gioithieu
Trang chủ Tin tức

Tin tức

Bắt kịp thời đại “Thế giới phẳng 4.0” cho ngành sản xuất chế tạo tại Việt Nam

Nhằm giúp doanh nghiệp tự tin làm chủ công nghệ trước cuộc đổi mới của Cách mạng công nghệ 4.0, ngày 19/9/2019, tại Khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh sẽ diễn ra hội thảo chuyên đề: Bắt kịp thời đại “Thế giới phẳng 4.0” cho ngành sản xuất chế tạo tại Việt Nam.

Bắt kịp thời đại “Thế giới phẳng 4.0” cho ngành sản xuất chế tạo tại Việt Nam

Theo nguồn tin từ Báo Công Thương điện tử, Hội thảo là sự kiện khởi động trước thềm MTA Hanoi 2019 – Triển lãm quốc tế về máy công cụ, cơ khí chính xác và gia công kim loại, diễn ra từ ngày 16 – 18/10/2019, tại Hà Nội.
Khi làn sóng đổi mới đổ bộ vào ngành công nghiệp trong nước, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025 với tầm nhìn đến năm 2035, đẩy mạnh phát triển với công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế và tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi giá trị toàn cầu với chỉ tiêu xuất khẩu đạt 45% tổng sản lượng ngành cơ khí cho năm 2035. Cùng với bối cảnh chiến tranh thương mại tăng cao, Việt Nam được kỳ vọng sẽ trở thành “công xưởng mới” của thế giới. Đặc biệt, khu vực các tỉnh phía Bắc Việt Nam với lịch sử phát triển cơ khí lâu đời, thuận lợi về vị trí địa lý để đón nhận luồng dịch chuyển sản xuất và hấp dẫn vốn đầu tư cao – với số vốn đầu tư cao nhất cả nước đạt 4,87 tỷ USD tại thành phố Hà Nội… là những cơ hội hớn cho doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cũng có chung nhận định, trước những tác động mạnh mẽ của làn sóng Cách mạng công nghiệp 4.0, doanh nghiệp cơ khí tại Việt Nam sẽ phải đương đầu với không ít thách thức trong việc cải tiến công nghệ, bắt kịp xu hướng, nâng cao trình độ lao động, chất lượng cơ sở hạ tầng, để có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu… và những áp lực cạnh tranh lớn đến từ các nước trong khu vực, cũng như trên thế giới.
Chính vì vậy, hội thảo lần này nhằm gợi mở ra những bước đi tiền đề cho doanh nghiệp Việt Nam trên con đường tìm kiếm lời giải bài toán phát triển bền vững; cũng như việc tận dụng thời cơ, nhận diện những lợi thế và thách thức đặt ra trong thời điểm hiện tại. Qua đó, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam sẽ phải đề ra những chiến lược như thế nào có thể làm chủ được công nghệ để tự tin “đứng trên vai người khổng lồ” và bắt kịp lợi thế cạnh tranh trong thời đại “Thế giới phẳng” trong hiện tại và tương lai.
Hội thảo dự kiến chào đón hơn 100 khách tham dự, gồm các cơ quan ban ngành, chuyên gia và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp sản xuất, chế tạo và cơ khí.

Nguồn: VITIC

Hương Nguyễn

Cộng đồng kinh doanh châu Á kêu gọi siêu kết nối

Hội nghị Thượng đỉnh kinh doanh châu Á (ABS) lần thứ 10 vừa kết thúc với tuyên bố chung về châu Á siêu kết nối vì sự phát triển bền vững.

.
Họp báo kết thúc Hội nghị Thượng đỉnh kinh doanh châu Á lần thứ 10 tại Hà Nội

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, đồng Chủ tịch ABS 2019 cho rằng, thông điệp “siêu kết nối vì sự phát triển bền vững của châu Á” mà ABS 2019 đã thống nhất đang mở ra nhiều cơ hội cho cộng đồng kinh doanh Việt Nam và khu vực.

Thưa ông, ABS lần thứ 10 đã kết thúc. Năm nay, ABS đã bàn tới những nội dung gì?

ABS 2019 bàn tới hai nội dung chính đã được bàn tới. Thứ nhất châu Á thời kỹ thuật số. Thứ hai là châu Á toàn cầu.

Trong bối cảnh thế giới đang chịu những tác động mạnh mẽ từ cuộc cách mạng công nghệ, từ nền kinh tế số, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà trong mọi mặt của xã hội, của cuộc sống.

Nỗ lực của chúng tôi trong là xây dựng một châu Á siêu kế nối, kết nối châu á, kết nối toàn cầu vì sự phát triển bền vững của châu Á, của toàn cầu. Trong bối cảnh này, sự hợp tác xuyên bên giới vô cùng quan trọng.

