng

Đồng USD yếu có thể hỗ trợ quan trọng cho các loại hàng hóa được định giá bằng đồng USD, nó khiến cho vàng trở nên bớt đắt đỏ hơn đối với nhà đầu tư sở hữu các loại tiền tệ khác.

Đồng USD giảm giá, vàng tăng

Ảnh: GettyImages

Phiên giao dịch ngày thứ Tư, giá vàng đóng cửa tăng, chỉ số đồng USD suy yếu hỗ trợ cho giá vàng, tuy nhiên việc thị trường chứng khoán Mỹ tăng điểm không khỏi gây sức ép lên giá vàng.
Một bức tranh tốt xấu đan xen về triển vọng kinh tế và nhiều vấn đề toàn cầu, trong đó phải kể đến vấn đề thương mại và bất ổn xung quanh Brexit cũng khiến cho giá vàng tăng.
Đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Tư trên thị trường New York, giá vàng giao kỳ hạn tháng 2/2019 tăng 60 cent tương đương 0,05% lên 1.284USD/ounce. Trong phiên giao dịch, giá vàng giao động từ 1.277,70USD/ounce cho đến 1.286USD/ounce.
Đồng USD yếu có thể hỗ trợ quan trọng cho các loại hàng hóa được định giá bằng đồng USD, nó khiến cho vàng trở nên bớt đắt đỏ hơn đối với nhà đầu tư sở hữu các loại tiền tệ khác. Chỉ số ICE Dollar, chỉ số đo biến động của đồng USD so với 6 loại tiền tệ khác, giảm 0,2% xuống 96,098 điểm.
Một phần nguyên nhân khiến đồng USD suy yếu trong ngày thứ Tư có nguyên nhân từ việc nhà đầu tư quan tâm đến các loại tài sản có độ rủi ro cao hơn sau khi các loại tài sản này hạ giá trong thời gian gần đây.
Thị trường chứng khoán Mỹ, tuy nhiên biến động trái chiều khi mà giá vàng giao kỳ hạn ổn định trong phiên ngày thứ Tư. Chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng 0,7%, thị trường chứng khoán Mỹ được hỗ trợ bởi thông tin về lợi nhuận doanh nghiệp, đồng thời thị trường tăng điểm khiến cho sự quan tâm đối với thị trường vàng giảm.
Trưởng bộ phận phân tích thị trường tại Think Markets UK, ông Naeem Aslam, nhận xét cho đến nay về cơ bản không có thông tin gây sốc nào tác động đến thị trường và không có yếu tố nào hỗ trợ cho giá vàng.
Hơn thế nữa, cũng theo ông Aslam, tình hình tín dụng trên thế giới cũng rất đáng lo ngại nếu nhìn từ quan điểm của một số Ngân hàng Trung ương. Ông chỉ ra việc Ngân hàng Trung ương Nga đã tăng mua vàng 22% trong năm 2018.

TRUNG MẾN

TT năng lượng TG ngày 9/1/2019: Dầu tăng tiếp, khí đốt tăng do dự báo trời lạnh hơn

Giá dầu tăng tiếp do hy vọng về cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung. Trong khi giá khí đốt kỳ hạn của Mỹ tăng do dự báo thời tiết lạnh hơn so với trước đó.

TT năng lượng TG ngày 9/1/2019: Dầu tăng tiếp, khí đốt tăng do dự báo trời lạnh hơn

Dầu tăng do hy vọng cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung thành công
Giá dầu tăng trong hôm nay, tiếp tục tăng từ phiên trước do hy vọng Washington và Bắc Kinh có thể giải quyết tranh chấp thương mại đã gây ra suy giảm kinh tế toàn cầu.
Dàu thô WTI giao sau của Mỹ ở mức 50,29 USD/thùng, tăng 51 US cent hay 1% so với đóng cửa phiên trước. Đây là lần đầu tiên trong năm nay giá dầu WTI vượt ngưỡng 50 USD/thùng. Dầu thô Brent giao sau tăng 42 US cent hay 0,7% lên 59,14 USD/thùng. Cả hai dầu này đã tăng hơn 2% trong phiên trước.
Stephen Innes, giám đốc giao dịch khu vực Châu Á Thái Bình Dương tại công ty môi giới kỳ hạn Oanda, Singapore cho biết “dầu thô tiếp tục tăng do các báo cáo ban đầu từ Bắc Kinh lạc quan về các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc thành công”.
Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tiếp tục đàm phán thương mại tại Bắc Kinh ngoài kế hoạch trong ngày hôm nay, trong bối cảnh những dấu hiệu tiến bộ về các vấn đề gồm nhập khẩu hàng hóa nông nghiệp và năng lượng từ Mỹ và tăng khả năng tiếp cận của Mỹ vào các thị trường Trung Quốc.
Tờ China Daily ngày hôm nay cho biết Bắc Kinh rất muốn kết thúc tranh chấp thương mại với Mỹ, nhưng họ sẽ không thực hiện bất kỳ nhượng bộ vô lý nào và bất kỳ thỏa thuận nào cũng phải liên quan tới hai bên.
Nếu không có thỏa thuận nào đạt được vào ngày 2/3/2019, Tổng thống Trump đã nói ông sẽ nâng thuế lên 25% từ 10% với hàng hóa của Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD tại một thời điểm khi kinh tế của Trung Quốc đang chậm lại đáng kể.
Giá dầu cũng nhận được hỗ trợ từ việc cắt giảm nguồn cung cuối năm 2018 của tổ chức OPEC và các đồng minh ngoài tổ chức này gồm cả Nga.
Ngân hàng ANZ cho biết “giá dầu thô tiếp tục lên mức cao, với các nhà đầu tư ngày càng tin tưởng rằng việc cắt giảm của OPEC sẽ thắt chặt thị trường này”.
Khí tự nhiên của Mỹ tăng do dự báo thời tiết lạnh hơn vào cuối tháng 1/2019
Khí tự nhiên kỳ hạn của Mỹ tăng trong phiên ngày 8/1/2019 do các dự báo thời tiết lạnh hơn dự đoán trước đó vào cuối tháng 1/2019.
Trong các dự báo mới nhất, các nhà khí tượng dự báo thời tiết sẽ vẫn hầu như ấm hơn bình thường tới ngày 17/1/2019 trước khi trở thành lạnh hơn bình thường ít nhất trong vài ngày tới.
Dự trữ vẫn dưới mức trung bình 5 năm (2013 – 2017) trong cả năm 2018. Chỉ 3 tuần trước dự trữ thấp hơn bình thường 21% nhưng hiện nay thấp hơn 17% sau vài tuần ấm hơn thường lệ trong tháng 12/2018.
Giá khí tự nhiên giao tháng 2/2019 trên sàn giao dịch bán buôn New York tăng 2,3 US cent hay 0,8% đóng cửa phiên tại 2,967 USD/triệu đơn vị nhiệt Anh.
Giới phân tích cho biết các cơ sở tiện ích có thể giảm dự trữ 95 tỷ feet khối khí ít hơn bình thường trong tuần kết thúc vào 4/1/2018.

Dầu thô (USD/thùng)

Mặt hàngGiáChênh lệch% thay đổi
Dầu WTI50.45+0.67+1.35%
Dầu Brent59.36+0.64+1.09%

Khí gas tự nhiên (USD/MMBtu)

Mặt hàngGiáChênh lệch% thay đổi
Khí gas kỳ hạn Nymex3.00+0.03+1.08%

Xăng dầu (US cent/gal)     

Mặt hàngGiáChênh lệch% thay đổi
Xăng kỳ hạn Nymex RBOB138.35+2.09+1.53%
Dầu đốt kỳ hạn Nymex183.61+0.91+0.50%

Nguồn: VITIC/Reuters

H. Lan  –  Vinanet

TT cà phê ngày 09/01: Hồi phục trở lại 300 đồng/kg

Giá cà phê nhân xô các tỉnh Tây Nguyên ngày 09/01/2019 bật tăng 300 đồng/kg lên mức 33.300 – 34.100 đồng/kg (lúc 9h sáng). Tại cảng TPHCM, giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% giao dịch tại 1.476 USD/tấn (FOB), trừ lùi ở 80 USD/tấn.

TT cà phê ngày 09/01: Hồi phục trở lại 300 đồng/kg

Tham khảo giá cà phê nhân xô tại Việt Nam

TT nhân xôGiá trung bìnhThay đổi
FOB (HCM)1.476Trừ lùi: -80
Đắk Lăk34.100+300
Lâm Đồng33.300+300
Gia Lai33.900+300
Đắk Nông33.800+300
Hồ tiêu50.0000
Tỷ giá USD/VND23.165+10
Đơn vị tính: VND/kg|FOB: USD($)/tấn

 Nguồn: Diễn đàn của người làm cà phê

Hai sàn cà phê thế giới toàn sắc xanh đẩy thị trường cà phê trong nước ngược dòng tăng trở lại.
Những diễn biến trong năm 2018 cho thấy ngành cà phê của Việt Nam đang có một số tồn tại. Điển hình là vụ cà phê năm nay bị mất mùa, lại thêm tình trạng giá giảm sâu liên tiếp, có lúc về dưới giá thành sản xuất khiến người trồng cà phê ở Tây Nguyên thất thu nặng. Những ngày này, người dân các địa phương trong tỉnh Gia Lai nói riêng, khu vực Tây Nguyên nói chung đang bước vào cuối vụ thu hoạch cà phê nhưng nhiều chủ vườn cà phê không thuê được người hái. Không ít vườn bị lỗ nặng, có bán hết cà phê cũng không đủ tiền tái đầu tư.
Theo ghi nhận tại huyện Ia Grai (Gia Lai) bà con nông dân đang thu hoạch những quả cà phê cuối cùng trên cây để trang trải chi phí công thuê hái. Bà con nông dân cho biết, có lúc giá bán 1kg cà phê xuống tới gần 31.000 đồng/kg, trong khi chi phí sản xuất trung bình ở mức 35.000 đồng/kg nên hầu như ai cũng bị lỗ nặng, do đó nhiều hộ quyết định giữ hàng lại chờ giá cao hơn.
Trên thị trường thế giới, đàm phán thương mại Mỹ – Trung được kéo dài đến hôm nay 9/1/2019 nhằm hạ nhiệt căng thẳng. Sau họp báo, trái phiếu 10 năm của chính phủ Mỹ phục hồi, giá dầu thô và đồng USD tăng, các sàn nông sản khác tăng trong đó có cà phê. Giá robusta giao tháng trong tháng 3/2019 trên sàn London tăng 1% lên 1.558 USD/tấn. Giá arabica giao trong tháng 3/2019 trên sàn New York tăng 2,4% lên 105,3 UScent/lb.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2018/19 dự báo đạt ngưỡng kỉ lục 174,5 triệu bao, tăng 15,6 triệu bao so với niên vụ trước. Trong đó, Brazil được dự báo sẽ chiếm tới một nửa mức tăng trưởng do vụ mùa arabica của nước này bước vào chu kì tăng sản lượng trong khi cà phê robusta vẫn tiếp tục tăng. Tiêu thụ cà phê của thế giới được dự báo sẽ chỉ tăng khiêm tốn 3,3 triệu bao lên kỉ lục 163,6 triệu bao kéo theo tồn kho có thể tăng mạnh tới 7,1 triệu bao lên 37,1 triệu bao.
Cùng lúc đó, ở Brazil, nhu cầu tiêu thụ cà phê được đáp ứng nhiều hơn bởi sự tăng vọt của nguồn cung cà phê nhờ làn sóng đầu tư vào cây xanh, phân bón và kỹ thuật trồng trọt được cải thiện. Việc thừa nguồn cung cùng với đồng real của Brazil yếu đã gây áp lực lên giá cà phê năm 2018. Tính chung năm ngoái, chỉ số giá cà phê ICO giảm 10%. Giá cà phê arabica, loại cà phê được Starbucks ưa chuộng, đã giảm khoảng 20% tại New York, chạm mức thấp nhất kể từ năm 2006.
Phạm Hòa

TT bánh mứt kẹo: Sôi động ở cả thị trường nội địa và hoạt động xuất nhập khẩu

Hiện nhiều sản phẩm bánh mứt kẹo phục vụ Tết Nguyên đán đã được bày bán nhiều hơn, giá cả nhìn chung không tăng so với năm ngoái. Bên cạnh đó, hoạt động xuất nhập khẩu cũng sôi động, 11 tháng năm 2018 Việt Nam đã xuất siêu trên 200 triệu USD bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc.

TT bánh mứt kẹo: Sôi động ở cả thị trường nội địa và hoạt động xuất nhập khẩu

Tại thị trường nội địa, thời điểm này chỉ còn 1 tháng nữa là tới Tết Nguyên đán, các hoạt động kinh doanh đang trở nên nhộn nhịp.

Tại các siêu thị đã bày bán nhiều hơn các sản phẩm quà bánh kẹo, hoa quà Tết để phục vụ người tiêu dùng. Các sản phẩm đa dạng về mẫu mã, phù hợp với túi tiền người tiêu dùng.
Nhìn chung, giá các sản phẩm bánh kẹo, mứt tết năm nay gần không tăng so với năm ngoái. Một số sản phẩm cao cấp đóng gói trong hộp thiếc – giá tăng không đáng kể, khoảng 2 – 5%. Nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng là ưa thích những sản phẩm vừa mang tính truyền thống, vừa hiện đại, nên nhiều doanh nghiệp đã có ngay sản phẩm đặc trưng trong dịp Tết, mà giá cả không cao hơn sản phẩm cùng chủng loại ngày thường bao nhiêu.
Thị trường bánh, kẹo năm nay ngoài những mặt hàng ngoại nhập, thì hàng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước giá cả hợp lý, chất lượng ngày càng cao, mẫu mã đẹp, chủng loại phong phú thêm nữa giá cả hàng hóa không biến động nên được nhiều khách hàng lựa chọn.
Tuy nhiên, thời điểm này, sức mua sản phẩm bánh mứt vẫn chưa cao. Thông thường, đến tết ông táo 23 tháng chạp trở đi, thị trường bánh mứt mới sôi động.
Để khuyến khích người tiêu dùng, nhiều siêu thị đã áp dụng về cạnh tranh giá, giảm giá nhiều sản phẩm hay quà tặng đi kèm sản phẩm, tích lũy thêm nhiều điểm thưởng trong thẻ khách hàng. Bên cạnh đó, nhiều chương trình ưu đãi rất lớn cho khách hàng.
Tham khảo bảng giá của Công ty bánh mứt kẹo Hà Nội – Áp dụng từ 28/12/2018

Cùng với thị trường nội địa, thì hoạt động xuất nhập khẩu cũng sôi động. Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc trong tháng 11/2018 đạt 62,8 triệu USD, tăng 1,8% so với tháng 10/2018, nâng kim ngạch mặt hàng này 11 tháng năm 2018 lên 598,8 triệu USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước.
Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng 11/2018 đạt 49,3 triệu USD, tăng 11% so với tháng 10/2018, nâng kim ngạch 11 tháng 2018 lên 323,75 triệu USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ 2017.
Như vậy, 11 tháng đầu năm 2018, Việt Nam đã xuất siêu 275,11 triệu USD.
Trong 11 tháng đầu năm nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao nhất 22% đạt 51,57 triệu USD, tăng 27,26% so với cùng kỳ, mặc dù trong tháng 11/2018 kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này giảm 15,11% so với tháng 10/2018, nhưng nếu so với tháng 11/2017 tăng 9,08% đạt trên 5 triệu USD.
Thị trường đứng thứ hai sau Mỹ là Campuchia chiếm 21% tỷ trọng, kế đến là Hàn Quốc chiếm 19%, Nhật Bản 18%. Ngoài những thị trường kể trên, thì sản phẩm bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc còn được xuất sang các trường khác như: Ba Lan, Saudi Arabia, Lào, Indonesia….
Đặc biệt, trong thời gian này Việt Nam tăng mạnh xuất khẩu sang thị trường Ghana tuy chỉ đạt 1,42 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng vượt trội gấp 2,2 lần (tức tăng 119,24%), mặc dù tháng 11/2018 kim ngạch xuất sang Ghana chỉ đạt 246,8 nghìn USD, giảm 2,54% so với tháng 10/2018.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc 11 tháng năm 2018

 

Ngược lại Việt Nam nhập khẩu bánh kẹo chủ yếu từ các thị trường Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Hàn Quốc với kim ngạch đạt lần lượt 99,37 triệu USD; 47,46 triệu USD; 37,68 triệu USD và Hàn Quốc 28,05 triệu USD và tốc độ nhập khẩu từ các thị trường này đều tăng trưởng và tăng tương ứng 27,20%; 21,54%; 18,51% và 10,98%.
Thị trường nhập khẩu bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc chiếm tỷ trọng lớn trong 11 tháng năm 2018

 

Việt Nam chuyển từ xuất siêu sang nhập siêu từ Nhật Bản

11 tháng đầu năm 2018 Việt Nam nhập siêu từ Nhật Bản 153,41 triệu USD (trong khi cùng kỳ năm 2017 xuất siêu sang Nhật 458,31 triệu USD).

Việt Nam chuyển từ xuất siêu sang nhập siêu từ Nhật Bản

Hàng hóa của Nhật Bản nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng tăng mạnh. Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng đầu năm 2018, nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam tăng 17,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017, trị giá trên 17,45 tỷ USD. Riêng tháng 11/2018 kim ngạch đạt 1,77 tỷ USD, giảm 2,6% so với tháng 10/2018 nhưng tăng 9,6% so với tháng 11/2017.

Hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản cũng tăng 12,8%, đạt 17,3 tỷ USD; như vậy, mức nhập siêu từ Nhật Bản 11 tháng đầu năm đạt 153,41 triệu USD (trong khi 11 tháng đầu năm 2017 Việt Nam xuất siêu sang Nhật 458,31 triệu USD).

Trong 11 tháng đầu năm 2018 có 3 nhóm hàng nhập khẩu từ Nhật Bản đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng nhập khẩu nhiều nhất từ Nhật Bản là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 4,05 tỷ USD, chiếm 23,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa các loại từ thị trường này, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện nhập khẩu đứng thứ 2 về kim ngạch đạt 3,76 tỷ USD, chiếm 21,6%, tăng mạnh 34,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Đứng thứ 3 là nhóm sắt thép các loại trị giá 1,47 tỷ USD, chiếm trên 8,4%, tăng 15,8%;

Ngoài ra, còn số nhóm hàng cũng đạt kim ngạch cao như: Sản phẩm nhựa trị giá 783,77 triệu USD, tăng 9,5%; linh kiện, phụ tùng ô tô trị giá 725,27 triệu USD, tăng 25,3%; vải may mặc 681,95 triệu USD, tăng 15,5%.

Kim ngạch nhập khẩu phần lớn các nhóm hàng từ Nhật Bản trong 11 tháng đầu năm 2018 tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó nhóm hàng than đá nổi bật với mức tăng rất mạnh 425,9%, đạt 8,64triệu USD; bên cạnh đó, nhập khẩu còn tăng mạnh ở một số nhóm hàng như: Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 113,8%, trị giá 239,97 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 80,7%, trị giá 313,84 triệu USD; xơ, sợi dệt các loại tăng 58%, trị giá 73,6triệu USD; chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh tăng 40,9%, trị giá 33,12 triệu USD.

Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên phụ liệu thuốc lá từ Nhật Bản sụt giảm rất mạnh 51,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt 0,02 triệu USD; ngoài ra, nhập khẩu phương tiện vận tải phụ tùng; ô tô nguyên chiếc, phân bón từ Nhật Bản cũng sụt giảm tương đối mạnh, với mức giảm tương ứng 30,9%, 26,5% và 19,3% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu hàng hóa từ Nhật Bản 11 tháng đầu năm 2018

ĐVT: USD

Nhóm hàngT11/2018% tăng giảm so với T10/201811T/2018% tăng giảm so với cùng kỳ
Tổng kim ngạch NK1.769.083.048-2,6317.452.104.62017,29
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác385.325.160-5,424.046.911.1365,36
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện370.402.158-17,283.761.876.13734,55
Sắt thép các loại146.086.3671,321.467.201.81815,81
Sản phẩm từ chất dẻo80.815.7987,54783.770.9579,49
Linh kiện, phụ tùng ô tô63.263.363-17,78725.265.21525,26
Vải các loại74.803.0658,67681.950.31115,48
Sản phẩm từ sắt thép50.133.119-3,7530.365.00816,12
Phế liệu sắt thép52.378.41919,87527.196.57030,1
Kim loại thường khác55.194.65424,46476.814.24935,73
Chất dẻo nguyên liệu44.147.7631,55450.858.15824,6
Sản phẩm hóa chất49.750.5195,91435.685.89413,79
Hóa chất30.708.941-20,09358.290.9221,25
Điện thoại các loại và linh kiện49.891.00841,05313.824.99180,72
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày27.516.438-4,86265.092.90816,82
Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện27.171.988-13,63239.965.411113,8
Giấy các loại29.533.97112,81231.280.88439,22
Phương tiện vận tải khác và phụ tùng15.922.284110,6152.660.579-30,94
Sản phẩm từ cao su13.919.620-1,84141.164.46913,63
Dây điện và dây cáp điện14.028.8049,89130.827.5106
Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh15.352.026-2,21127.533.0236,58
Cao su12.996.869-9,95126.969.957-3,89
Hàng thủy sản9.326.33216,1498.447.26131,06
Sản phẩm từ kim loại thường khác8.472.865-5,0686.916.7528,94
Xơ, sợi dệt các loại8.642.90122,6173.596.68457,96
Ô tô nguyên chiếc các loại13.880.43116,1871.199.004-26,5
Dược phẩm4.355.84535,0358.183.50738,72
Sản phẩm từ giấy4.461.515-8,0548.058.5905,12
Sản phẩm khác từ dầu mỏ3.231.780-3,2237.170.679-18,61
Chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh3.852.6631,9833.120.88140,88
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm3.645.6656,4432.006.43019,06
Sữa và sản phẩm sữa3.671.20628,3631.171.12236,66
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu4.044.52820,7430.268.543-10,81
Phân bón các loại3.211.28796,9724.357.056-19,28
Chế phẩm thực phẩm khác2.383.4752,122.071.93915,04
Hàng điện gia dụng và linh kiện1.617.90748,713.603.480-19,23
Than các loại1.724.1006,687,808.638.593425,88
Gỗ và sản phẩm gỗ807.106-7,058.266.6812,6
Quặng và khoáng sản khác658.612-41,57.269.71210,94
Thức ăn gia súc và nguyên liệu345.839-7,883.676.129-17,34
Nguyên phụ liệu thuốc lá24.144-51,84

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)

Thủy Chung

Tăng liền 8 phiên, giá dầu cao nhất gần 1 tháng

Giá dầu WTI tăng 5,2%, giá dầu Brent tăng 4,6% trong phiên ngày thứ Tư…

Với phiên tăng này, giá dầu WTI đã thoát khỏi trạng thái thị trường đầu cơ giá xuống (bear market).

Giá dầu thế giới tiếp tục đi lên trong phiên giao dịch ngày thứ Tư, đánh dấu phiên tăng thứ 8 liên tục và đạt mức cao nhất trong gần 4 tuần.

Nâng đỡ cho giá “vàng đen” phiên này là tâm trạng lạc quan về đàm phán thương mại Mỹ-Trung, sự giảm sút sản lượng tháng 12 của một số nước sản xuất dầu lớn, và lượng dầu tồn kho của Mỹ giảm.

“Giá dầu được đẩy lên bởi thông tin Saudi Arabia cắt giảm sản lượng nhiều hơn quy định trong thỏa thuận của Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và đối tác, cộng thêm triển vọng về một thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung”, chuyên gia kinh tế về năng lượng James Williams thuộc WTRG Economics phát biểu với trang Market Watch. “Một thỏa thuận thương mại sẽ giúp ích cho nền kinh tế Trung Quốc và cải thiện nhu cầu tiêu thụ dầu”.

Trong một cuộc trao đổi với tờ báo Financial Times, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Saudi Arabia, ông Khalid al-Falih khẳng định quyết tâm “bình ổn” thị trường dầu và nói rằng nỗ lực cắt giảm sản lượng của OPEC và đối tác đã bắt đầu có tác dụng.

Theo kết quả một cuộc khảo sát do S&P Global Platts thực hiện, sản lượng dầu của OPEC đã giảm 630.000 thùng/ngày, xuống mức thấp nhất trong 6 tháng là 32,43 triệu thùng/ngày trong tháng 12.

Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu WTI giao sau tại thị trường New York tăng 2,58 USD/thùng, tương đương tăng 5,2%, chốt ở 52,36 USD/thùng, mức cao nhất kể từ ngày 13/12.

Với phiên tăng này, giá dầu WTI đã thoát khỏi trạng thái thị trường đầu cơ giá xuống (bear market), nhờ tăng 23% so với mức đáy của 52 tuần thiết lập vào hôm 24/12, theo dữ liệu của Dow Jones Market Data.

Tại thị trường London, giá dầu Brent giao sau tăng 2,72 USD/thùng, tương đương tăng 4,6%, đạt 61,44 USD/thùng. Đây là mức giá cao nhất của dầu Brent kể từ giữa tháng 12.

Với phiên này, giá dầu WTI và dầu Brent đã có 8 phiên tăng liên tiếp, chuỗi phiên tăng dài nhất trong 18 tháng.

Sau khi kéo dài thêm một ngày, vòng đàm phán thương mại Mỹ-Trung đã kết thúc ở Bắc Kinh vào ngày thứ Tư. Chứng khoán toàn cầu đồng loạt tăng điểm khi quan chức hai nước cùng thể hiện thái độ lạc quan sau đàm phán, dù kết quả cụ thể còn chưa được công bố chính thức.

Các nhà phân tích thuộc Commerzbank nói rằng niềm lạc quan về thương mại đang là một yếu tố quan trọng hỗ trợ giá dầu. Theo một báo cáo của ngân hàng này, đợt giảm mạnh cuối năm 2018 của giá dầu “không chỉ do thừa cung, mà còn do sự bán tháo trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu bị bán mạnh do lo ngại chiến tranh thương mại sẽ làm suy giảm tăng trưởng kinh tế Mỹ và Trung Quốc, kéo theo nhu cầu dầu tại hai quốc gia tiêu thụ dầu hàng đầu thế giới này”.

Một chất xúc tác khác cho giá dầu tăng phiên này là báo cáo hàng tuần từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho thấy tồn kho dầu thô của Mỹ giảm 1,7 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 4/1. Mức giảm này lớn hơn dự báo giảm 1,4 triệu thùng mà giới phân tích đưa ra trước đó.

DIỆP VŨ

Khối ngoại rót 2,8 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp năm 2018 vào Việt Nam

Mức rót ròng vốn đầu tư gián tiếp của khối ngoại vào thị trường Việt Nam năm nay tương đương kỷ lục 2,9 tỷ USD năm 2017, trong khi nhiều nước Đông Nam Á đã có biểu hiện rút vốn.

Giá trị giao dịch mua ròng kỷ lục trong lịch sử chứng khoán Việt Nam của khối ngoại năm qua được ông Phạm Hồng Sơn, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước công bố tại Hội nghị Tổng kết công tác tài chính – ngân sách nhà nước năm 2018 và triển khai nhiệm vụ năm 2019.

Cụ thể, ông Sơn cho biết nhà đầu tư nước ngoài đã rót ròng tới 2,8 tỷ USD vào thị trường chứng khoán Việt Nam năm qua. Trong khi nhiều thị trường khác tại Đông Nam Á chứng kiến sự rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài này. Tổng giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 32,8 tỷ USD

Đây là giá trị mua ròng lớn nhất của khối ngoại trong lịch sử hơn 20 năm vận hành của thị trường chứng khoán Việt. Nếu so với mức mua ròng năm 2017 (28.000 tỷ đồng), giá trị giao dịch mua ròng năm này tăng tới hơn 2 lần.

Theo vị lãnh đạo UBCKNN, năm qua kinh tế thế giới tăng trưởng ở mức cao trong diễn biến rất phức tạp. Việc Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 4 lần tăng lãi suất và những tranh chấp thương mại của các nền kinh tế lớn đã ảnh hưởng đến nền kinh tế và thị trường chứng khoán toàn cầu.

Khoi ngoai rot 2,8 ty USD von dau tu gian tiep nam 2018 vao Viet Nam hinh anh 1
Phó Chủ tịch UBCKNN Phạm Hồng Sơn tại Hội nghị tổng kết ngành tài chính năm 2018. Ảnh: H.Thọ

Theo đó, xu hướng giảm sâu diễn ra tại hầu hết thị trường chứng khoán năm qua. Trong bối cảnh đó, thị trường Việt Nam cũng nằm trong xu hướng giảm, với những biến động tương đối mạnh, có sự trồi sụt.

“Tuy nhiên, nhờ sự tăng trưởng mạnh của nền kinh tế và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, cả quy mô và thanh khoản của thị trường đã tăng trưởng mạnh”, ông Sơn cho hay.

Theo đó, quy mô vốn hóa của thị trường đến cuối năm 2018 đã đạt 3,9 triệu tỷ đồng, tăng 12,7% so với 2017 và tương đương 71,6% GDP năm 2018. Con số này thậm chí đã vượt chỉ tiêu 70% GDP dự kiến đến năm 2020.

Ông Sơn cho biết thêm bình quân giá trị giao dịch mỗi phiên năm vừa qua ước đạt 6.500 tỷ đồng, tăng tới 29% so với năm trước đó. Và trên thị trường trái phiếu, giá trị niêm yết cũng đạt 1,122 triệu tỷ đồng, tăng 10,5% cùng kỳ và tương đương 20,3% GDP năm 2018. Giao dịch trái phiếu về cơ bản vẫn giữ được mức sôi động với giá trị giao dịch đạt 8.834 tỷ đồng/phiên.

Thị trường chứng khoán phái sinh tuy mới vận hành trong 1 năm nhưng thanh khoản đã vượt 7 lần so với năm 2017. Lượng hợp đồng giao dịch tính đến cuối năm cũng đạt 21.653 hợp đồng, tăng 2,7 lần so với năm trước.

Khoi ngoai rot 2,8 ty USD von dau tu gian tiep nam 2018 vao Viet Nam hinh anh 2

Không chỉ quy mô thị trường được mở rộng, số liệu được ông Sơn công bố cũng cho thấy sự tăng trưởng rất mạnh về kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán năm qua.

Cụ thể, tính đến cuối năm 2018, doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết đã tăng 20,5%, và lợi nhuận tăng 24,9% so với cùng kỳ. Đặc biệt, các công ty, tổ chức kinh doanh chứng khoán có lợi nhuận sau thuế tăng bình quân tới 40%.

“Điều này cho thấy chứng khoán tiếp tục khẳng định là một kênh huy động vốn hữu hiệu của nền kinh tế”, ông Sơn nhấn mạnh.

Về trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, vị này cho biết giá trị giao dịch đã đạt 192.000 tỷ đồng với kỳ hạn phát hành đạt bình quân tới trên 12,55 năm, dài nhất từ trước đến nay, đáp ứng nhu cầu đầu tư công và cơ cấu nợ công của Chính phủ. Ngoài ra, kênh huy động vốn qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu năm qua cũng mang về cho các doanh nghiệp cổ phần hóa trên 86.800 tỷ, tăng 71%.

Tất cả yếu tố này giúp thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường thành công nhất khu vực Đông Nam Á về huy động vốn năm 2018.

Quang Thắng

Giá vàng hôm nay 10/1: USD giảm, vàng treo giá mức cao

Giá vàng hôm nay 10/1 trên thị trường thế giới chịu áp lực giảm khá lớn nhưng vẫn treo ở mức cao nhờ một đồng USD suy yếu. Những tiến triển trong quan hệ Mỹ-Trung khiến nhu cầu mua vàng giảm.

Tới đầu giờ sáng 10/1 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.286 USD/ounce.

Giá vàng giao tháng 2 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.288 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay thấp hơn 1,3% (17,5 USD/ounce) so với đầu năm 2018. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 35,6 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 1,1 triệu đồng/lượng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới chịu áp lực giảm khá lớn nhưng vẫn treo ở mức cao nhờ một đồng USD suy yếu. Những tiến triển trong quan hệ Mỹ-Trung khiến nhu cầu mua vàng giảm.

Vàng giảm giá nhẹ chủ yếu do thị trường chứng khoán toàn cầu hồi phục trở lại sau những tín hiệu tích cực trong cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung vừa kết thúc. Cuộc đàm phán ban đầu dự kiến 2 ngày nhưng sau đó kéo dài thành 3 ngày và được bật mí là tốt đẹp.

Trong một đoạn tweet, tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, các cuộc đàm phán với Trung Quốc “đang tiến triển rất tốt”.

Giá vàng hôm nay 10/1: USD giảm, vàng treo giá mức cao
Giá vàng hôm nay: giảm nhẹ.

Đây là cuộc đàm phán trực tiếp đầu tiên giữa 2 nước kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hồi tháng 12/2018 nhất trí về một thỏa thuận “đình chiến thương mại”. Mỹ và Trung Quốc hiện tại vẫn đang trong quá trình tạm ngừng việc đáp trả thuế quan đối với các mặt hàng xuất khẩu của nhau, tìm cách hoàn tất đàm phán về công nghệ và các quyền sở hữu trí tuệ trong vòng 90 ngày.

Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Wilbur Ross trước đó cũng đã đưa ra dự đoán rằng Bắc Kinh và Washington có thể đạt được thỏa thuận thương mại do “2 bên có thể đồng thuận”.

Nỗi lo ngại về những tác động tiêu cực của cuộc chiến thương mại giữa Mỹ-Trung tạm thời giảm bớt. Thị trường tài chính toàn cầu diễn biến tích cực là yếu tố khiến dòng tiền không còn dồn vào vàng như một kênh trú bão.

Chứng khoán Mỹ tăng phiên thứ 4 liên tiếp, trong khi các thị trường chứng khoán châu Á và châu Âu đều tăng điểm.

Quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust tiếp tục giảm nhẹ lượng vàng nắm giữ, bớt khoảng 0,03% xuống 796,53 tấn vào ngày 8/1.

Hiện thị trường đang chờ đợi Ủy ban Thị trường mở Liên bang công bố kết quả cuộc họp chính sách vào ngày 18-19/12.

Tuy nhiên, đồng USD suy yếu khiến vàng giảm không nhiều và vẫn rập rình tăng trở lại.

Đồng USD yếu do giới đầu tư dự đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục cân nhắc về kế hoạch tăng lãi suất, không còn tăng với tốc độ nhanh như trước.

Trên thị trường vàng trong nước chốt 9/1 đa số các cửa hàng vàng giảm giá vàng 9999 trong nước 30-50 ngàn đồng so với phiên liền trước.

Tính tới cuối phiên giao dịch 9/1, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 36,59 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,70 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 36,50 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,69 triệu đồng/lượng (bán ra).

Theo Doji, thị trường vàng trong nước lắng lại sau chuỗi ngày giá tịnh tiến tăng dần do sự tác động từ giá vàng thế giới. Thị trường trong nước hôm thứ Tư ghi nhận mức độ giao dịch giảm hơn phiên liền trước, lượng khách bán vàng ra chiếm tới 60% số lượng khách tham gia giao dịch tại Doji.

V. Minh

Giá USD biến động trái chiều tại các ngân hàng thương mại sáng 5/1

Tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam (VND) và USD sáng 5/1 được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.829 VND, không đổi so với hôm qua.

Đồng USD. (Nguồn: THX/TTXVN)

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.513 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.145 VND/USD.

Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước lúc 8 giờ 10 sáng nay giá niêm yết USD ở mức 23.200 – 23.464 VND/USD (mua vào-bán ra), không đổi so với hôm qua.

[Giá vàng đồng loạt tăng, tỷ giá trung tâm thêm 20 đồng]

Tại các ngân hàng thương mại sáng nay giá USD biến động trái chiều.

Lúc 8 giờ 10, tại Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.155-23.245 VND/USD (mua vào-bán ra), giảm 5 đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm sáng qua.

Tại BIDV, giá USD đang được niêm yết ở mức 23.155-23.245 VND/USD (mua vào-bán ra), giảm 5 đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm sáng qua.

Tại Techcombank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.135-23.245 VND/USD (mua vào-bán ra), tăng 5 đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm sáng qua./.

KHÁNH VY (TTXVN/VIETNAM+) 

Giá vàng hôm nay 5/1: Đồng loạt giảm mạnh, chênh lệch giá vàng lên gần 1 triệu/lượng

Giá vàng hôm nay 5/1 ghi nhận giá vàng trong nước giảm mạnh theo giá vàng thế giới, xuống mức 36,74 triệu đồng/lượng.

Ảnh minh hoạ

Ghi nhận của Petrotimes, vào hồi 10 giờ sáng 5/1, giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.285,24 USD/Ounce, giảm hơn 11 USD/Ounce so với cuối giờ sáng 4/1.

Trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchanghe, giá vàng thế giới giao tháng 1/2019 đứng ở mức 1.282,6 USD/Ounce, giảm 9,2 USD/Ounce trong phiên.

Quy theo giá USD ngân hàng, vàng thế giới hiện có giá 35,79 triệu đồng/lượng. Chưa tính thuế và phí, giá vàng thế giới hiện đang thấp hơn giá vàng trong nước 0,95 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới quay đầu giảm mạnh sau khi thị trường đón nhận những thông tin tích cực từ nền kinh tế Mỹ. Cụ thể, ngày 4/1, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell đã có những phát biểu nhằm trấn an thị trường tài chính FED sẽ không bỏ qua những dấu hiệu suy giảm tăng trưởng kinh tế.

Theo tin từ Reuters, phát biểu trước Hội Kinh tế Mỹ (AEA) ở Atlanta, ông Powell cho biết FED đang lắng nghe những tín hiệu của thị trường và sẽ có sự cân nhắc giữa những dữ liệu kinh tế khả quan với những rủi ro lớn, trong đó có vấn đề suy giảm tăng trưởng toàn cầu và cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Phản ứng trước phát biểu trên, chốt phiên giao dịch ngày thứ 6, thị trường Phố Wall đã có biến động mạnh, cả 3 chỉ số chính đồng loạt tăng hơn 3%. Trong đó, chỉ số Dow Jones tăng 3,29%, chốt ở 23.433,16 điểm; chỉ số S&P 500 tăng 3,43%, đạt 2.531,94 điểm; chỉ số Nasdaq tăng 4,26%, đạt 6.738,86 điểm.