Chính trong thời điểm này, cộng đồng kinh doanh châu Á đòi hỏi các nền kinh tế châu Á cam kết với một khung chính sách mở và tìm kiếm các cơ hội đến từ cuộc cách mạng đổi mới kỹ thuật số, thúc đẩy thực hiện các tiến bộ công nghệ trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người.

Các doanh nghiệp sẽ ở đâu trong các chính sách này? ABS 2019 đã nói về điều như thế nào, thưa ông?

Doanh nghiệp là tác giả, là trung tâm của chính sách này.

Cộng đồng kinh doanh châu Á xác định chung tay với chính phủ để hợp tác trong việc thiết lập các tiêu chuẩn sản xuất xanh, đây là một yếu tố quan trọng trong nỗ lực giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh…

Cùng với đó, thúc đẩy các doanh nghiệp chất lượng tập trung vào trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu và công nghệ xanh, từ đó cho phép sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn cũng được ABS thống nhất đưa vào Tuyên bố chung.

Hiện châu Á đang trong dòng xoáy tác động của cuộc thương chiến Mỹ – Trung cũng như một số bất ổn được đưa ra bởi chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa dân tộc. Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến mong muốn siêu kết nối của cộng đồng kinh doanh?

Mặc dù có một số bất ổn được đưa ra bởi chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa dân tộc, các cộng đồng doanh nghiệp châu Á cam kết thương mại tự do và cởi mở là lựa chọn tốt nhất để mang lại sự tăng trưởng bền vững và toàn diện và dẫn đến sự thịnh vượng cho tất cả các nền kinh tế của chúng ta.

Ông đồng chủ tịch của ABS 2019 cũng đã chia sẻ quan điểm là mở rộng Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) thúc đẩy sớm thực hiện Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) là những mục tiêu chính trong việc hội nhập kinh tế khu vực và chúng tôi sẽ ủng hộ các hiệp định thương mại này.

Ngoài ra, chúng tôi đồng ý rằng, các Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) và Hiệp định thương mại tự do (FTA) không nên riêng biệt và thương mại nên được tự do hóa để đạt được sự tương thích của WTO, hướng tới mục tiêu mang lại lợi ích chung cho mọi người. (CNAIC)…

Và đây là lý do để nói đến siêu kết nối, thưa ông? Kết nối về công nghệ, về thị trường…

Sự hợp tác chặt chẽ giữa các nền kinh tế trong khu vực là chìa khóa cho sự phát triển toàn diện và bền vững. Đây là điều ABS2019 đã thống nhất.

Nhưng, trong kỷ nguyên số, sự hợp tác này được đặt trong môi trường siêu kết nối, kết nối về công nghệ, Internet, kết nối cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, môi trường và tài chính.

Mặc dù có một số bất ổn được đưa ra bởi chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa dân tộc, các cộng đồng doanh nghiệp châu Á cam kết thương mại tự do và cởi mở là lựa chọn tốt nhất để mang lại sự tăng trưởng bền vững và toàn diện và dẫn đến sự thịnh vượng cho tất cả các nền kinh tế của chúng ta.

Tuyên bố chung của ABS 2019 có gì mới, thưa ông?

Tuyên bố thể hiện cam kết và nỗ lực chung của các doanh nghiệp châu Á nhằm thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững và thịnh vượng chung.

Trong tuyên bố chung, Cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực được coi là rất quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Sự phát triển mất cân đối của cơ sở hạ tầng giữa các nền kinh tế làm chậm dòng chảy hàng hóa và dịch vụ, cản trở thương mại nội khối và liên khu vực. Cộng đồng doanh nghiệp châu Á kêu gọi một cơ chế hiệu quả để hỗ trợ hợp tác công tư trong phát triển cơ sở hạ tầng.

Mặt khác, xây dựng năng lực và nguồn nhân lực cũng là những vấn đề chủ yếu trong chương trình hợp tác khu vực. Trong kỷ nguyên kỹ thuật số được đánh dấu bằng sự tiến bộ nhanh chóng trong tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, nhiều công việc truyền thống sẽ được thay thế, và các kỹ năng mới sẽ được đặt ra để đáp ứng nhu cầu của các công nghệ mới.

Các sáng kiến để thúc đẩy khởi nghiệp, các công ty đổi mới và các doanh nghiệp công nghệ cao nên được khuyến khích.

Sự hợp tác hiệu quả về nguồn nhân lực giữa các nền kinh tế sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh chung của khu vực.

Đặc biệt, cộng đồng kinh doanh châu Á đồng ý doanh nghiệp nhỏ và vừa, siêu nhỏ tiếp tục là trụ cột của nhiều nền kinh tế châu Á, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa, siêu nhỏ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu…

Việc thực hiện Tuyên bố chung này sẽ như thế nào, thưa ông?

Cộng đồng donah nghiệp và chính phủ phải hợp tác trong xây dựng khuôn khổ pháp luật, xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo để thúc đẩy kết nối.

ABS 2019 có sự tham gia cua lãnh đạo cấp cao từ 12 tổ chức kinh tế chủ chốt từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Singapore, Malayssia, Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines và Việt Nam.

ABS do Liên đoàn Kinh tế Nhật Bản (Keidanren) khởi xướng từ năm 2010, được tổ chức luân phiên hàng năm tại các nền kinh tế lớn của châu Á.

Khánh An

Giá xăng dầu hôm nay 18/10 tăng trở lại

Trong bối cảnh căng thẳng Mỹ – Trung gia tăng, giá xăng dầu hôm nay bất ngờ phục hồi.

Ảnh minh hoạ

Ghi nhận của Petrotimes, tính đến đầu giờ sáng 18/10, theo giờ Việt Nam, trên sàn New York Mercantile Exchanghe, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 12/2019 đứng ở mức 54,10 USD/thùng, tăng 0,07 USD/thùng trong phiên. Tuy nhiên, nếu so với cùng thời điểm ngày 17/10, giá dầu WTI giao tháng 12/2019 đã tăng 1,12 USD/thùng.

Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 12/2019 đứng ở mức 59,81 USD/thùng, giảm 0,10 USD/thùng trong phiên nhưng tăng tới 0,86 USD/thùng so với cùng thời điểm ngày 17/10.

Giá xăng dầu thế giới tăng mạnh trở lại sau khi thị trường đón nhận thông tin tích cực từ nước Anh khi hy vọng về thoả thuận Brexit được dấy lên.

Tuy nhiên, đà tăng của giá dầu phần nào đã bị kìm hãm bởi sự gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc sau khi Hạ viện Hoa Kỳ vừa qua đã thông qua dự luật Dân chủ và Nhân quyền Hong Kong (HR 3289) cùng hai dự luật bày tỏ sự ủng hộ với người biểu tình ở đặc khu Hồng Kông (Trung Quốc).

Hà Lê

Giá vàng hôm nay 18/10: Đồng USD giảm mạnh, giá vàng rập rình tăng

Trong bối cảnh căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng khi Hà viện Mỹ thông qua dự luật Dân chủ và Nhân quyền Hong Kong, giá vàng hôm nay đang hướng mốc quan trọng.

gia vang hom nay 1810 dong usd giam manh gia vang dap dinh tang
Ảnh minh hoạ

Ghi nhận của Petrotimes, tính đến đầu giờ sáng ngày 18/10, theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.493,57 USD/Ounce.

Trong khi đó, giá vàng thế giới giao tháng 12/2019 ghi nhận trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchanghe ở mức 1.496,3 USD/Ounce, giảm 2 USD/Ounce trong phiên.

Giá vàng hôm nay cao hơn khoảng 225 USD/Ounce so với đầu năm 2019. Quy theo giá USD ngân hàng, vàng thế giới hiện có giá 41,52 triệu đồng/lượng. Chưa tính thuế và phí, giá vàng thế giới hiện đang thấp hơn giá vàng trong nước 180 ngàn đồng/lượng.

Giá vàng thế giới có xu hướng đi lên chủ yếu do căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng. Hạ viện Hoa Kỳ vừa qua đã thông qua dự luật Dân chủ và Nhân quyền Hong Kong (HR 3289) cùng hai dự luật bày tỏ sự ủng hộ với người biểu tình ở đặc khu Hồng Kông (Trung Quốc).

Chính phủ Trung Quốc đã lên tiếng phản đối Đạo luật Nhân quyền và Dân chủ Hồng Kông HR 3289, nói rằng đây là sự “can thiệp thô bạo vào các vấn đề nội bộ” của Trung Quốc.

Ngoài ra, giá vàng thế giới còn được hỗ trợ bởi một đồng USD suy giảm mạnh. Ghi nhận cùng thời điểm, theo giờ Việt Nam, chỉ số đô la Mỹ, chỉ số đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ 6 loại tiền tệ chính, đứng ở mức 97,322 điểm, giảm 0,41%.

Tại thị trường trong nước, tính đến cuối phiên giao dịch ngày 17/10, giá vàng 9999 trong nước được niêm yết tại TP Hồ Chí Minh ở mức 41,43 – 41,69 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra), tăng 10 ngàn đồng/lượng ở chiều mua và 10 ngàn đồng ở chiều chiều bán so với cuối phiên giao dịch ngày 16/10.

Với mức điều chỉnh tăng 90 ngàn đồng ở chiều mua và 20 ngàn đồng ở chiều bán, giá vàng SJC được Tập đoàn DOJI niêm yết tại Hà Nội ở mức 41,47 – 41,70 triệu đồng/lượng.