Tại thị trường trong nước, theo diễn biến của của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước sáng 5/1 cũng được điều chỉnh giảm mạnh. Tính đến cuối phiên giao dịch sáng 5/1, giá vàng SJC được niêm yết tại TP Hồ Chí Minh ở mức 36,54 – 36,74 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra), giảm đồng thời 50 ngàn đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với cuối giờ sáng 4/1.

Trong khi đó, giá vàng SJC được Tập đoàn DOJI niêm yết ở mức 36,65 – 36,75 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra), giảm đồng thời 30 ngàn đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với cuối phiên 4/1.

Cùng thời điểm, giá vàng SJC được Phú Quý SJC niêm yết ở mức 36,64 – 36,74 triệu đồng/lượng, giảm 40 ngàn đồng/lượng so với cuối phiên 4/1.

Minh Ngọc

Giá dầu thế giới tăng hơn 1% trong phiên giao dịch ngày 3/1

Trong phiên giao dịch nhiều biến động ngày 3/1, giá dầu thô thế giới tăng hơn 1% trước những dấu hiệu cho thấy Saudi Arabia đang triển khai việc cắt giảm sản lượng dầu thô.

Chú thích ảnh
Giá dầu thế giới tăng hơn 1% ngày 3/1. Ảnh: Benzinga/TTXVN

Tuy nhiên, thị trường năng lượng vẫn chịu sức ép từ những lo ngại về khả năng kinh tế toàn cầu giảm tốc, qua đó tác động tiêu cực tới nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ.

Kết thúc phiên này tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao kỳ hạn tăng 0,55 USD (hay 1,18%) lên 47,09 USD/thùng. Trong khi tại London, giá dầu Brent Biển Bắc giao kỳ hạn tiến 1,04 USD (1,89%) lên 55,95 USD/thùng.

Biên độ giao dịch của giá dầu trong phiên này khá rộng, với giá dầu Brent dao động trong biên độ 53,93-56,30 USD/thùng, còn dầu WTI dao động trong khoảng từ 45,35 USD/thùng đến 47,49 USD/thùng.

Yếu tố hỗ trợ đà tăng của giá dầu trong phiên này là những thông tin cho thấy các thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tiến hành cắt giảm nguồn cung theo thoả thuận đã đạt được trong năm 2018.

Theo một khảo sát của hãng tin Reuters, nguồn cung dầu của OPEC trong tháng 12/2018 đã giảm mạnh nhất trong gần hai năm, với sự khởi động cắt giảm sản lượng sớm của nhà xuất khẩu dầu hàng đầu của tổ chức này là Saudi Arabia. Trong khi đó, sản lượng dầu của Iran và Libya cũng sụt giảm ngoài chủ đích.

Tuy nhiên, đà tăng giá của dầu thô trong phiên này cũng bị hạn chế phần nào bởi những lo ngại về triển vọng ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu. Đáng chú ý, “người khổng lồ” về công nghệ Apple Inc của Mỹ ngày 2/1 vừa hạ dự báo doanh thu quý IV/2018 do cho rằng doanh số bán tại Trung Quốc chậm lại, khiến thị trường chứng khoán Mỹ đỏ sàn và tác động tới giá dầu. Thêm vào đó, số liệu mới nhất về hoạt động chế tạo kém lạc quan của Mỹ cũng làm thị trường thêm lo ngại về “sức khoẻ” của nền kinh tế.

Ngoài ra, sự gia tăng nguồn cung dầu từ các nhà sản xuất hàng đầu thế giới, như Mỹ và Nga, cũng tạo áp lực lên thị trường dầu mỏ. Dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần trước (kết thúc ngày 28/12) đã giảm 4,5 triệu thùng xuống 443,7 triệu thùng, so với mức dự báo giảm 3,1 triệu thùng của giới phân tích.

Minh Trang (Theo Reuters)

Kinh tế Việt Nam 2019: Mục tiêu và khuyến nghị

Sự chuyển mình của nền kinh tế trong năm 2018 được thể hiện rõ nét không chỉ ở những con số mà chất lượng tăng trưởng ngày càng đi vào chiều sâu, tạo tiền đề cũng như kỳ vọng và lạc quan cho năm 2019.

Kinh tế Việt Nam 2019: Mục tiêu và khuyến nghị

Tăng trưởng cao nhất 10 năm qua
Những ngày cuối cùng của năm 2018, các con số được công bố đã cho thấy một kết quả đầy tích cực của nền kinh tế, trên nhiều phương diện. Theo Báo cáo Tổng quan thị trường tài chính Việt Nam 2018 – một sản phẩm thường niên của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (NFSC) đã được đưa vào danh mục ấn phẩm định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ – tăng trưởng kinh tế năm 2018 ước đạt 6,9 – 7%, mức cao nhất 10 năm qua nhờ vào động lực chính là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành dịch vụ; lạm phát được kiểm soát dưới 3,6%…
Theo ông Đặng Ngọc Tú – Trưởng ban Nghiên cứu và Điều phối chính sách giám sát (NFSC) – các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo: cán cân thanh toán quốc tế thặng dư cao; nợ công và cân đối ngân sách được kiểm soát đảm bảo các mục tiêu Quốc hội đề ra. Bên cạnh đó, nền tảng tài chính tiếp tục được củng cố, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; cung ứng vốn từ khu vực ngân hàng giảm nhưng hiệu quả và chất lượng hơn; thanh khoản hệ thống được đảm bảo, lãi suất và tỷ giá ổn định. Thị trường chứng khoán tăng trưởng vượt bậc về quy mô với mức vốn hóa thị trường đạt 75% GDP, vượt chỉ tiêu đề ra của năm 2020.
Phân tích những mặt được trong tăng trưởng kinh tế 2018, ông Nguyễn Xuân Thành – Giám đốc Phát triển, giảng viên chính sách công của Đại học Fulbright Việt Nam – chỉ ra rằng, động lực tăng trưởng của năm 2018 đến từ hai khu vực chính là công nghiệp chế biến và dịch vụ, song đã có sự thay đổi căn bản trong cấu thành của hai bộ phận này. Nếu như năm 2017, nước ta phụ thuộc vào điện thoại và thiết bị điện tử với tốc độ tăng trưởng 20 – 30% thì nhóm ngành này chỉ tăng khoảng 11% trong 11 tháng năm 2018. “Bánh xe” tăng trưởng của năm nay lại đến từ những ngành hưởng lợi từ chính sách để thay thế hàng nhập khẩu, như sản xuất ôtô và dược phẩm. Đặc biệt, theo TS. Thành, dấu ấn tăng trưởng tích cực của kinh tế Việt Nam 2018 cần phải nhắc đến là không bị phụ thuộc vào tín dụng.
Hy vọng và lạc quan
Nền kinh tế có quyền hy vọng, lạc quan về một năm 2019, thậm chí trong những năm tiếp theo với những tăng trưởng ổn định, đi vào chiều sâu, tận dụng, duy trì và phát triển được những thế mạnh vốn có.
Dự báo của NFSC cho thấy, năm 2019, kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 7%; lạm phát có thể chỉ 3,6%, tương đương mức lạm phát năm nay và thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu được Quốc hội thông qua.
Những dự báo nêu trên không phải không có cơ sở nếu nhìn lại chặng đường vừa qua, nền kinh tế trong nước đang bước đi những bước vững chắc, và những “ổ gà” trên đường đi của “bánh xe” kinh tế đã được lấp đầy bằng các chính sách cụ thể, bởi một Chính phủ kiến tạo, hành động vì doanh nghiệp. Những động lực cho tăng trưởng năm 2019 được nhắc tới là tiềm năng từ khu vực kinh tế tư nhân. Theo các chuyên gia kinh tế, đầu tư tư nhân/GDP ngày càng cao trong khi của khu vực công ngày càng giảm và đầu tư của FDI có xu hướng ngày càng giảm. Đặc biệt, việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để đẩy mạnh đầu tư tư nhân là mục tiêu trọng tâm của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương. Đồng thời, Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực trong năm 2019 được đánh giá sẽ tạo cơ hội lớn trong thu hút dòng vốn dịch chuyển từ các thị trường khác sang Việt Nam.
Ông Trương Văn Phước – quyền Chủ tịch NFSC – cho rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 7% của năm 2019, bên cạnh việc cải cách thể chế và môi trường kinh doanh, chính sách điều hành cần hướng đến trọng tâm ổn định tài chính. Yếu tố tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế 2019 là xu hướng dịch chuyển sản xuất do tác động của chiến tranh thương mại; triển vọng tích cực từ các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và một số các FTAs… Do đó, lạm phát có thể kiểm soát ở mức khoảng 4% nếu việc điều chỉnh giá dịch vụ công được kiểm soát chặt chẽ.
Nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy khuyến nghị, CPI là chỉ số cần quan tâm nhưng điều hành chính sách năm 2019 phải linh hoạt hơn. Mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 4% phải có điều chỉnh co giãn 0,5% nhằm lường trước yếu tố bất thường.
Kinh tế Việt Nam năm 2019 ít nhiều sẽ chịu tác động bởi yếu tố quốc tế biến động khó lường. Do đó, ổn định tài chính cần tiếp tục được coi là một trong những ưu tiên khi điều hành chính sách.
Nguồn: Thùy Linh /Báo công thương điện tử

Nhiệt điện than – Nguồn năng lượng ngày càng thân thiện

Theo các chuyên gia, trong khi chưa có nguồn năng lượng đủ lớn để thay thế thì nhiệt điện than với công nghệ ngày càng cao, thân thiện với môi trường vẫn là một giải pháp ưu thế cho Việt Nam.

Nhiệt điện than – Nguồn năng lượng ngày càng thân thiện

Nhiệt điện than vẫn là một giải pháp tối ưu với Việt Nam trong giai đoạn trước mắt

Tỷ trọng nhiệt điện than của Việt Nam còn khiêm tốn
Đóng vai trò quan trọng trong tỷ trọng nguồn điện quốc gia, đến năm 2017, nhiệt điện điện than có công suất lắp đặt khoảng 15.000MW, sản xuất được 73 tỷ kWh điện chiếm 38% tổng sản lượng điện sản xuất, cao nhất trong cơ cấu sản suất điện năng của toàn hệ thống.
Theo số liệu của IEA, Việt Nam xếp thứ 22 trên thế giới về tổng công suất nhiệt điện chạy than, tỷ trọng nhiệt điện than trong tổng công suất phát điện của Việt Nam chỉ chiếm 26,3%, trong khi mức bình quân của thế giới là 36%. Tỷ trọng nhiệt điện than của Việt Nam so với thế giới chỉ chiếm 0,3% khi mà dân số chiếm tỷ trọng 1,2%.
Điều đáng nói, một số nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc… dù không có than nội địa và phải nhập nhưng cũng đứng thứ 6 và thứ 10 trên thế giới về công suất nhiệt điện chạy than.
Trong khi các dự án thủy điện lớn hầu như đã khai thác hết, nguồn khí tự nhiên khai thác hữu hạn, triển vọng nhập khí hóa lỏng chỉ có thể thực hiện được sau năm 2025, cùng với việc dừng các dự án điện hạt nhân thì câu hỏi nguồn điện nào sẽ bù đắp được đặt ra.
Công nghệ tốt, sạch hơn nhiều
Theo TS Nguyễn Thành Sơn – Nguyên Trưởng ban Chiến lược TKV, nhiệt điện chạy than đang ngày sạch và thân thiện với môi trường hơn.
Cụ thể, từ những năm 1980, công nghệ sạch sử dụng than (Clean Coal Technology – CCT) trên thế giới đã bắt đầu phát triển theo nhiều hướng như cải tiến quy trình đốt than trong lò hơi, cải tiến quy trình phát điện tổ máy.
Chỉ tính tại các nhà máy thuộc TKV, nhiều nhiệt điện chạy than sử dụng lò hơi theo kiểu “tầng sôi tuần hoàn” giúp giảm đáng kể lượng phát thải khí NOx cũng như đốt được nhiều loại than và đốt được than kèm đá vôi để khử lưu huỳnh, cho phép giảm tới 90÷95% lượng phát thải Sox; giảm thành phần “carbon không cháy hết” trong tro bay và xỉ đáy lò xuống mức dưới 2÷5%, cho phép sử dụng tro xỉ để làm phụ gia cho xi măng.
Chưa kể công nghệ siêu tới hạn và trên siêu tới hạn của dự án nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I và các nhà máy nhiệt điện than khác (Nghi Sơn 1, Duyên Hải…), các công nghệ xử lý khói thải hiện đại bằng khử bụi tĩnh điện ESP, khử NOx bằng công nghệ SCR và khử SO2 bằng công nghệ SWFGD … thì thông số nồng độ chất phát thải tại Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I sẽ thấp hơn rất nhiều so với QCVN 22:2009/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như tiêu chuẩn phát thải theo khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới.
Chưa kể, trong quá trình vận hành, các thông số dữ liệu về chất lượng khí thải, nước thải được hệ thống giám sát quan trắc môi trường online cập nhật liên tục và được truyền về trung tâm của Sở Tài nguyên và Môi trường để các cấp có thẩm quyền theo dõi, giám sát chặt chẽ 24/24h.
Như vậy, với công nghệ điện than đã tốt, sạch và thân thiện với môi trường hơn rất nhiều, không có lý do gì để phải nghi ngại về vai trò của nhiệt điện than trong nền kinh tế quốc gia.
Nguồn: Ngọc Thọ – Minh Trí/Báo Công thương điện tử

Những xu hướng mới trên thị trường bất động sản năm 2019

Các chuyên gia đều lạc quan vào sự phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế ổn định, cho rằng sự đa dạng của thị trường sẽ mang lại nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư.

Những xu hướng mới trên thị trường bất động sản năm 2019

Ông Stephen Wyatt, Tổng giám đốc Công ty Jones Lang LaSalle Việt Nam, cho biết chu kỳ phát triển của thị trường bất động sản đã thay đổi rất nhiều so với chu kì trước. Lần này, thị trường phát triển nhiều phân khúc hơn, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư. Trước đây, chúng ta chỉ nhắc đến thị trường nhà ở đơn thuần, nhưng hiện nay thị trường văn phòng, bán lẻ cũng hoạt động rất tốt.

Ngoài ra, lượng du khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều khiến cho thị trường du lịch phát triển. Thương mại điện tử, mảng sản xuất mở rộng khiến cho thị trường logistics hay khu công nghiệp cũng phát triển. Các lĩnh vực trong đầu tư bất động sản khá đa dạng, giúp cho các nhà đầu tư có nhiều lựa chọn hơn.
Còn theo Ông Nguyễn Mạnh Hà, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Bất động sản Việt Nam, thị trường bất động sản năm 2019 sẽ phát triển với nguồn cung dồi dào, tập trung vào các dự án lớn. Những thành phố thu nhỏ với dịch vụ đầy đủ, hạ tầng đồng bộ như dự án của Vingroup sẽ là xu hướng dẫn dắt thị trường.
“Các dự án nhỏ lẻ ở khu vực khác rất khó cạnh tranh với những dự án lớn đồng bộ. Nhưng chúng tôi đánh giá cao các dự án như vậy vì đó là xu hướng tất yếu để đô thị gọn gàng hơn. Do nguồn cung dồi dào, vì vậy chúng tôi đánh giá, sang năm 2019 bất động sản sẽ không có khả năng tăng giá đột biến, thị trường ổn định. Cơ cấu hàng hóa sẽ phù hợp với khả năng của thị trường, nhất là nhà ở năm 2019 sẽ phù hợp với khả năng chi trả của người dân”, ông Hà cho biết thêm.
Cũng theo vị này, trong năm 2019, phân khúc bất động sản công nghiệp sẽ đặc biệt phát triển. Đây là làn sóng mới tại Việt Nam, việc phát triển các khu công nghiệp theo đó cũng phải đồng bộ hơn để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư cũng phải quan tâm đến nhà ở thương mại để đáp ứng các khu công nghiệp. “Chúng tôi đánh giá đây sẽ là một trong những phân khúc thị trường còn nhiều dư địa phát triển”, ông Hà kết luận.
Cùng quan điểm này, GS. Đặng Hùng Võ, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhận định rằng bất động sản công nghiệp, bất động sản thương mại là yếu tố mới, triển vọng rất lớn trong năm 2019 sắp đến.
Lý giải về quan điểm này, ông Võ cho biết chiến tranh thương mại Mỹ – Trung có thể chính là cơ hội tuyệt vời cho Việt Nam. Điều chúng ta phải làm là thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thay vì để họ đến Trung Quốc hay các nước khác. Do vậy, chúng ta cần phải chuẩn bị đủ điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Thị trường shophouse đang rất lớn
Nhận định về các xu hướng của thị trường sắp tới, ở góc độ một nhà đầu tư, bà Hương Nguyễn, Tổng giám đốc Đại Phúc Land, đưa ra dự báo cho thấy xu hướng khách hàng lựa chọn phân khúc căn hộ trong các khu đô thị được quy hoạch bài bản, đầy đủ tiện nghi, không gian sống xanh thân thiện, thoáng đãng tăng mạnh hơn. Thứ hai là các dự án ven sông, hoặc có hồ nhân tạo được ưu tiên tìm hiểu. Thứ ba là các căn hộ 2 phòng ngủ, có diện tích phù hợp từ 55 – 78m2, được bố trí không gian mở, hiện đại.
Đối với phân khúc shophouse, hầu hết các dự án bất động sản, tỷ lệ shophouse khá khan hiếm từ khoảng 2 – 5% dự án. Các shophouse thường được chủ đầu tư đặt vào vị trí đắc địa của dự án. Thêm vào đó, sản phẩm này chiếm rất nhiều ưu thế vượt trội, tích hợp nhiều chức năng, khai thác cho thuê hiệu quả. Trong năm qua và những năm tới, tiềm năng phát triển của thị trường shophouse rất lớn.
“Theo tôi thấy, sản phẩm shophouse sẽ có biên độ sinh lời rất tốt. Đối với các dự án chủ đầu tư uy tín, dự án chất lượng thì biên độ sinh lời còn cao hơn nữa. Trong năm 2018, thị trường chứng kiến sự sụt giảm về nguồn cung shophouse chất lượng trên thị trường. Trong năm 2019, tiếp tục sự thiếu hụt về nguồn cung shophouse. Dự báo phân khúc này vẫn được săn đón và dự kiến giá shophouse sẽ tăng trong năm tiếp theo”, bà Hương phân tích.
Khách hàng nên bỏ tiền vào đâu?
Về cơ hội đầu tư bất động sản thuộc các tỉnh giáp ranh TP.HCM trong năm 2019, ông Lê Hoàng Châu – Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM cho biết cùng với sự phát triển hạ tầng liên vùng ngày càng hoàn chỉnh, các tỉnh lân cận đã được xem như vùng ngoại ô của TP.HCM. Cơ hội đầu tư về những địa bàn này tuy khá nhiều nhưng còn phụ thuộc vào kế hoạch phát triển các dự án hạ tầng giao thông trong tương lai, đặc biệt là các quy hoạch các ga metro.
Bà Nguyễn Vũ Thiên Diễm, Chủ tịch HĐQT Thiên Minh Group, cũng cho biết các tỉnh thành xung quanh khu vực TP.HCM trong những năm qua rất được quan tâm. Thuận lợi đầu tiên vì là đây là thị trường mới nổi, chưa được nhiều chủ đầu tư để mắt tới. Trong khi hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng đang được đầu tư khép kín. Trong năm 2019, nhiều chủ đầu tư sẽ đưa ra thị trường các dự án tại khu vực vùng ven và đây là điểm nhấn trong thị trường bất động sản khu vực phía Nam.
Đồng ý với những nhận định trên, ông Nguyễn Hoài Sơn, Giám đốc kinh doanh BĐS Gamigroup, cho rằng mật độ dân số sẽ quyết định đến giá của bất động sản. Các nhà đầu tư nên hướng đến những địa phương sẽ có đông dân trong tương lai, kết nối giao thông tốt. Nếu các nhà đầu tư kỳ vọng sinh lời cao thì phải chấp nhận rủi ro do đầu tư ở khu vực đó trong nhiều năm mà chưa chắc giá đã lên. Còn nếu nhà đầu tư quan tâm hệ số sinh lời thấp thì có thể đầu tư căn hộ dạng officetel, căn hộ 1 – 2 phòng ngủ cho thuê để ổn định hơn.
“Trong 2 năm tới, thị trường nhà ở sẽ là kênh đầu tư được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, trước khi đầu tư chúng ta cần tìm hiểu kỹ về thị trường để hiểu rõ hơn về dự án, năng lực đầu tư. “Vị trí, vị trí và vị trí” vẫn sẽ là yếu tố quan trọng để xác định được giá bán. Đồng thời, những dự án có cơ sở hạ tầng thuận tiện với những tuyến đường mới, cao tốc, metro… sẽ được nhiều người quan tâm “, ông Stephen Wyatt nhận định.
Ông Trần Khánh Quang, Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư bất động sản Việt An Hòa, đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam 2019 vẫn tăng trưởng tốt, trong đó phân khúc đất nền sẽ tiếp tục được quan tâm đầu tư. Phú Quốc sẽ là thị trường tiềm năng vào quý 2/2019 khi giá đất các tỉnh hiện nay đạt giá khá cao.
Theo ông Quang, trong năm tới, nhiều dự án condotel đi vào hoạt động sẽ gây áp lực rất lớn cho các chủ đầu tư vì có cam kết lợi nhuận về khai thác. Những căn hộ giá dưới 1,5 tỉ đồng sẽ tiếp tục được tiêu thụ tốt và dịch chuyển qua các khu vực như Bình Chánh, Bình Tân thu hút được nhà đầu tư mới.
Nguồn: cafef

TT kim loại thế giới ngày 4/1/2019: Đồng tuần giảm mạnh nhất trong 2 tháng

 Giá đồng tại London ngày 4/1/2019 tăng hơn 1%, do hoạt động mua vào kiếm lời, song giá đồng hướng tới tuần giảm mạnh nhất trong gần 2 tháng, bởi lo ngại hoạt động tiêu thụ tại nước tiêu thụ hàng đầu – Trung Quốc – chậm lại.

TT kim loại thế giới ngày 4/1/2019: Đồng tuần giảm mạnh nhất trong 2 tháng

Giá đồng giao sau 3 tháng  trên sàn London tăng 1,1% lên 5.801,5 USD/tấn và giá đồng kỳ hạn tại Thượng Hải giảm 1,1% xuống 46.720 CNY (6.806,63 USD)/tấn. Tính chung cả tuần, giá đồng trên sàn London giảm 3,3%, tuần giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng 11/2018, trong khi giá đồng tại Thượng Hải giảm 3,1% trong tuần này, tuần giảm mạnh nhất kể từ giữa tháng 8/2018.

Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc có thể giảm xuống dưới 6,5% trong quý 4/2018, khi các công ty đối mặt với những khó khăn gia tăng.

Hoạt động nhà máy của Trung Quốc giảm lần đầu tiên trong 19 tháng trong tháng 12/2018, do các đơn hàng trong và ngoài nước suy giảm.

Chỉ số quản lý sức mua của Caixin/Markit trong tháng 12/2018 giảm xuống 49,7 so với 50,2 trong tháng 11/2018, giảm lần đầu tiên kể từ tháng 5/2017.

Nhà sản xuất đồng lớn thứ 2 châu Phi tăng thuế tài nguyên 4% lên 6% thêm 1,5% điểm từ ngày 1/1/2019 và đưa ra mức thuế mới 10% khi giá đồng vượt 7.500 USD/tấn.

Thị trường  toàn cầu suy giảm do số liệu kinh tế Mỹ giảm ảnh hưởng nặng nề đến chứng khoán phố Wall và khiến các nhà đầu tư đặt cược Cục Dự trữ Liên bang có thể đảo ngược chính sách thắt chặt trước cuối năm nay.

Nguồn: VITIC/Reuters

Giá vàng trong nước tăng mạnh sáng 4/1

Giá vàng SJC sáng 4/1 tăng 40.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 140.000 đồng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch ngày 3/1.

Sáng nay (4/1), công ty VBĐQ Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,6 – 36,8 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), tăng 40.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 140.000 đồng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch ngày hôm qua (3/1). Giá bán ra cao hơn giá mua vào 200.000 đồng mỗi lượng.

gia vang trong nuoc tang manh ngay 4/1 hinh 1
Ảnh minh họa/KT

Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng đầu giờ sáng nay ở mức 36,66 – 36,76 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), tăng 170.000 đồng/lượng ở chiều mua, tăng 70.000 đồng chiều bán ra so với giá vàng ngày hôm qua. Mức chênh lệch giá mua – bán vẫn duy trì là 100.000 đồng/lượng.

Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay ở mức 1.287,4 USD/ounce, giảm 0,4 USD so với ngày 3/1. Tính theo tỷ giá Vietcombank hôm nay (23.250 đồng/USD), giá vàng thế giới hiện ở mức 36,06 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC 740.000 đồng/lượng./.

HP/VOV.VN

Giá dầu vẫn bật tăng dù nỗi lo nhu cầu phủ bóng

Bắt đầu từ tháng 1 này, OPEC và Nga sẽ thực hiện thỏa thuận cắt giảm sản lượng để vực dậy giá dầu…

Gần đây, giá dầu theo khá sát các diễn biến của chứng khoán Mỹ.

Giá dầu thế giới tăng trên 2% trong phiên giao dịch giằng co ngày thứ Tư, nhờ lực hỗ trợ từ phiên tăng nhẹ của chứng khoán Mỹ. Tuy nhiên, những mối lo về sự suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu và nhu cầu tiêu thụ năng lượng vẫn gây áp lực giảm giá lên “vàng đen” – hãng tin Reuters cho hay.

Lúc đóng cửa tại thị trường New York, giá dầu thô WTI tăng 1,13 USD/thùng, tương đương tăng 2,5%, đạt 46,54 USD/thùng. Tại thị trường London, giá dầu thô Brent tăng 1,11 USD/thùng, tương đương tăng 2,1%, đạt 54,91 USD/thùng.

Giá dầu được hỗ trợ khi cả ba chỉ số chính của chứng khoán Mỹ cùng chốt phiên trong trạng thái tăng điểm nhẹ. Gần đây, giá dầu theo khá sát các diễn biến ở Phố Wall – thị trường chứng khoán có mức giảm tệ nhất 1 thập niên trong 2018.

Mặc dù vậy, sức ép giảm giá đối với dầu vẫn đang lớn. Dữ liệu do Trung Quốc công bố cho thấy hoạt động của các nhà máy ở nước này đang giảm tốc. Trong khi đó, sản lượng dầu từ các quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới như Nga đang tăng lên.

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) của Trung Quốc cho thấy ngành chế biến-chế tạo của nước này trong tháng 12 đã lần đầu tiên suy giảm trong hơn 2 năm. Số liệu này cho thấy thách thức mà Bắc Kinh phải đối mặt trong cuộc chiến thương mại với Washington.

“Chúng tôi vẫn xem sự trượt giảm của nền kinh tế Trung Quốc là một nhân tố bất lợi lớn đối với giá dầu, bởi Trung Quốc đã trở thành quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới”, ông Jim Ritterbusch, Chủ tịch Ritterbusch and Associatees, nhận định.

Dữ liệu ngành sản xuất từ khu vực Eurozone cũng gây thất vọng khi cho thấy ngành này hầu như không tăng trong tháng cuối cùng của năm 2018.

Những mối lo về sự giảm tốc của nền kinh tế toàn cầu và tình trạng thừa dầu đã khiến giá dầu giảm sâu khỏi mức đỉnh của 4 năm thiết lập hồi đầu tháng 10/2018. Năm ngoái, giá dầu đã có năm giảm đầu tiên kể từ 2015, trong đó giá dầu WTI sụt 25% và giá dầu Brent giảm 21%.

Dữ liệu công bố ngày thứ Tư cho thấy sản lượng dầu của Nga trong năm 2018 đạt mức kỷ lục kể từ khi Liên Xô tan rã. Các số liệu khác cho thấy sản lượng dầu của Mỹ đạt mức cao chưa từng thấy trong tháng 10 và Iraq tăng xuất khẩu dầu trong tháng 12.

Năm ngoái, sản lượng dầu đá phiến tăng mạnh đã đưa Mỹ vượt Saudi Arabia và Nga để trở thành quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Mấy tháng gần đây, sản lượng dầu của các nước nước này liên tục đạt hoặc ở gần mức kỷ lục.

Bắt đầu từ tháng 1 này, Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và đối tác, gồm Nga, sẽ thực hiện thỏa thuận cắt giảm sản lượng 1,2 triệu thùng/ngày để vực dậy giá dầu.

Hôm thứ Ba, Bộ trưởng Bộ Năng lượng của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), một thành viên OPEC, bày tỏ tin tưởng rằng thị trường dầu lửa sẽ cân bằng cung-cầu trong quý 1 năm nay.

DIỆP VŨ

Tỷ giá ngoại tệ ngày 3/1: Ngân hàng Nhà nước tăng mạnh giá mua USD

Giá USD sáng nay Ngân hàng Nhà nước mua vào ở mức 23.200 đồng/USD, tăng 500 đồng mỗi USD so với cùng thời điểm hôm qua.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) sáng nay đang là 96,32 điểm, tăng so với 95,72 điểm cùng thời điểm phiên hôm qua. Phiên hôm qua, chỉ số USD Index vọt tăng lên 96,54 điểm.

Theo Bloomberg, giá USD so với Euro hôm nay bật tăng, hiện ở mức 1 Euro = 1,1344 USD; USD cũng bật tăng so với Nhân dân tệ, hiện 1 USD = 6,86 CNY. Phiên hôm qua, 1 Euro = 1,1453 USD; nhưng USD tăng so với Nhân dân tệ, hiện 1 USD = 6,68 CNY.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, sáng nay, giá USD biến động nhẹ so với chốt phiên hôm qua. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.160-23.250 VND/USD, ngang giá; VietinBank niêm yết giá 23.156-23.246 đồng/USD, giảm 5 đồng; BIDV niêm yết giá 23.165-23.255 đồng/USD, tăng 15 đồng mỗi chiều giao dịch.

Tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam (VND) và đô la Mỹ (USD) sáng 2/1 được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.828 VND, tăng 3 đồng so với  hôm qua.

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.512 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.144 VND/USD.

Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước lúc 8h20 sáng nay giá niêm yết USD ở mức 23.200 – 23.460 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 500 đồng mua vào, bán ra không đổi so với cùng thời điểm sáng qua.

Trên thị trường tự do, giá mua-bán USD hiện đang phổ biến là 23.200-23.230 đồng/USD, giảm 50 đồng mỗi mua vào, giảm 40 đồng chiều bán ra./.

PV/VOV.VN

Giá vàng SJC tiếp tục tăng mạnh

Mỗi lượng vàng SJC được điều chỉnh tăng từ 120 nghìn đến 150 nghìn so với sáng qua.

Giá vàng SJC tiếp tục tăng mạnh

Ảnh minh họa.

Khảo sát lúc 8h55 sáng nay (3/1/2019) giá vàng miếng SJC tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đang niêm yết ở mức 36,50 – 36,70 triệu đồng/lượng, tăng tới 120 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với giá khảo sát sáng qua.
Chênh lệch giá mua – bán ra vẫn ở mức 200 nghìn đồng/lượng.
Trong khi đó, Tập đoàn Doji cũng tăng mạnh giá vàng, tới 150 nghìn đồng mỗi chiều, lên 36,60- 36,70 triệu đồng/lượng.

Biểu đồ: Kitco
Cùng thời điểm, giá vàng giao ngay trên sàn Kitco đang niêm yết ở mức 1.287,7 USD/ounce, tăng 5,6 USD/ounce, tương đương 0,44% so với sáng qua.
Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank sáng nay, hiện giá vàng thế giới khoảng 36,07 triệu đồng/lượng, rẻ hơn giá vàng SJC trong nước khoảng 0,43 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, kết thúc phiên giao dịch đêm qua (giờ Việt Nam), giá vàng giao kỳ hạn tháng 2/2019 tăng 2,80USD/ounce tương đương 0,2% lên 1.284,10USD/ounce – đây là mức đóng cửa cao nhất của giá vàng tính từ giữa tháng 6/2018, dù vậy nó vẫn dưới ngưỡng cao 1.291,USD/ounce, theo tính toán của FactSet.
Trước đó, chốt  lại phiên giao dịch cuối cùng của năm 2018, giá vàng giảm 2%, tuy nhiên tăng được 4,6% trong tháng 12/2018 và 7,2% trong 3 tháng cuối cùng của năm 2018.

LINH LINH

Giá dầu thô tăng nhẹ sau bất chấp lo ngại về kinh tế toàn cầu suy giảm

Giá dầu thô trong ngày hôm nay (2-1) đã tăng giá nhẹ bất chấp nguồn cung dầu thô của Mỹ tăng và những lo ngại về kinh tế toàn cầu suy giảm.

gia dau tho tang nhe sau bat chap lo ngai ve kinh te toan cau suy giam

Theo đó, chốt phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 1-2019 trên sàn New York Mercantile Exchanghe ở mức 45,04 USD/thùng. Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 1-2019 đứng ở mức 53,35 USD/thùng.

Còn tại thị trường London, cùng thời điểm, giá dầu WTI được giao dịch ở mức thấp nhất là 45,22 USD/thùng và cao nhất là 45,28 USD/thùng. Đóng của phiên giao dịch trước, giá dầu WTI đứng ở mức 45,22 USD/thùng, tăng 3,44%. Giá mở cửa phiên giao dịch ngày 2-1 là 45,49 USD/thùng.

Với dầu Brent, giá dầu được giao dịch ở mức thấp nhất là 53,06 USD/thùng và cao nhất là 53,12 USD/thùng. Đóng cửa phiên giao dịch trước, giá dầu Brent đứng ở mức 53,06 USD/thùng. Giá mở cửa phiên giao dịch ngày 2-1 là 53,95 USD/thùng.

Các thương nhân cho biết dầu giao sau tăng bởi các thị trường chứng khoán tăng, mặc dù tổng thể tâm lý thị trường dầu mỏ vẫn yếu.

Theo báo cáo mới nhất sản lượng dầu thô của Mỹ đạt kỷ lục 11,7 triệu thùng/ngày trong cuối tháng 12-2018, đánh dấu Mỹ là nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới, vượt Nga và Saudi Arabia.

CK

Xuất khẩu gạo: Nhìn lại và hướng tới

Chính sách “xoay trục” trong nông nghiệp đã làm thay đổi vị trí ưu tiên lúa gạo từ số 1 xuống số 2. Tuy có những lúng túng ban đầu, nhưng xuất khẩu gạo đã đổi mới, bứt phá, giành thắng lợi cả về cơ cấu và giá bán; tiếp tục khẳng định vai trò một loại nông sản chủ lực và bền vững trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

“Cởi trói”, bứt phá, tăng ấn tượng

Với sản lượng 43,9 triệu tấn lúa năm 2018 (tăng 1,2 triệu tấn so với năm 2017) thì giải pháp xuất khẩu gạo đạt mức cao, được giá hơn và hài hòa lợi ích là điều trăn trở. Vì lẽ đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 107/2018/NĐ-CP nhằm bãi bỏ những quy định không còn phù hợp để “cởi trói”, giúp doanh nghiệp rộng đường hơn khi xuất khẩu. Cũng từ “nút mở” này, ngành lúa, gạo Việt Nam đã có những chuyển biến lạc quan trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, giúp các địa phương nâng cao chất lượng lúa, gạo với ba khâu quan trọng: Tìm tạo giống mới chất lượng cao; tăng tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất lúa và công nghệ bảo quản, sấy khô, xay xát, nhằm tối ưu hóa và thương mại hóa sản phẩm gạo xuất khẩu. Từ “cởi trói” trong chính sách việc tổ chức sản xuất lúa, xuất khẩu gạo đã tiếp cận sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu theo hướng lấy giá trị làm thước đo hiệu quả kinh tế, lấy thị trường (cầu) để điều chỉnh sản xuất (cung).

xuat khau gao nhin lai va huong toi
Từ “cởi trói” trong chính sách, doanh nghiệp rộng đường hơn khi xuất khẩu gạo

Nhờ đó, đã làm cơ cấu và giá gạo xuất khẩu thay đổi tích cực theo chiều hướng giảm gạo trắng chất lượng trung bình, thấp xuống còn 2,07%; tăng gạo trắng chất lượng cao lên mức 51%, gạo Jasmine, gạo thơm 32%, gạo nếp 12% và gạo Japonica, gạo giống Nhật 5%… Tổng sản lượng gạo xuất khẩu năm 2018 đạt 6,13 triệu tấn, tăng 6% về lượng và 20% về giá. Hiện giá gạo xuất khẩu bình quân đạt mức 450 USD/tấn, cao hơn của Thái Lan 15 USD/tấn và của Ấn Độ 40 USD/tấn. Gạo của Việt Nam đã đến người tiêu dùng tại thị trường 150 quốc gia, khu vực, vùng lãnh thổ và bước đầu đã thâm nhập được vào thị trường khắt khe về tiêu chuẩn, như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, EU… Tuy sản xuất lúa, xuất khẩu gạo chưa vận hành và đạt như mong muốn, giá gạo thơm, gạo dẻo còn thấp so với gạo cùng loại của Thái Lan, Ấn Độ… nhưng chúng ta có quyền tự tin – Hạt gạo vẫn mãi là nông sản chủ lực.

Thị trường và ba mũi giáp công

Trong vòng 4 năm tới, cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn khi các quốc gia thu mua lớn giảm khối lượng nhập khẩu, các quốc gia xuất khẩu gạo tăng cường bán ra. Ấn Độ sẽ giữ vững vai trò dẫn đầu xuất khẩu gạo toàn cầu vào năm 2019, tiếp theo là Thái Lan, Việt Nam, Pakistan, Myanmar và Mỹ. Dự báo, Trung Quốc sẽ trở thành một nhân tố chủ chốt trên thị trường gạo thế giới.

Tại Việt Nam, sự liên kết, chuyển hướng xuất khẩu và hoạt động thương mại gạo đang diễn biến theo xu hướng mới. Đó là các hợp đồng Chính phủ dần ít đi, thay vào đó là các hợp đồng thương mại. Mục tiêu xuất khẩu gạo đến năm 2020, định hướng đến 2030: Tỷ trọng gạo trắng thường chiếm khoảng 25%; gạo thơm, gạo đặc sản, gạo Japonica chiếm khoảng 40%; gạo nếp khoảng 25%; tăng dần tỷ trọng các sản phẩm gạo có giá trị gia tăng cao như: Gạo tăng cường vi chất dinh dưỡng, gạo đồ, gạo hữu cơ, bột gạo, sản phẩm chế biến từ gạo, cám gạo và một số phụ phẩm khác từ lúa gạo khoảng 10%. Để đạt mục tiêu trên, sản xuất lúa, xuất khẩu gạo cần có sự nỗ lực cao từ phía nhà nước, người dân và doanh nghiệp, với “ba mũi giáp công”, đó là: Đổi mới thể chế quản lý và chính sách sản xuất lúa, gạo theo hướng trọng chất lượng; nâng cao chất lượng gạo thông qua nghiên cứu lai tạo, chọn lọc giống để đáp ứng sự thay đổi tiêu dùng; xây dựng thương hiệu Quốc gia gạo Việt Nam.

Để tăng khả năng nhận diện, tiếp thị, cạnh tranh tại thị trường xuất khẩu và nội địa, tăng hiệu quả sản xuất và giá trị gạo, việc xây dựng thương hiệu phải bắt đầu từ thị trường, từ nhu cầu người tiêu dùng, từ các yếu tố tác động đến sản xuất và thương mại. Bản sắc của thương hiệu gạo Quốc gia phải dựa trên sự tập hợp phong phú và đa dạng về chất lượng của các sản phẩm gạo bản địa, kèm theo một hệ thống kiểm soát chất lượng tối ưu từ trung ương đến địa phương và dọc theo chuỗi giá trị, đảm bảo cho vị thế, uy tín và sự tin cậy của người tiêu dùng trên thế giới đối với hạt gạo Việt Nam.

Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy

Năng suất lao động tăng 5,93%

Cùng với các thành tựu kinh tế nổi bật, năm 2018 cũng ghi nhận một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng lập kỷ lục chính là năng suất lao động tăng mạnh.

Năng suất lao động, yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới /// Công Hân

Năng suất lao động, yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới
Tổng cục Thống kê cho biết: Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN.
Tạo mọi điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển

Năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD), tăng 346 USD so với năm 2017. Tính theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017. Nếu tính bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm, cao hơn mức tăng 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015.

Năng suất lao động của Việt Nam trước đây rất thấp, chỉ bằng 1/4 Thái Lan, Trung Quốc, bằng 1/10 so với Hàn Quốc, Nhật, Mỹ… Sự cải thiện năng suất lao động của Việt Nam những năm qua còn chậm hơn cả Lào và Campuchia hay Myanmar. Năng suất lao động thấp là một trở lực cho sự phát triển kinh tế, chính vì vậy con số tăng trưởng này trong năm nay là một trong những tính hiệu rất tích cực và tạo đà cho phát triển kinh tế trong năm 2019.
Theo các chuyên gia kinh tế, những lợi thế truyền thống của Việt Nam như: giá lao động rẻ, chi phí nguyên liệu thấp đang dần biến mất. Vấn đề còn lại để tăng trưởng kinh tế ổn định, thu hút đầu tư và hội nhập quốc tế và thoát bẫy thu nhập trung bình chính là việc làm sao đẩy năng suất lao động tăng trưởng 7 – 8%/năm. Điều này cần có một chiến lược cụ thể và các giải pháp đồng bộ của Nhà nước.
Cũng chính vì thế mà hồi giữa năm 2018, Tổ tư vấn của Thủ tướng đã khuyến nghị: Việt Nam nên chọn năm 2019 là năm tăng năng suất lao động quốc gia. Theo đó, cần đặc biệt khuyến khích tư nhân làm đầu tàu, dẫn dắt phong trào nâng cao năng suất lao động quốc gia, từ việc cung cấp các dịch vụ tư vấn, đến chia sẻ các điển hình, đưa ra phản hồi chính sách đối với Chính phủ. Lựa chọn một số ngành để thực hiện thí điểm năng cao năng suất lao động hiệu quả. Bên cạnh đó, cần hợp tác quốc tế để xây dựng chương trình xúc tiến năng suất có hiệu quả.
CÔNG HÂN

Xuất khẩu nông sản Việt và những “bom tấn” 10 tỷ USD

Nhờ thị trường rộng mở, tư duy thay đổi, ngày càng nhiều nông sản Việt trở thành “bom tấn” xuất khẩu. Đặc biệt, năm 2019, lần đầu tiên, ngành nông nghiệp có 2 mặt hàng đặt mục tiêu xuất khẩu trên 10 tỷ USD.

Tới tấp tin vui đầu năm

Những ngày này, Nafood Group đang cấp tập chuẩn bị lên kế hoạch cho năm 2019. Thị trường mới nhất mà công ty này vừa khai phá là Nga với các mặt hàng chủ lực là chanh dây, điều, trái cây đông lạnh… Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch, kiêm Tổng giám đốc Nafood cho hay, Nafood kỳ vọng có thể đẩy mạnh hơn nữa doanh số xuất khẩu năm 2019.

Với Tập đoàn Tân Long,  – doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nông sản – năm 2018 cũng là năm rất thành công. Ông Nguyễn Chánh Trung, Tập đoàn Tân Long cho biết, năm 2018, sản lượng xuất khẩu của Công ty tăng gấp đôi so với năm 2017.

Năm 2018 là một năm xuất khẩu đại thắng với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngành gạo, cá tra, đồ gỗ, lâm sản, rau quả… Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), trừ một số loại cây công nghiệp, năm qua, hầu hết các  loại nông sản được tiêu thụ kịp thời, giá có lợi cho nông dân. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 40,02 tỷ USD, tăng 9,6% so với năm 2017.

Trong năm vừa qua, 10 mặt hàng vẫn giữ phong độ trong “câu lạc bộ trên 1 tỷ USD”; 5 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỷ USD là tôm, rau quả, hạt điều, cà phê, gỗ và sản phẩm gỗ.

Điều đáng mừng nhất trong năm qua là thị trường tiêu thụ nông sản ngày càng được mở rộng. Nhiều nông sản Việt trước đây “áo gấm đi đêm”, phải xuất khẩu qua đường tiểu ngạch, thì nay đã được xuất khẩu chính ngạch. Những ngày cuối năm 2018, Trung Quốc đã đồng ý mở cửa chính ngạch thêm 7 loại trái cây Việt Nam (sầu riêng, bưởi, chanh dây, khoai lang, dừa, mãng cầu, măng cụt) và đồng ý cấp phép xuất khẩu chính ngạch cho cá ngừ, cá rô phi Việt.

Với kim ngạch xuất khẩu 40 tỷ USD, năm 2018, Việt Nam đang đứng thứ 15 thế giới về xuất khẩu nông sản (đã xuất sang hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới), khẳng định vị thế cường quốc về xuất khẩu nông sản. Năm 2019, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu xuất khẩu khoảng 42 – 43 tỷ USD. Bộ NN&PTNT khẳng định, sẽ tích cực xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường xuất khẩu, triển khai hiệu quả cơ hội của các Hiệp định thương mại tự do… để đạt mục tiêu này.

Thay đổi tư duy xuất khẩu 

Với hàng loạt hiệp định thương mại tự do đã và sắp có hiệu lực, một chợ lớn xuyên biên giới đang mở ra cho nông sản Việt. “Nông nghiệp của ta đang có những tiến bộ rất lớn. Chúng ta đang có 6 thị trường lớn cho nông sản là: Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN. Tới đây, nhiều hiệp định thương mại tự do có hiệu lực càng khiến thị trường rộng mở. Tuy nhiên, cắt giảm thuế quan mới chỉ là một phần, quan trọng là phải đàm phán mở cửa thị trường về mặt kỹ thuật”,  ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương nói.

Quả thực, năm 2018 chứng kiến sự thay đổi tư duy của nhiều cơ quan quản lý. Chuyện tổng tư lệnh ngành hay các lãnh đạo cấp vụ đi đàm phán bán rau, cá, thịt… ngày càng nhiều. Năm 2018, Bộ NN&PTNT đã có 6 đoàn sang làm việc với cơ quan chức năng Trung Quốc để mở cửa cho các mặt hàng.

Nhờ đó, nhiều nông sản Việt cũng đã mở rộng cánh cửa xuất khẩu như: thịt bò, sữa vào Malaysia; thịt lợn, gà, trứng vào Singapore; thịt lợn, sữa, thủy sản, gạo vào Trung Quốc… Năm 2018, lần đầu tiên, nhiều nông sản Việt đã được các nước cấp “visa” xuất khẩu như: thịt gà vào được Nhật Bản, thịt lợn đông lạnh vào Myanmar, vú sữa vào Hoa Kỳ, chôm chôm vào New Zealand, chanh leo vào EU… Tuy số lượng chưa lớn, song đã cho thấy uy tín của nông sản Việt ngày càng được thế giới thừa nhận.

Tiếp nối thành công đó, năm 2019, lần đầu tiên, ngành nông nghiệp có hai mặt hàng đặt mục tiêu xuất khẩu trên 10 tỷ USD là thủy sản và lâm sản – đồ gỗ.

Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của nông sản xuất khẩu nước ta là giá trị chế biến trong các lô hàng xuất khẩu còn thấp. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc từng “đặt hàng” cho ngành nông nghiệp trong 10 năm tới phải đứng top 15 các nước phát triển nhất thế giới, trong đó, lĩnh vực chế biến nông sản đứng top 10 thế giới, đưa nông nghiệp Việt Nam thành trung tâm chế biến sâu của nông nghiệp thế giới, là một trung tâm logistics của thương mại nông sản toàn cầu.

Mục tiêu này chưa dễ đạt được, khi ngành chế biến nông sản nước ta mới đang trong giai đoạn đầu phát triển. Tuy nhiên, đáng mừng là, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.

Chất lượng là con đường duy nhất của nông sản xuất khẩu

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, muốn tham gia thị trường nông sản thế giới ngày càng phát triển và nhiều rào cản kỹ thuật khắt khe, không còn con đường nào khác là đảm bảo chất lượng, mà một trong những biện pháp là thông qua chế biến. Chính vì vậy, trong tái cơ cấu nông nghiệp, tăng đầu tư chế biến là biện pháp quyết định, không chỉ giúp tăng giá trị xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu, mà còn đảm bảo tính bền vững của thị trường xuất khẩu. Chế biến cũng là phương châm, mục tiêu và giải pháp đột phá những năm tới của ngành nông nghiệp.

Theo Thùy Liên
baodautu.vn

Giá vàng hôm nay 2.1: Vàng miếng SJC tăng mạnh

Giá vàng hôm nay 2.1, vàng miếng SJC tăng mạnh, trong khi đó trên thị trường thế giới giảm nhẹ so với phiên đầu năm hôm qua.

Ảnh minh hoạ.

Những xu hướng mới trên thị trường bất động sản năm 2019

Các chuyên gia đều lạc quan vào sự phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế ổn định, cho rằng sự đa dạng của thị trường sẽ mang lại nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư.

Những xu hướng mới trên thị trường bất động sản năm 2019

Ông Stephen Wyatt, Tổng giám đốc Công ty Jones Lang LaSalle Việt Nam, cho biết chu kỳ phát triển của thị trường bất động sản đã thay đổi rất nhiều so với chu kì trước. Lần này, thị trường phát triển nhiều phân khúc hơn, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư. Trước đây, chúng ta chỉ nhắc đến thị trường nhà ở đơn thuần, nhưng hiện nay thị trường văn phòng, bán lẻ cũng hoạt động rất tốt.

Ngoài ra, lượng du khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều khiến cho thị trường du lịch phát triển. Thương mại điện tử, mảng sản xuất mở rộng khiến cho thị trường logistics hay khu công nghiệp cũng phát triển. Các lĩnh vực trong đầu tư bất động sản khá đa dạng, giúp cho các nhà đầu tư có nhiều lựa chọn hơn.
Còn theo Ông Nguyễn Mạnh Hà, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Bất động sản Việt Nam, thị trường bất động sản năm 2019 sẽ phát triển với nguồn cung dồi dào, tập trung vào các dự án lớn. Những thành phố thu nhỏ với dịch vụ đầy đủ, hạ tầng đồng bộ như dự án của Vingroup sẽ là xu hướng dẫn dắt thị trường.
“Các dự án nhỏ lẻ ở khu vực khác rất khó cạnh tranh với những dự án lớn đồng bộ. Nhưng chúng tôi đánh giá cao các dự án như vậy vì đó là xu hướng tất yếu để đô thị gọn gàng hơn. Do nguồn cung dồi dào, vì vậy chúng tôi đánh giá, sang năm 2019 bất động sản sẽ không có khả năng tăng giá đột biến, thị trường ổn định. Cơ cấu hàng hóa sẽ phù hợp với khả năng của thị trường, nhất là nhà ở năm 2019 sẽ phù hợp với khả năng chi trả của người dân”, ông Hà cho biết thêm.
Cũng theo vị này, trong năm 2019, phân khúc bất động sản công nghiệp sẽ đặc biệt phát triển. Đây là làn sóng mới tại Việt Nam, việc phát triển các khu công nghiệp theo đó cũng phải đồng bộ hơn để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư cũng phải quan tâm đến nhà ở thương mại để đáp ứng các khu công nghiệp. “Chúng tôi đánh giá đây sẽ là một trong những phân khúc thị trường còn nhiều dư địa phát triển”, ông Hà kết luận.
Cùng quan điểm này, GS. Đặng Hùng Võ, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhận định rằng bất động sản công nghiệp, bất động sản thương mại là yếu tố mới, triển vọng rất lớn trong năm 2019 sắp đến.
Lý giải về quan điểm này, ông Võ cho biết chiến tranh thương mại Mỹ – Trung có thể chính là cơ hội tuyệt vời cho Việt Nam. Điều chúng ta phải làm là thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thay vì để họ đến Trung Quốc hay các nước khác. Do vậy, chúng ta cần phải chuẩn bị đủ điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Thị trường shophouse đang rất lớn
Nhận định về các xu hướng của thị trường sắp tới, ở góc độ một nhà đầu tư, bà Hương Nguyễn, Tổng giám đốc Đại Phúc Land, đưa ra dự báo cho thấy xu hướng khách hàng lựa chọn phân khúc căn hộ trong các khu đô thị được quy hoạch bài bản, đầy đủ tiện nghi, không gian sống xanh thân thiện, thoáng đãng tăng mạnh hơn. Thứ hai là các dự án ven sông, hoặc có hồ nhân tạo được ưu tiên tìm hiểu. Thứ ba là các căn hộ 2 phòng ngủ, có diện tích phù hợp từ 55 – 78m2, được bố trí không gian mở, hiện đại.
Đối với phân khúc shophouse, hầu hết các dự án bất động sản, tỷ lệ shophouse khá khan hiếm từ khoảng 2 – 5% dự án. Các shophouse thường được chủ đầu tư đặt vào vị trí đắc địa của dự án. Thêm vào đó, sản phẩm này chiếm rất nhiều ưu thế vượt trội, tích hợp nhiều chức năng, khai thác cho thuê hiệu quả. Trong năm qua và những năm tới, tiềm năng phát triển của thị trường shophouse rất lớn.
“Theo tôi thấy, sản phẩm shophouse sẽ có biên độ sinh lời rất tốt. Đối với các dự án chủ đầu tư uy tín, dự án chất lượng thì biên độ sinh lời còn cao hơn nữa. Trong năm 2018, thị trường chứng kiến sự sụt giảm về nguồn cung shophouse chất lượng trên thị trường. Trong năm 2019, tiếp tục sự thiếu hụt về nguồn cung shophouse. Dự báo phân khúc này vẫn được săn đón và dự kiến giá shophouse sẽ tăng trong năm tiếp theo”, bà Hương phân tích.
Khách hàng nên bỏ tiền vào đâu?
Về cơ hội đầu tư bất động sản thuộc các tỉnh giáp ranh TP.HCM trong năm 2019, ông Lê Hoàng Châu – Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM cho biết cùng với sự phát triển hạ tầng liên vùng ngày càng hoàn chỉnh, các tỉnh lân cận đã được xem như vùng ngoại ô của TP.HCM. Cơ hội đầu tư về những địa bàn này tuy khá nhiều nhưng còn phụ thuộc vào kế hoạch phát triển các dự án hạ tầng giao thông trong tương lai, đặc biệt là các quy hoạch các ga metro.
Bà Nguyễn Vũ Thiên Diễm, Chủ tịch HĐQT Thiên Minh Group, cũng cho biết các tỉnh thành xung quanh khu vực TP.HCM trong những năm qua rất được quan tâm. Thuận lợi đầu tiên vì là đây là thị trường mới nổi, chưa được nhiều chủ đầu tư để mắt tới. Trong khi hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng đang được đầu tư khép kín. Trong năm 2019, nhiều chủ đầu tư sẽ đưa ra thị trường các dự án tại khu vực vùng ven và đây là điểm nhấn trong thị trường bất động sản khu vực phía Nam.
Đồng ý với những nhận định trên, ông Nguyễn Hoài Sơn, Giám đốc kinh doanh BĐS Gamigroup, cho rằng mật độ dân số sẽ quyết định đến giá của bất động sản. Các nhà đầu tư nên hướng đến những địa phương sẽ có đông dân trong tương lai, kết nối giao thông tốt. Nếu các nhà đầu tư kỳ vọng sinh lời cao thì phải chấp nhận rủi ro do đầu tư ở khu vực đó trong nhiều năm mà chưa chắc giá đã lên. Còn nếu nhà đầu tư quan tâm hệ số sinh lời thấp thì có thể đầu tư căn hộ dạng officetel, căn hộ 1 – 2 phòng ngủ cho thuê để ổn định hơn.
“Trong 2 năm tới, thị trường nhà ở sẽ là kênh đầu tư được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, trước khi đầu tư chúng ta cần tìm hiểu kỹ về thị trường để hiểu rõ hơn về dự án, năng lực đầu tư. “Vị trí, vị trí và vị trí” vẫn sẽ là yếu tố quan trọng để xác định được giá bán. Đồng thời, những dự án có cơ sở hạ tầng thuận tiện với những tuyến đường mới, cao tốc, metro… sẽ được nhiều người quan tâm “, ông Stephen Wyatt nhận định.
Ông Trần Khánh Quang, Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư bất động sản Việt An Hòa, đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam 2019 vẫn tăng trưởng tốt, trong đó phân khúc đất nền sẽ tiếp tục được quan tâm đầu tư. Phú Quốc sẽ là thị trường tiềm năng vào quý 2/2019 khi giá đất các tỉnh hiện nay đạt giá khá cao.
Theo ông Quang, trong năm tới, nhiều dự án condotel đi vào hoạt động sẽ gây áp lực rất lớn cho các chủ đầu tư vì có cam kết lợi nhuận về khai thác. Những căn hộ giá dưới 1,5 tỉ đồng sẽ tiếp tục được tiêu thụ tốt và dịch chuyển qua các khu vực như Bình Chánh, Bình Tân thu hút được nhà đầu tư mới.
Nguồn: cafef

H. Lan

Vinanet

Gạo Việt đã xuất khẩu đi hơn 150 thị trường, cơ hội tiếp tục rộng mở

Gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, thị trường xuất khẩu đã mở rộng vào các nước châu Mỹ, Trung Đông…

Gạo Việt đã xuất khẩu đi hơn 150 thị trường, cơ hội tiếp tục rộng mở

Nhiều tín hiệu lạc quan

Lượng gạo xuất khẩu hàng năm của nước ta chiếm khoảng 15% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới. Hiện nay, gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, bên cạnh thị trường truyền thống đã từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu vào các nước châu Mỹ, Trung Đông…Sản phẩm gạo trắng cao cấp và gạo thơm đã bước đầu thâm nhập vào thị trường khó tính, giúp sản phẩm gạo Việt Nam từng bước hiện diện trên khắp thế giới.

Năm 2018 là dấu mốc đáng kể với ngành sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam, với kim ngạch gia tăng đến 20%, tăng cả giá trị và sản lượng. Xuất khẩu gạo của Việt Nam đã duy trì xu hướng tích cực ngay từ đầu năm nhờ tín hiệu nhập khẩu trở lại từ nhiều thị trường, theo cả hợp đồng tập trung và hợp đồng thương mại.

Hạt gạo Việt Nam cũng đã bước đầu thâm nhập được các thị trường yêu cầu chất lượng cao như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông (Trung Quốc), Mỹ, EU và liên tiếp duy trì vị trí nước xuất khẩu lớn thứ 3 thế giới, sau Ấn Độ và Thái Lan. Giá gạo xuất khẩu duy trì ở mức cao góp phần tiêu thụ lúa gạo hàng hóa với mức giá cao, có lợi cho người nông dân; tăng trưởng xuất khẩu các loại gạo chất lượng cao và giảm dần tỷ trọng các loại gạo chất lượng trung bình và thấp.

Cùng với đó, chính sách mới quản lý điều hành xuất khẩu gạo qua việc Chính phủ ký ban hành Nghị định số 107 ngày 15/8/2018 về kinh doanh xuất khẩu gạo giúp cho việc xuất khẩu gạo dần dần được hình thành một cách hệ thống. Thể chế chính sách xuất khẩu gạo đã từng bước theo hướng tự do hóa, dần phù hợp với quy định của quốc tế, loại bỏ các rào cản gây bất lợi cho thương nhân trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo.

“Về mặt thể chế, 2018 là năm có dấu ấn đặc biệt. Đây là năm đầu tiên triển khai quyết định 942 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược xuất khẩu gạo. Đây cũng là năm mà có những thay đổi đột phá về mặt cơ chế khi có Nghị định 107 thay thế 109. Qua đó, đáp ứng mong mỏi không chỉ của các doanh nghiệp mà của cả các địa phương, đặc biệt là ở khu vực ĐBSCL” – ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương nói.

Ông Đỗ Hà Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Intimex Group cho rằng, thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trước đây chủ yếu trông vào hợp đồng đấu thầu của Chính phủ chứ doanh nghiệp Việt Nam không giỏi về mở rộng thị trường. Nhưng nay có cơ chế mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc chủ động tìm kiếm thị trường.

“Nếu doanh nghiệp có sự phối hợp hành động, biết liên kết thì sẽ tìm được hợp đồng xuất khẩu giá tốt. Thêm cơ chế thoáng hơn cho doanh nghiệp nữa thì tạo nhiều cơ hội hơn. Với cơ chế mới mở ra nhiều hướng phát triển” – ông Đỗ Hà Nam cho biết.

Chưa chú trọng cải thiện chất lượng

Dù có những tín hiệu tích cực nhưng trong công tác điều hành xuất khẩu gạo và phát triển thị trường vẫn còn một số hạn chế. Điều nhận thấy rõ trong năm 2018 là xuất khẩu gạo thiên về bề rộng, gia tăng khối lượng, chưa chú trọng cải thiện chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả xuất khẩu.

Thị trường xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào một số thị trường truyền thống, trọng điểm, đặc biệt là thị trường Trung Quốc, tỷ lệ gạo xuất khẩu trực tiếp với thương hiệu gạo từ Việt Nam còn thấp, nhiều thị trường bị chi phối bởi trung gian. Uy tín, năng lực tiếp cận, thâm nhập thị trường, đàm phán ký kết thực hiện hợp đồng, xử lý tranh chấp thương mại quốc tế, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo Việt Nam còn hạn chế…

Đây sẽ là những vấn đề cần có giải pháp cho một năm xuất khẩu mới 2019 với nhiều chuyển động.

“Chúng ta có thể thúc đẩy về thể chế để phân định được rạch ròi giữa 2 thị trường tập trung và thị trường thương mại để chúng ta đạt được mức giá tốt nhất. Cộng đồng doanh nghiệp tăng cơ hội xuất khẩu. Xu hướng chuyển đổi ngành gạo từ cơ chế kiểm soát sang cơ chế phát triển. Các cơ quan nhà nước hay hiệp hội cũng chuyển từ hành chính sang hỗ trợ, kiến tạo phát triển để góp phần tạo cuộc chơi lớn hơn cho ngành gạo” – ông Phạm Quang Diệu, Giám đốc Công ty Agromonitor chia sẻ,

Kết quả sản xuất và xuất khẩu gạo trong năm 2018 khả quan nhưng nhiều chuyên gia cũng đã dự báo tình hình xuất khẩu trong thời gian tới có thể gặp không ít khó khăn do thay đổi chính sách nhập khẩu lương thực của một số thị trường nhập khẩu. Cùng với đó, những thách thức: đảm bảo an ninh lương thực; đáp ứng xu hướng tiêu dùng gạo chất lượng, an toàn cho sức khỏe con người vẫn còn đó.

Trong khi đó, xu hướng tự do hóa thương mại toàn cầu, những thay đổi trong ứng xử của các quốc gia về xuất nhập khẩu gạo cũng là những thách thức mà ngành gạo Việt Nam phải đối mặt và vượt qua. Từ đó, để khẳng định được thương hiệu, chất lượng, xứng tầm với tiềm năng của một quốc gia lợi thế về nông nghiệp.

Xem thêmgao viet da xuat khau di hon 150 thi truong co hoi tiep tuc rong moXuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc đối mặt thách thức gì năm 2019gao viet da xuat khau di hon 150 thi truong co hoi tiep tuc rong moViệt Nam chính thức có thương hiệu gạo quốc giagao viet da xuat khau di hon 150 thi truong co hoi tiep tuc rong moXuất khẩu gạo Việt Nam ảm đạm trong tuần qua vì yêu cầu kiểm tra khắt khe từ Trung Quốcgao viet da xuat khau di hon 150 thi truong co hoi tiep tuc rong moGạo Việt Nam khó mở rộng hơn ở thị trường Trung Quốc

Nguồn: VOV

Năm 2018, ô tô nội trụ vững trước áp lực rất lớn từ xe nhập khẩu miễn thuế, đạt ức tăng trưởng đột biến về cả doanh số lẫn thị phần.

Năm 2018 chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của ô tô nội với tăng trưởng đột biến về cả doanh số cũng như thị phần. Trụ vững trước áp lực rất lớn từ xe nhập khẩu miễn thuế từ ASEAN, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được kỳ vọng sẽ có sự chuyển hướng mạnh mẽ mang tính bước ngoặt làm bàn đạp cho một chu kỳ phát triển mới.

Keyword đầu tiên có dấuTrong năm 2018, Hyundai Grand i10 được chuyển từ nhập khẩu sang lắp ráp và đã gặt hái thành công ngoài mong đợi

Xe nội tăng cả doanh số lẫn thị phần

Theo số liệu mới nhất từ Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), tính đến hết tháng 11/2018, doanh số bán hàng của các doanh nghiệp trực thuộc đã đạt hơn 253 nghìn xe, tăng 4% so với cùng kỳ. Trong đó, các loại xe sản xuất, lắp ráp trong nước đạt doanh số hơn 193 nghìn xe (tăng 11%), trong khi xe nhập khẩu (CBU) chỉ đạt hơn 60 nghìn xe (giảm 14%) so với cùng kỳ. Tỷ lệ trên chưa thể hiện hết sự vươn lên của các mẫu xe lắp ráp trong nước (CKD) bởi chưa tính doanh số của một hãng xe lớn khác hoàn toàn được lắp ráp trong nước là Hyundai Thành Công (không nằm trong VAMA).

Nếu cộng thêm doanh số gần 58 nghìn của cả Hyundai Thành Công (doanh nghiệp hiện chuyển hoàn toàn sang lắp ráp ô tô) thì tỷ lệ xe CKD chiếm tới gần 80% thị phần ô tô tại Việt Nam.

“Nếu đạt được tỷ lệ nội hóa trên 40% và được ASEAN công nhận, ô tô Việt Nam hoàn toàn có thể tính tới việc xuất khẩu đi các nước trong khu vực để cạnh tranh. Ví dụ, như VinFast hiện đang rất muốn xuất khẩu ô tô, nếu đạt được các yêu cầu thì đó là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, có thể giúp tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập. Tuy nhiên, hiện nay cũng cần phải có những cơ chế, chính sách từ phía Nhà nước và sự nỗ lực từ chính doanh nghiệp muốn nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.”

Chuyên gia kinh tế

Lê Đăng Doanh

Đến nay, THACO Trường Hải vẫn là doanh nghiệp có thị phần ô tô lớn nhất tại Việt Nam. Trong 11 tháng năm 2018, doanh số của 8 thương hiệu thuộc THACO đã đạt doanh số 88.181 nghìn xe (tăng 9% so với cùng kỳ năm trước) và chiếm 36% miếng bánh thị phần, tăng 0,4% thị phần so với cùng kỳ năm trước.

Một thương hiệu có mức tăng trưởng mạnh nhất trong năm 2018 là Hyundai Thành Công (HTC). Cộng dồn 11 tháng đầu năm 2018, HTC đã bán ra tới 57.519 xe và nắm giữ 19,4% thị phần ô tô trong nước, tăng gấp đôi doanh số của cả năm 2017. HTC đang có những tháng ngày đặc biệt thành công khi hầu hết các mẫu xe của thương hiệu Hyundai đều đang tăng trưởng mạnh sau khi chuyển từ nhập khẩu sang lắp ráp tại Việt Nam. Nhiều mẫu xe như: Accent, Kona, i10… đều “cháy hàng” do không sản xuất kịp để đáp ứng nhu cầu.

Mảng xe lắp ráp của Toyota cũng có một năm thành công, đặc biệt là với 4 mẫu xe chiến lược gồm: Vios, Innova, Camry, Altis. Trong 11 tháng đầu năm 2018, 4 mẫu xe lắp ráp của Toyota đạt doanh số 46.144 nghìn xe so với 36.620 xe cùng kỳ năm trước, tăng 26%.

Chỉ tính riêng mảng xe lắp của Ford Việt Nam (EcoSport, Fiesta, Focus, Transit) đến hết 11 tháng của năm 2018 cũng đã bán được 11.942 xe, tăng 14,3% so với cùng kỳ và chiếm 57,7% tổng doanh số của hãng.

Trong năm qua thị trường ô tô Việt Nam cũng đón nhận một nhân tố mới là VinFast. Thương hiệu xe thuần Việt này đang ấp ủ nhiều kỳ vọng trở thành một thế lực mới tại thị trường trong nước. VinFast dự kiến sẽ có tỷ lệ nội địa hóa cao để hướng tới xuất khẩu ô tô ra khu vực, thế giới. Dự kiến, những chiếc xe đầu tiên của VinFast sẽ bắt đầu được bán ra ngay đầu năm 2019.

Keyword đầu tiên có dấu
Trong năm qua, Mazda CX-5 do THACO sản xuất được công nhận có chất lượng tương đương với các mẫu xe sản xuất tại Nhật Bản

Xác lập hướng đi mới

Có thể nói, ngành công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam đã trải qua một năm 2018 với nhiều chính sách quan trọng, mang tính bước ngoặt. Đầu tiên là Nghị định 116 quy định về điều kiện kinh doanh, sản xuất và nhập khẩu ô tô chính thức có hiệu lực ngay lập tức đã tác động đến thị trường xe nhập khẩu. Với các quy định mới về tiêu chuẩn đối với xe nhập khẩu như: Bắt buộc phải có giấy chứng nhận kiểu loại (VTA); Kiểm tra theo lô thay vì theo mẫu xe như trước… đã khiến xe nhập khẩu phải tự nâng cao các điều kiện để bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng cũng như tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn với xe lắp ráp trong nước.

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Trần Quang Hà, Phó vụ trưởng Vụ KHCN (Bộ GTVT) khẳng định, các quy định đối với ô tô nhập khẩu tại Nghị định 116 và Thông tư 03 là nhằm mục đích đảm bảo chất lượng, nguồn gốc xuất xứ đối với ô tô nhập khẩu về Việt Nam, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng cũng như sự bình đẳng giữa ô tô sản xuất lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu chứ không phải là lập hàng rào để làm khó xe nhập khẩu, tạo lợi thế cho xe sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận, với những hàng rào kỹ thuật đối với xe nhập khẩu đã mở ra những cơ hội cạnh tranh tốt hơn giữa xe nội với xe ngoại, nhất là trong bối cảnh thuế nhập khẩu ô tô từ ASEAN về mức 0% theo Hiệp định Thương mại ATIGA. Các quy định mới đã khiến xe nhập khẩu phải định hình lại cuộc chơi và buộc phải tính toán kỹ hơn các phương án nhập khẩu xe để đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Các chính sách mới cũng được coi là cơ hội cho các doanh nghiệp có tâm huyết phát triển công nghiệp ô tô yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao tỷ lệ nội địa hoá.

Thực tế, trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô tại VN hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đều vừa sản xuất, lắp rắp đồng thời cũng là nhà nhập khẩu ô tô. Chính vì vậy, theo nhận định, với cơ cấu doanh nghiệp như vậy, các doanh nghiệp sẽ rất linh hoạt trong việc điều chỉnh chiến lược của mình. Nếu thấy mảng lắp ráp thuận lợi thì sẽ đẩy mạnh sản xuất trong nước, ngược lại sẽ chuyển sang nhập khẩu nguyên chiếc.

Tuy nhiên, đến cuối năm 2018 gần như tất cả các hãng đã lo xong thủ tục nhập khẩu ô tô về Việt Nam. Nên sang năm 2019, lợi thế bán hàng của các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ mất dần.

Ô tô Việt tìm đường xuất khẩu

Là doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô lớn nhất Việt Nam hiện nay, ông Trần Bá Dương, Chủ tịch THACOTrường Hải mới đây cho biết, bước vào giai đoạn hội nhập ASEAN doanh nghiệp này đã chủ động nắm bắt cơ hội và từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm ô tô, từng bước xuất khẩu xe.

Cụ thể, hiện nay xe buýt của THACO chiếm hơn 70% thị trường Việt Nam. Thời gian tới THACO sẽ ký kết với Mercedes, Volvo để sản xuất xe bán tại thị trường Việt Nam và xuất qua ASEAN nhằm tận dụng thuế suất ưu đãi 0%. Trong tháng 1/2019, THACO bắt đầu xuất khẩu xe buýt sang thị trường Thái Lan, Philippines. Đối với xe tải trung cấp, THACO cũng đang chiếm 40% thị phần tại Việt Nam và sẽ được xuất khẩu sang các nước ASEAN với tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%.

“Trong giai đoạn tới đây, chúng tôi cũng đang nỗ lực để nâng tỷ lệ nội địa hóa của xe con (Kia, Mazda) lên 40%, xuất khẩu sang các nước có tay lái thuận trong ASEAN”, ông Dương cho biết thêm.

Kể từ năm 2018, Hyundai Thành Công (HTC) cũng đã chuyển hoàn toàn sang sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước với tỷ lệ nội địa hóa đạt trung bình 12 – 14%. Mục tiêu của nhà sản xuất này đến năm 2019 đạt tỷ lệ nội địa hóa 40% và trở thành trung tâm sản xuất các sản phẩm ô tô Hyundai trong khu vực. Ông Lê Ngọc Đức, Tổng giám đốc HTC cho biết, Nhà máy Ô tô Hyundai thứ 2 đang được gấp rút xây dựng không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước mà còn hướng tới xuất khẩu, trở thành trung tâm sản xuất của Hyundai trong khu vực Đông Nam Á. Cùng với đó, HTC cũng đã và đang nỗ lực mở rộng mạng lưới các doanh nghiệp phụ trợ nhằm cung cấp phụ tùng linh kiện, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm.

Toyota Việt Nam (TMV) cũng đang đẩy mạnh việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Điều này thể hiện rõ nhất thông qua mẫu xe Toyota Vios 2018 ra mắt hồi tháng 8/2018 vừa qua. Tại lễ ra mắt, ông Toru Kinoshita, Tổng giám đốc TMV chia sẻ: “Trên Toyota Vios, mẫu xe CKD chiến lược của TMV, số lượng phụ tùng trong nước đã tăng gấp 3 lần so với thế hệ cũ, từ 51 phụ tùng lên 151 phụ tùng. Hiện tại, về số lượng nhà cung cấp đã tăng lên 29 nhà cung cấp với trên 400 sản phẩm, trong đó có 4 nhà cung cấp Việt Nam”.

Ngọc Anh

Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng cao, giá USD vẫn giảm ‘vượt đáy’

Phiên giao dịch sáng nay, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng cao kỷ lục. Cạnh đó, giá vàng miếng cũng tăng nhẹ, giá USD vẫn tiếp đà giảm mạnh.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Mở cửa lúc 8h30 sáng 28/12, giá vàng miếng trong nước được Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức mức 36,35 – 36,45 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá  này giảm 10.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 40.000 đồng/USD  ở chiều bán ra so với  phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Công ty Phú Quý niêm yết vàng miếng SJC với mức giá 36,34 – 36,44  triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giữ nguyên mức tăng 70.000 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra từ phiên giao dịch ngày 26/12. Vàng 24K niêm yết ở mức 35,60 – 36,20 triệu đồng/lượng, không có thay đổi  so với phiến giao dịch hôm qua 27/12.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,31 – 36,49  triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này tăng 30.000 đồng/lượng  ở cả hai chiều mua vào – bán ra  so với phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Sáng ngày 28/12, giá vàng thế giới ở mức 1276.8 – 1277.3  USD/ounce (mua vào – bán ra), giảm 6,6 USD/ounce  ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Trên thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ áp dụng ngày 28/12 là 22.825 VND, tăng 20 đồng  so với phiên phiên giao dịch ngày 27/12.

Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng cao trong sáng nay, đạt 22.825 đồng, mức cao nhất cho đến thời điểm hiện tại. Cạnh đó, USD giao dịch tại các ngân hàng thương mại vẫn giảm mạnh trong phiên hôm nay.

Cụ thể, Ngân hàng Tiên Phong niêm yết giá USD ở mức 23.155 – 23.265 đồng/USD, giảm 1 đồng/USD ở chiều mua vào và giảm 5 đồng/USD ở chiều bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Giá USD tại ngân hàng Vietcombank (hội sở chính) được mức niêm yết với mức 23.165 – 23.255 đồng/USD,  giảm 15 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua ngày 27/12.

Cùng với đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) niêm yết  giá giao dịch USD ở mức 23.165 – 23.255  đồng/USD, cũng  giảm 25 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Sáng nay, giá vàng thế giới tiếp tục tăng cao lên mức 1277 USD, mức cao nhất trong vòng hai tháng qua. Cạnh đó, thị trường USD lại lao dốc, khi giá giao dịch trong sáng tiếp tục giảm mạnh.

Giá vàng tiếp tục tăng, dự báo rủi ro gia tăng

Sáng nay (28/12), giá vàng thế giới và trong nước tiếp tục tăng. Chuyên gia khuyến cáo giá vàng vẫn còn dư địa tăng, bởi kinh tế dự báo chậm phát triển vào năm 2019 ở nhiều khu vực, rủi ro rình rập.

  • Giá vàng tăng sau ngày Lễ tặng quà, nhu cầu đầu tư trên thế giới ấm dần

Mở cửa phiên giao dịch sáng nay, tại thị trường châu Á, lúc 8 giờ 30 giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 1.278 USD/oz, tăng nhẹ hơn 9 USD/oz so với giao dịch cùng thời điểm này sáng qua, tăng thêm hơn 4 USD so với chốt phiên tại thị trường Mỹ trước đó vài giờ.
Cùng thời điểm, thị trường vàng trong nước cũng tăng giá so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá vàng SJC trên thị trường tự do TP Hồ Chí Minh giao dịch quanh mức 36,32 – 36,5 triệu đồng/lượng. Cùng thời điểm, giá vàng SJC trên thị trường tự do TP Hà Nội và Đà Nẵng giao dịch quanh mức 36,32 – 36,52 triệu đồng/lượng. Các thị trường trên đều tăng 50.000 đồng/lượng so với chốt phiên hôm qua. Chênh lệch mua – bán 180.000 – 200.000 đồng/lượng.
Tập đoàn Doji cùng thời điểm trên niêm yết giá vàng SJC ở quanh mức 36,38 – 36,48 triệu đồng/lượng, tăng 50.000 đồng/lượng so với chốt phiên trước, chênh lệch 100.000 đồng/lượng.
Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng SJC ở quanh mức 36,37 – 36,47 triệu đồng/lượng, cũng tăng 50.000 đồng/lượng so với chốt phiên trước, chênh lệch 100.000 đồng/lượng.
Vàng nhẫn hôm nay cũng được các DN tăng 50.000 đồng/lượng so với mức chốt phiên hôm qua. Cụ thể, nhẫn phú quý 24K được Công ty Phú Quý niêm yết mua – bán ở mức 35,8 -36,2 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa 2 chiều mua bán 400.000 đồng/lượng.
Công ty CPĐT và kinh doanh vàng Việt Nam cũng niêm yết giá vàng nhẫn VIETNAMGOLD mua – bán ở mức 35,8 -36,2 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa 2 chiều mua bán 400.000 đồng/lượng.
Nhận định của các chuyên gia, giá vàng vẫn đang được hỗ trợ mạnh bởi bất ổn kinh tế, chính trị. Trong đó, 2 đảng tại Mỹ vẫn không có tiếng nói chung trong việc xây dựng bức tường với Mexico ngăn người nhập cư và một bộ phận Chính phủ chưa thể hoạt động.
Nga và Trung Quốc, dự báo kinh tế năm 2019 tăng trưởng chậm lại. Còn EU vướng vào bất ổn chính trị do dòng người nhập cư và Brexit.
Mỹ đang chuẩn bị công bố cấm các DN nước này nhập khẩu hàng của Huawei. Căng thẳng thương mại Mỹ – Trung chưa có hồi kết. Thị trường chứng khoán vẫn chao đảo, nhà đầu tư ngày càng tìm đến vàng nhiều hơn để dự trữ dòng vốn lúc rủi ro tăng cao. Chuyên gia cho rằng, vàng SJC vẫn đang ở mức giá thấp để mua vào đầu tư.
BÍCH HỜI

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018

Thế giới trong năm 2018 vừa qua đã “chao đảo” trước cuộc đối đầu giữa Mỹ với Trung Quốc, Nga và Iran, trong khi đó tình hình tại bán đảo Triều Tiên đã có những biến chuyển tích cực và nổi lên là các phong trào xã hội như #MeToo hay làn sóng biểu tình tại Pháp,…

Cuộc đối đầu Mỹ-Trung thu hút sự chú ý của cả thế giới trong năm 2018. Ảnh: UK Express

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung

Vào tháng 3/2018, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố sẽ áp dụng khoản thuế  50 tỷ USD cho khối hàng hóa của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ ( trị giá 250 tỷ USD).

“Khi mọi người hoặc các quốc gia đến cướp bóc sự thịnh vượng của quốc gia chúng ta, tôi muốn họ trả tiền cho đặc quyền làm việc đó. Nó sẽ luôn là cách tốt nhất để phát huy tối đa sức mạnh kinh tế của chúng ta. Chúng ta hiện đang nhận hàng tỷ USD từ thuế”, ông Trump tuyên bố.

Phía Bắc Kinh sau đó cũng tung ra đòn đáp trả và một số lời chỉ trích nhắm vào chủ nghĩa bảo hộ thương mại của Washington, tuy nhiên có thể nhận thấy Trung Quốc đang dần trở nên bất lợi và chịu những tác động tiêu cực trong cuộc đối đầu này. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chỉ đạt  mức thấp nhất kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009. Tháng 12 năm nay cũng là dịp kỷ niệm 40 năm công cuộc “Cải cách và Mở cửa” của quốc gia “tỷ dân” này, tuy nhiên các dấu hiệu tiêu cực về nền kinh tế cùng với căng thẳng gia tăng trong vụ bắt giữ CFO của Huawei – bà Mạnh Vãn Chu, đã khiến cho thỏa thuận “đình chiến 90 ngày” của lãnh đạo hai nước tại hội nghị G20 dường như trở nên vô nghĩa.

Tín hiệu tích cực từ Triều Tiên

Năm 2018 cũng chứng kiến những dấu hiệu tích cực tại khu vực Đông Bắc Á, khi nhà lãnh đạo Triều Tiên có những động thái “hạ nhiệt” trong quan hệ với Hàn Quốc và Mỹ.

Liên tiếp từ tháng 4 cho đến tháng 9, ông Kim Jong-un đã tham dự các cuộc hội nghị thượng đỉnh liên Triều, đặc biệt là vào tháng 6, hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều đã chính thức diễn ra, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử một nhà lãnh đạo Triều Tiên gặp mặt một Tổng thống Mỹ. Trong các cuộc gặp mặt lịch sử này, ông Kim đã cho thấy thiện chí của mình bằng cách chấp thuận từ bỏ một phần chương trình phát triển vũ khí hạt nhân và cam kết phi hạt nhân hóa để đổi lấy sự đảm bảo an ninh từ phía Mỹ và Hàn Quốc, cùng với đó là việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt nhằm tạo đà cải cách nền kinh tế Triều Tiên.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 1

Cái bắt tay lịch sử giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên. Ảnh: IPD

Sau hàng loạt các lời đe dọa và các động thái căng thẳng trong năm 2017, những cuộc gặp mặt cấp cao của giới lãnh đạo Mỹ-Hàn-Triều đã giúp cho khu vực Đông Bắc Á không còn là “điểm nóng xung đột” của thế giới. Một khi những mối nghi ngại về an ninh được xóa bỏ, thì kỷ nguyên hợp tác giữa hai miền Triều Tiên sẽ sớm trở thành hiện thực trong năm 2019.

Phong trào #MeToo trở thành hiện tượng toàn cầu

Xuất hiện vào năm ngoái ở Mỹ, sau những cáo buộc lạm dụng tình dục đối với nhà sản xuất phim nổi tiếng Harvey Weinstein. Năm 2018, phong trào lan ra toàn cầu khi hàng triệu người đã đứng lên chia sẻ câu chuyện của mình.

Các phiên bản của #MeToo đã trở nên rất phổ biến trên mạng xã hội, ở Italia phong trào được dịch thành #QuellaVoltaChe, ở Tây Ban Nha là #YoTambien, ở Pháp  #BalanceTonPorc . Theo phân tích từ Google, cụm từ #MeToo và các biến thể của nó nằm trong top từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên toàn thế giới.

Đặc biệt, Giải thưởng Nobel Hòa bình 2018 đã được trao cho bác sĩ người Congo, Denis Mukwege và Nadia Murad – nữ nô lệ tình dục sống sót trong hang ổ của tổ chức khủng bố IS, “cho những nỗ lực của họ trong việc chấm dứt hành vi bạo lực tình dục”.

Phong trào #MeToo đã đạt được những thành công nhất định tại các quốc gia và khu vực khác nhau. Tuy nhiên, câu hỏi hiện nay là liệu phong trào #MeToo sẽ tạo ra hiệu quả lâu dài hay sẽ chìm dần vào quên lãng như một số phong trào xã hội khác. Để điều đó xảy ra, chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức và quan trọng nhất, mọi người sẽ cần phải thay đổi nhận thức của mình về nạn lạm dụng tình dục.

Câu chuyện Brexit vẫn chưa có hồi kết

Suốt năm qua, nữ Thủ tướng Anh Theresa May trở thành tâm điểm chỉ trích của chính giới Anh và các quan chức EU khi bà không thể dàn xếp ổn thỏa các  thỏa thuận rời Liên minh châu Âu của Vương quốc Anh.  Mùa hè năm 2018 chứng kiến biến động lớn trong nội các Anh, khi lần lượt Ngoại trưởng Boris Johnson và Bộ trưởng Brexit David Davis đồng loạt tuyên bố từ chức – động thái nhằm phản đối các điều khoản trong bản kế hoạch của Thủ tướng May. Thủ tướng May cũng đáp trả rằng một số thành viên trong Quốc hội đang tìm cách phá hỏng Brexit, đồng thời nói rõ bà không nghĩ rằng một cuộc trưng cầu ý dân khác về Brexit là đúng đắn.

Cho đến tận tháng 12, bản kế hoạch Brexit của bà May vẫn chưa được Quốc hội thông qua (theo kế hoạch là vào ngày 11/12) mặc cho thời hạn nước Anh rời khỏi EU là vào ngày 29/3. Không chỉ vậy, Thủ tướng Anh còn phải đối mặt với một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm trong nội bộ Đảng Bảo Thủ của mình, tuy nhiên bà May đã “sống sót” và phải tìm đường đàm phán với các lãnh đạo EU nhằm đưa ra một bản thỏa thuận hợp lý nhất.

Phía châu Âu vẫn nhất quyết đưa ra quan điểm về việc sẽ không có thêm một điều khoản nào được thêm vào bản kế hoạch, nếu không có gì thay đổi trong đầu năm tới, rất có thể nước Anh sẽ rời EU mà không có bất cứ một thỏa thuận nào – viễn cảnh mà chính quyền bà May xem như “cơn ác mộng”.

Cuộc khủng hoảng nhân đạo tại Trung Mỹ và Yemen

Cuộc nội chiến ở Yemen giữa phe chính phủ và phiến quân Houthi đã bước sang năm thứ tư và là tác nhân gây ra cuộc khủng hoảng nhân đạo trầm trọng nhất trên thế giới hiện nay.

Có đến mười 14.000 người Yemen đã chết trong các trận giao tranh và hơn 50.000 người đã chết vì nạn đói do chiến tranh gây ra. Những bức ảnh kinh hoàng của những đứa trẻ Yemen hốc hác vẫn chưa đủ sức thuyết phục được hai bên đặt vũ khí xuống.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 2

Lực lượng biên phòng Mỹ đã phải sử dụng hơi cay để trấn áp đám đông có ý định đột nhập trái phép. Ảnh: Reuters

Còn tại Trung Mỹ, tháng 10 vừa qua chứng kiến làn sóng di dân rất lớn tới các nước như Mexico và Mỹ, những đoàn đi dân hàng nghìn người đi bộ tới biên giới Mỹ-Mexico với hy vọng có thể xin được tị nạn tại những “miền đất hứa”, do bối cảnh chính trị, xã hội ở quê nhà hiện lâm vào khủng hoảng  đã không cho phép họ sinh sống như trước.

Hiện đã có tổng cộng hơn 8.600 người tị nạn tới từ Trung Mỹ đang trú ẩn tại thành phố Tijuana của Mexico, động thái này đã gây ra những sự xáo trộn lớn cho cuộc sống của những người dân địa phương. Sau các cuộc đụng độ với cảnh sát Mexico hoặc thậm chí là lực lượng biên phòng Mỹ, đoàn người tị nạn hiện vẫn còn đang mắc kẹt trong các trung tâm trú ẩn ở Mexico với điều kiện sinh hoạt tạm bợ cùng với đó là một “Giấc mơ Mỹ” hết sức mông lung trước mắt.

Mỹ tuyên bố rút khỏi các JCPOA và INF

Khi thông báo hôm 8/5 rằng Mỹ sẽ rút khỏi Kế hoạch Hành động Chung Toàn diện (JCPOA) và tái áp đặt các lệnh cấm vận kinh tế với Iran cũng như những công ty làm ăn với quốc gia này, ông Trump đang cho thấy mong muốn tái đàm phán song phương các thỏa thuận của chính quyền Obama, mặc cho các lời chỉ trích của đồng minh phương Tây và Iran.

Bằng cách xé bỏ thỏa thuận hạt nhân này, Mỹ muốn đặt lại chiếc “vòng kim cô” cấm vận, nhằm xiết chặt nền kinh tế Iran trước sự lo ngại của các đồng minh lâu năm là Arab Saudi và Israel về sự trỗi dậy của Iran trong khu vực.

Chưa hết bất ngờ, vào ngày 20/10, ông Trump tiếp tục tuyên bố sẽ rút Mỹ ra khỏi Hiệp ước Các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) được ký kết vào năm 1987 với Nga và cáo buộc nước này đã “vi phạm thỏa thuận trong nhiều năm qua”. Điều này khiến phương Tây và Nga dấy lên quan ngại về một cuộc chạy đua vũ trang tiếp theo sắp sửa nổ ra.

“Chúng tôi sẽ không để họ vi phạm thỏa thuận hạt nhân, vượt rào và chế tạo vũ khí trong khi chúng tôi không được phép”, ông Donald Trump nói.

Lý giải cho quyết định này, học giả Trung Quốc Yang Danzhi từ Trung tâm Nghiên cứu về an ninh khu vực thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã hội Trung Quốc, Mỹ đã xác định Nga và Trung Quốc là các đối thủ chiến lược lớn của nước này: “Xuất phát từ những mâu thuẫn về kinh tế và an ninh, Mỹ đang xem Trung Quốc là địch thủ. Bằng cách sử dụng thông điệp chống Trung Quốc làm cái cớ, Mỹ đang cố gắng từ bỏ tất cả các giới hạn liên quan đến việc kiểm soát an ninh và cuộc chạy đua vũ trang”.

Một năm tang thương đối với Indonesia

Vào ngày 28/9 năm 2018, một trận động đất xảy ra ở phần eo của bán đảo Minahassa, Indonesia, với chấn tâm của nó ở huyện miền núi Donggala,  tỉnh Trung Sulawesi, trận động đất nằm cách tỉnh lỵ Palu 77 km (48 dặm). Ngay sau đó, một cơn sóng thần cục bộ sau đó tấn công Palu, cuốn đi các ngôi nhà và tòa nhà ven biển nằm trên đường đi của nó, giết chết ít nhất 1203 và làm bị thương 540 người, hơn 100 người vẫn còn mất tích.

Sau thảm họa kép động đất và sóng thần, người dân Indonesia tiếp tục trải qua nỗi đau khi chiếc máy bay Boeing 737 MAX 8 mang số hiệu JT 610 của hãng hàng không Lion Air đã rơi xuống biển Java chỉ 13 phút sau khi cất cánh từ thủ đô   Jakarta để tới Pangkal Pinang vào sang 29/10. Toàn bộ 189 người trên máy bay (181 hành khách  cùng 8 phi hành đoàn) đều đã được thông báo thiệt mạng sau vụ tai nạn.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 3

Người dân Indonesia liên tiếp phải hứng chịu các thảm họa thiên nhiên trong năm 2018. Ảnh: The New York Times.

Tới những ngày cuối năm, Indonesia tiếp tục phải hứng chịu tổn thất sau khi một cơn sóng thần quét qua bãi biển các đảo Java và Sumatra hôm 22/12. Thống kế tới ngày 26/12 cho thấy đã có 429 người thiệt mạng, với 1.485 người bị thương và 154 người khác vẫn mất tích.

Mỹ rút quân khỏi Syria và Afghanistan

Vào dịp Giáng sinh vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đột ngột đưa ra quyết định rút toàn bộ lực lượng quân đội Mỹ (2000 binh sĩ) đang đồn trú tại Syria và dự kiến tiếp tục rút 7000 quân khỏi Afghanistan, sau khi tuyên bố Mỹ đã chiến thắng tổ chức khủng bố IS. Động thái này đã gây ra sóng gió trên chính trường Mỹ, khi ngay sau đó Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis tuyên bố chính thức nghỉ hưu do “bất đồng quan điểm với Tổng thống Trump” và điều này sẽ cho thấy sự “bỏ mặc” của Mỹ đối với các đồng minh trong khu vực.

Ngay sau khi lá thư từ chức của ông Mattis xuất hiện “rầm rộ” trên truyền thông, Tổng thống Trump đã tỏ ra rất giận dữ và tuyên bố bổ nhiệm Thứ tưởng Patrick Shanahan sẽ trở thành quyền Bộ trưởng bắt đầu từ ngày 1/1 năm 2019, qua đó chính thức sa thải Bộ trưởng Mattis sớm hơn 2 tháng so với dự định ban đầu.

Bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ

Tháng 11 năm 2018 chứng kiến một cuộc chạy đua cho các vị trí trong hệ thống lưỡng viện của Mỹ, với 35/100 ghế tại Thượng viện và toàn bộ 435 ghế ở Hạ viện sẽ được bầu lại. Kết thúc chiến dịch, đảng Cộng hòa vẫn cho thấy sự vượt trội khi thành công trong việc kiểm soát Thượng viện còn đảng Dân chủ giành lại Hạ viện sau 8 năm.

Tổng thống Mỹ Donald Trump nhìn nhận kết quả cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ là một thành công qua dòng thông báo ngắn gọn: “Chiến thắng kỳ vĩ vào tối nay. Cảm ơn tất cả”.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 4

Tổng thống Trump vẫn hết sức lạc quan sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Ảnh: New York Post

Với việc mỗi đảng kiểm soát một viện, điều này sẽ phân chia các cơ quan lập pháp của Mỹ và gây cản trở cho việc thực thi chính sách của Tổng thống Donald Trump trong hai năm tới. Tuy vậy, điều này sẽ không có quá nhiều ảnh hưởng tới tham vọng chinh phục cuộc bầu cử Tổng thống vào năm 2020, khi mức độ ủng hộ của ông Trump tại Thượng viện và các bang quan trọng đã được củng cố sau cuộc bầu cử.

Phong trào biểu tình “Áo vàng”

Bắt đầu nổ ra vào ngày 17/11 tại một số vùng nông thôn Pháp rồi lan nhanh tới các vùng đô thị, người dân Pháp đã đổ ra các đường và mặc chiếc áo phản quang màu vàng – thứ mà mỗi tài xế bắt buộc phải có ở trên xe, để phản đối chính sách tăng thuế nhiên liệu của chính quyền Tổng thống Macron sẽ có hiệu lực vào năm 2019.

Tình trạng bất ổn kéo dài do các cuộc đụng độ giữa phe áo vàng và cảnh sát đã khiến tổng cộng 1.843 thường dân và 1.048 nhân viên thực thi pháp luật đã bị thương, trong đó có 3 người thiệt mạng.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 5

Tình trạng bất ổn kéo dài khiến tình hình nước Pháp vào cuối năm 2018 trở nên hết sức căng thẳng. Ảnh: The Daily Star

Tình trạng bạo lực và bất ổn diễn ra liên tiếp tại nước Pháp vào các dịp cuối tuần khiến nước này thiệt hại hàng triệu USD, chính phủ Pháp sau đó đã có những động thái “nhân nhượng” với người biểu tình như tăng lương cơ bản, cắt bỏ chính sách thuế nhiên liệu,…thế nhưng vẫn chưa có dấu hiệu các cuộc biểu tình sẽ chấm dứt.

Đáng chú ý, người dân tại các nước lân cận như Bỉ, Hà Lan, hoặc chí là ở Canada hay Đài Loan cũng đổ ra đường biểu tình với biểu tượng là chiếc áo vàng, để phản đối các chính sách tăng thuế của chính phủ, tuy nhiên chỉ ở Pháp, phong trào “áo vàng” mới thực sự nhuốm màu bạo lực.

Sự kiện lớn chuẩn bị cho năm bứt phá 2019

Ngày mai 28/12, Hội nghị toàn quốc Chính phủ với các địa phương sẽ khai mạc và dự kiến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sẽ dự, phát biểu chỉ đạo tại sự kiện lớn có ý nghĩa quan trọng này.

Dù tăng trưởng cao, Việt Nam vẫn duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô.
Diễn ra ngay sau phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 27/12 và ngay trước thềm năm mới, Hội nghị nhằm triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, sau một năm 2018 đạt những kết quả toàn diện trên tất cả các lĩnh vực dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, cùng sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước.

Trong đó, kết quả nổi bật, bao trùm là tăng trưởng GDP đạt mức kỷ lục, ước đạt 7%, cao nhất trong 10 năm qua và cũng cao hơn mọi dự báo. Nhiều kỷ lục khác cũng được xác lập, như về dự trữ ngoại hối, xuất khẩu, xuất siêu… Đáng lưu ý, dù tăng trưởng cao, Việt Nam vẫn duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô với việc giữ được mục tiêu CPI, thâm hụt ngân sách giảm, thị trường chứng khoán ổn định.

Với kết quả đạt được của năm bản lề 2018, tình hình đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong 3 năm 2016 – 2018 phát triển đúng hướng, chuyển biến rõ nét hơn giai đoạn trước.

Theo đó, quy mô nền kinh tế gấp 1,3 lần, GDP bình quân đầu người tăng 440 USD so với đầu nhiệm kỳ; đời sống của người dân không ngừng được cải thiện. Dự báo chúng ta sẽ đạt được các mục tiêu kế hoạch 5 năm 2016 – 2020 mà Nghị quyết Đại hội Đảng XII và Nghị quyết của Quốc hội đã đề ra, trong đó đến nay đã có 11 chỉ tiêu đạt và vượt.

Triển khai nhiệm vụ năm 2019, Chính phủ đã xác định tinh thần đột phá, dám nghĩ, dám làm, đổi mới, sáng tạo, quyết liệt, hành động, phục vụ nhân dân, thể hiện khát vọng vươn lên mạnh mẽ và tạo sức lan tỏa về khát vọng Việt Nam hùng cường tới cộng đồng doanh nghiệp và từng người dân; đồng thời đề xuất, xác định giải pháp trọng tâm trong năm 2019 gắn với các chỉ tiêu phấn đấu cụ thể, cao hơn năm 2018.

Chính phủ cũng đã xác định các nhóm giải pháp lớn cho năm 2019: Tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô, kiểm soát lạm phát, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; thực hiện đồng bộ, quyết liệt các đột phá chiến lược; tạo chuyển biến rõ nét trong cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Cùng với đó, phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; chấn chỉnh công tác quản lý tài nguyên, môi trường; chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu.

Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính; tăng cường công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết liệt phòng chống tham nhũng, lãng phí.

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; bảo đảm trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; làm tốt hơn nữa công tác thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội, tạo niềm tin và khát vọng dân tộc.

Việc triển khai các nhiệm vụ năm 2019 có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chủ trì các cuộc họp về xây dựng Nghị quyết 01 – nghị quyết mang tính “xương sống” cho năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh tinh thần “bứt phá” trong năm 2019 – năm có vai trò bản lề, nước rút cho việc thực hiện Kế hoạch 5 năm 2016-2020 và cả Chiến lược 10 năm 2011-2020.

Không chỉ có vậy, tại nhiều sự kiện gần đây, Người đứng đầu Chính phủ đã đề câp tới mục tiêu, tầm nhìn dài hạn hơn.  Theo đó, với tốc độ tăng trưởng tương tự như mức tăng trung bình của 3 thập niên qua thì đến năm 2045- mốc lịch sử 100 năm nước nhà được độc lập (1945 – 2045), quy mô GDP nước ta ước tính sẽ đạt mức khoảng 2.500 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người khoảng gần 18.000 USD.

Yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy, cách nghĩ cách làm,  tạo quyết tâm của toàn bộ hệ thống chính trị, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện tốt mọi chủ trương đường lối của Đảng.  Điều này càng trở nên cấp bách khi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nền kinh tế chúng ta đã và đang hội nhập sâu rộng ở mức độ chưa từng có.

Yêu cầu đổi mới tư duy và nhận thức càng cấp bách khi làn sóng công nghệ đột phá ra đời và đang lan rộng toàn cầu, trở thành trào lưu cách mạng, các quốc gia thu nhập trung bình nếu biết tận dụng thời cơ, tiếp cận công nghệ mới sẽ sớm vượt qua được ranh giới trình độ phát triển, thu hẹp hố ngăn cách giàu nghèo. Theo Thủ tướng, Việt Nam đang ở giai đoạn cần có xung lực mới cho phát triển, chúng ta không thể đứng ngoài cuộc và cũng không được phép đi sau trong thời đại cách mạng công nghiệp này.

Phát biểu trước Quốc hội, Thủ tướng cũng đã so sánh: “Một đàn chim muốn bay nhanh không chỉ do con chim đầu đàn quyết định mà còn phụ thuộc vào con chim cuối đàn”. Đồng thời, “đàn chim sẽ bay nhanh hơn rất nhiều nếu mọi con chim cuối đàn đều có chung khát vọng, vượt lên chính mình, bay nhanh hơn nữa để có cơ hội gia nhập vào nhóm đầu đàn”. Đối với đất nước ta, nếu tất cả 63 tỉnh thành, các bộ, ngành và toàn bộ hệ thống chính trị cùng chung khát vọng đó, trong mọi hoàn cảnh, trên từng chặng đường phát triển của đất nước thì chắc chắn Việt Nam sẽ tiến một bước rất dài đến con đường thịnh vượng, sánh vai được với các cường quốc năm châu.

Khi được Quốc hội bầu giữ chức vụ Người đứng đầu Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế như ngày nay; nhưng đất nước cũng đang đứng trước những khó khăn rất lớn, tình hình thế giới diễn biến không thể lường hết được; chúng ta vui mừng với những thành tựu, kết quả to lớn nhưng tuyệt nhiên không được chủ quan, tự mãn, không được quá say sưa với thắng lợi, ngủ quên trên vòng nguyệt quế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhắc tới yêu cầu cần phải phối hợp chặt chẽ, đoàn kết thống nhất cao.

Diễn ra ngay trước thềm năm mới, Hội nghị Chính phủ với các địa phương là sự kiện quan trọng để điểm lại những thành tựu, kết quả, khó khăn, hạn chế, rút ra các bài học kinh nghiệm, xác định và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp năm 2019.

Với tinh thần không chủ quan, tự mãn, đánh giá đúng tình hình, tăng cường thống nhất, quyết tâm cao, hành động quyết liệt, Hội nghị sẽ góp phần lan tỏa khí thế mới, quyết tâm mới tới mọi cấp, mọi ngành để triển khai các nhiệm vụ ngay từ ngày đầu, tháng đầu trong một năm bứt phá, từ đó hiện thực hóa các khát vọng phát triển.

Hà Chính

Xuất nhập khẩu 2018 đạt trên 482 tỷ USD, xuất siêu 7,2 tỷ USD

Trong năm 2018 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và có tới 36 mặt hàng trong nhóm nhập khẩu “tỷ đô” đây là những con số được Tổng cục Thống kê thông tin tại buổi họp báo Công bố số liệu tình hình kinh tế- xã hội năm 2018 được tổ chức chiều nay 27/12.

Năm 2018 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và có tới 36 mặt hàng trong nhóm nhập khẩu “tỷ đô”. Ảnh: Nguyễn Hà

Theo đó, về xuất khẩu hàng hóa, tính chung cả năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 69,20 tỷ USD, tăng 15,9%, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 175,52 tỷ USD, tăng 12,9%, chiếm 71,7%. Tỷ lệ này giảm 0,6 điểm phần trăm so với năm 2017. Loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 tăng 12,7% so với năm 2017.

Trong năm 2018 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó 9 mặt hàng đạt trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD.

Cụ thể như: Điện thoại và linh kiện đạt 50 tỷ USD, tăng 10,5%; hàng dệt may đạt 30,4 tỷ USD, tăng 16,6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 29,4 tỷ USD, tăng 13,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 16,5 tỷ USD, tăng 28%; giày dép đạt 16,3 tỷ USD, tăng 11%.

Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực chủ yếu vẫn thuộc về khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,7%; điện tử, máy tính và linh kiện 95,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 89,1%; hàng dệt may 59,9%.

Tuy nhiên, theo Tổng cục Thống kê, xuất khẩu dầu thô tính chung cả năm 2018 tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với năm trước. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 2,3 tỷ USD, giảm 21,2% và giảm 39,5% về lượng.

Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu cả năm 2018 ước tính đạt 237,51 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm trước. Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 94,80 tỷ USD, tăng 11,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 142,71 tỷ USD, tăng 11,6%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu cả năm tăng 9,5% so với năm 2017.

Trong năm 2018 có 36 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 90,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó có 4 mặt hàng trên 10 tỷ USD.

Nhiều mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công, lắp ráp trong nước có kim ngạch tăng so với năm trước, cụ thể như: điện tử, máy tính và linh kiện đạt 42,5 tỷ USD, tăng 12,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 33,7 tỷ USD, giảm 0,5%; điện thoại và linh kiện đạt 16 tỷ USD, giảm 2,6%…

Cán cân thương mại cả năm 2018 tiếp tục xuất siêu 7,2 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,6 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 32,8 tỷ USD.

Năm 2018, khu vực kinh tế trong nước chuyển biến tích cực khi đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên so với năm 2017.

H.Anh

GDP năm 2018 tăng 7,08%, cao nhất trong 10 năm

GDP quý 4/2018 ước tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm GDP cả năm 2018 tăng 7,08%…

GDP năm 2018 tăng cao nhất kể từ năm 2011 trở về đây.

Trong mức tăng chung của GDP năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng cao nhất với 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung.

Số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê cho biết, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 4/2018 ước tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,65% và khu vực dịch vụ tăng 7,61%.

Mặc dù tăng trưởng quý 4/2018 thấp hơn tốc độ tăng trưởng quý 4/2017 nhưng cao hơn tăng trưởng quý 4 của các năm 2011-2016.

Còn xét về góc độ sử dụng GDP quý 4/2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,51% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 9,06%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 10,69% và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 9,50%.

Tính chung, GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6% và khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7%.

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,98%.

Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% so với năm 2017; tích lũy tài sản tăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2018, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 43,5%, bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 43,29%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011-2015.

Hiệu quả đầu tư được cải thiện với nhiều năng lực sản xuất mới bổ sung cho nền kinh tế. Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ mức 6,42 năm 2016 xuống 6,11 năm 2017 và 5,97 năm 2018, bình quân giai đoạn 2016-2018 hệ số ICOR ở mức 6,17, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015.

DUYÊN DUYÊN

Tỷ giá ngoại tệ ngày 26/12: USD sụt giảm nhanh

Tỷ giá ngoại tệ ngày 26/12 diễn biến theo xu hướng đồng USD trên thị trường quốc tế chốt ở mức thấp trước kỳ nghỉ lễ tết, trong khi USD trên thị trường tự do sụt giảm nhanh.

Ngày 26/12 Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ ở mức: 22.795 đồng (tăng 5 đồng). Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 22.700 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.424 đồng (không đổi).

Đầu giờ sáng 26/12, một số ngân hàng thương mại tăng tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ hôm nay thêm 5 đồng so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.235 đồng (mua) và 23.325 đồng (bán).

Vietcombank và BIDV niêm yết tỷ giá ở mức: 23.230 đồng (mua) và 23.320 đồng (bán). Vietibank: 23.235 đồng (mua) và 23.325 đồng (bán). ACB: 23.240 đồng (mua) và 23.320 đồng (bán).

Đầu phiên giao dịch ngày 26/12 (giờ Việt Nam), trên thị trường thế giới, tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 96,51 điểm trước khi nghỉ lễ.

Chốt đợt nghỉ lễ, USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1400 USD; 110,33 yen đổi 1 USD  và 1,2700 USD đổi 1 bảng Anh.

Đêm qua, đồng USD trên thị trường quốc tế đứng ở mức thấp, trong khi USD trên thị trường tự do sụt giảm nhanh.

Đồng USD đứng ở mức thấp và có dấu hiệu sẽ còn suy yếu sau khi Mỹ công bố tăng trưởng kinh tế không được như kỳ vọng và chính quyền tổng thống Donald Trump đang gặp rất nhiều khó khăn, bao gồm việc phải ngừng hoạt động qua kỳ nghỉ Giáng sinh sau khi các cuộc đàm phán về dự luật ngân sách giữa các thượng nghị sĩ đảng Dân chủ và Nhà Trắng liên quan tới việc xây dựng bức tường dọc biên giới với Mexico không đạt kết quả.

Tỷ giá ngoại tệ ngày 26/12: USD sụt giảm nhanh
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay: USD chốt ở mức thấp trước kỳ lễ.

Những lời đồn đoán về việctTổng thống Mỹ Donald Trump có thể sa thải Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powel cũng tác động mạnh tới nhà đầu tư.

Trong quý 3, nền kinh tế Mỹ ghi nhận mức tăng trưởng thấp hơn so với ước tính trước đó và đà tăng trưởng được dự báo sẽ tiếp tục giảm trong quý 4 năm nay, với việc các đơn hàng mới và các lô hàng xuất khẩu giảm trong tháng 11/2018.

Đồng USD suy yếu còn do triển vọng của đồng tiền này kém sáng sủa sau khi Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) cho biết sẽ “kiên nhẫn – patient” trong việc quyết định các lần tăng lãi suất trong tương lai.

Hàng loạt các dự báo cho thấy nhiều khả năng Fed sẽ chỉ có 2 lần tăng lãi suất trong năm 2019, thay vì 3 lần như trước đó. Tốc độ tăng lãi suất chậm lại khiến đồng USD mất cơ hội tăng so với các đồng tiền khác.

Trên thị trường trong nước phiên ngày 25/12, tỷ giá USD/VND ở một số ngân hàng không đổi so với phiên liền trước, phổ biến ở mức: 23.230 đồng/USD và 23.320 đồng/USD.

Tới cuối phiên 25/12, Vietcombank và BIDV niêm yết tỷ giá ở mức: 23.230 đồng/USD và 23.320 đồng/USD. Vietinbank: 23.231 đồng/USD và 23.321 đồng/USD. ACB: 23.240 đồng/USD và 23.320 đồng/USD.

Tính từ đầu năm, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 520-535 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.300 – 23.320 đồng/USD.

Chốt phiên giao dịch 25/12, tỷ giá Euro đứng ở mức: 26.356 đồng (mua) và 26.830 (bán). Tỷ giá Bảng Anh: 29.263 đồng (mua) và 29.732 (bán). Tỷ giá yên Nhật ở mức 205,1 đồng và bán ra ở mức 212,4 đồng.

V. Minh

TKV đặt mục tiêu doanh thu 128.000 tỷ đồng trong năm 2019

Mục tiêu của TKV là đạt tổng doanh thu 128.000 tỷ đồng năm 2019.

TKV đặt mục tiêu doanh thu 128.000 tỷ đồng trong năm 2019. Ảnh minh họa: TTXVN

Với mục tiêu “An toàn – đổi mới – phát triển”, ngày 26/12, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp kinh doanh và ký hợp đồng khai thác sàng tuyển than, khoáng sản năm 2019.

Mục tiêu của TKV là đạt tổng doanh thu 128.000 tỷ đồng năm 2019; trong đó, sản xuất than là gần 69.000 tỷ đồng.

Tập đoàn sẽ tập trung thực hiện các dự án đầu tư khai thác hầm lò. Năm 2019, Tập đoàn TKV phấn đấu khai thác khoảng 40 triệu tấn than nguyên khai, nhập khẩu khoảng 4,6 triệu tấn; tiêu thụ khoảng 42 triệu tấn, lượng than sạch tồn kho dự kiến đến 31/12/2019 gần 4 triệu tấn.

Để thực hiện các mục tiêu trên, TKV tiếp tục hoàn thiện quản lý tiêu thụ than đầu nguồn theo hướng tập trung, chuyên môn hóa các khâu vận chuyển và kho, cảng than; giao nhận và kinh doanh than. Tập đoàn giao chỉ tiêu nhập khẩu cho các công ty kinh doanh than cuối nguồn để đảm bảo nguồn cung cấp cho khách hàng.

TKV xây dựng phương án tiêu thụ than từ nguồn than vùng Hòn Gai, than pha trộn tại khu vực Cảng Làng Khánh để bán cho các nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Thăng Long và Xi măng Thăng Long; đồng thời, tăng cường quản trị tài nguyên, chất lượng sản phẩm, an toàn và bảo vệ môi trường; triển khai giải pháp cụ thể bảo vệ than tại các mỏ, vận chuyển, lưu kho và trong quá trình tiêu thụ (đặc biệt chống gian lận thương mại về chất lương, số lượng và chống thu gom trộm cắp than).

Liên quan đến việc xuất khẩu than, TKV tập trung sản xuất các chủng loại chất lượng cao để phục vụ thị trường tiêu thụ truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc…; đặt mục tiêu nâng tiền lương thu nhập bình quân người lao động đạt 11,3 triệu đồng/tháng, tăng 4,7 so với năm 2018.

Cùng ngày, TKV đã tổ chức ký hợp khai thác sàng tuyển than, khoáng sản năm 2019 với các công ty thành viên./.

Văn Đức/TTXVN

Xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 14,2%, đạt 43 tỷ USD

11 tháng đầu năm 2018, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với hơn 43 tỷ USD.

Mới đây, Tổng cục Hải quan cho biết kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng đột biến. Theo đó, tính hết tháng 11, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 43.455 tỷ USD, tăng 14,2%. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 19,4% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam

Hiện thị trường này là nhà nhập khẩu lớn nhất đối với nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam như dệt may, thủy sản, giày dép, máy móc, thiết bị…

Cụ thể từng ngành hàng, 11 tháng đầu năm, xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ đạt trị giá 12,45 tỷ USD, tăng 11,8% và chiếm tỷ trọng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước.

Ngoài ra, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 3,08 tỷ USD, tăng 39%. Riêng giày dép đạt 5,26 tỷ USD, tăng 14,5%. Mặt hàng thủy sản đạt 1,48 tỷ USD, tăng 14,3%. Mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,5 tỷ USD, tăng 18,4%…

HỒNG TRÂM