Còn tại Phú Quý SJC, giá vàng miếng SJC đứng ở mức 41,50 – 41,65 triệu đồng/lượng, tăng 100 ngàn đồng ở chiều mua và 50 ngàn đồng ở chiều bán.

Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng 9999 được niêm yết ở mức 41,50 – 41,68 triệu đồng/lượng, tăng 60 ngàn đồng ở chiều mua và 50 ngàn đồng ở chiều bán.

Minh Ngọc

Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành CN chế biến, chế tạo quý III và dự báo quý IV/2019

Theo nguồn tin từ Tổng cục Thống kê, cuộc điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh (SXKD) hàng quý ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bao gồm 6.500 doanh nghiệp được chọn mẫu điều tra, đại diện cho toàn ngành chế biến, chế tạo và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành CN chế biến, chế tạo quý III và dự báo quý IV/2019

Tổng số doanh nghiệp thực tế đã trả lời trong kỳ điều tra quý III/2019 đạt 90%. Thông tin chủ yếu thu thập từ doanh nghiệp điều tra phản ánh xu hướng SXKD ngành chế biến, chế tạo về các mặt: Đánh giá của doanh nghiệp về xu hướng tổng thể tình hình SXKD; khối lượng sản xuất; biến động về số lượng đơn đặt hàng mới và đơn đặt hàng xuất khẩu mới; xu hướng tồn kho thành phẩm, nguyên vật liệu; chi phí sản xuất, giá bán bình quân của một sản phẩm; biến động về quy mô lao động, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Kết quả điều tra phản ánh xu hướng SXKD quý hiện tại so với quý trước, dự báo xu hướng quý tới so với quý hiện tại.
Dưới đây là một số nhận định chủ yếu về các yếu tố liên quan đến tình hình SXKD của DN ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý III và dự báo quý IV năm 2019:
1. Về khối lượng sản xuất: Quý III/2019 có 81,3% DN khẳng định khối lượng sản xuất tăng và giữ ổn định so với quý II/2019 (45,2% DN đánh giá tăng và 36,1% DN giữ ổn định), có 18,7% DN dự báo giảm[1]. Khối lượng sản xuất của các DN ngành chế biến, chế tạo quý IV/2019 so với quý III/2019 có 88,4% DN dự báo tăng và giữ ổn định (52,4% DN dự báo tăng và 36,0% DN giữ ổn định), trong khi đó có 11,6% DN dự báo khối lượng sản xuất giảm.

Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khả quan nhất với 84,6% DN dự báo khối lượng SX quý III/2019 so với quý II/2019 tăng và giữ ổn định (49,9% DN dự báo tăng và 34,7% giữ ổn định), tiếp đến là khu vực DN ngoài nhà nước với 80,2% (43,4% dự báo tăng và 36,8% giữ ổn định), khu vực DN nhà nước với 79,3% (44,1% dự báo tăng và 35,2% giữ ổn định). Quý IV/2019 so với quý III/2019 khu vực FDI có tỷ lệ DN dự báo về khối lượng SX khả quan nhất với 89,5% dự báo tăng và giữ ổn định, tiếp đến là khu vực DN ngoài nhà nước với 88,3% DN dự báo tăng và giữ ổn định, khu vực DN nhà nước với 83,8% DN dự báo tăng và giữ ổn định.
Các ngành có dự báo khả quan về khối lượng SX quý IV 2019 tăng so với quý III năm 2019: Ngành SX sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học với tỷ lệ DN dự báo tăng cao nhất, đạt 62,5%; SX giường, tủ, bàn ghế 59%; SX trang phục 57,8%; SX thuốc, hóa dược và dược liệu 56,5%; SX sản phẩm từ cao su và plastic 55,7%; ngành dệt và SX xe có động cơ đều với 54,1%; …
2. Về đơn đặt hàng: Có 81,8% số DN đánh giá số lượng đơn hàng mới quý III/2019 tăng và giữ ổn định so với quý II/2019 (trong đó 40,4% DN khẳng định tăng và 41,4% giữ ổn định), có 18,2% DN đánh giá số lượng đơn hàng mới giảm[2]. Cùng xu hướng đó, tỷ lệ các DN dự báo số lượng đơn hàng mới khả quan ở quý IV/2019 so với quý III/2019 với 88,5% DN dự báo tăng và giữ ổn định (47,9% DN dự báo tăng và 40,6% giữ ổn định), có 11,5% DN dự báo số lượng đơn hàng mới giảm.

Theo loại hình doanh nghiệp: Số lượng đơn đặt hàng quý III/2019 so với quý II/2019 của khu vực DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khả quan nhất với 85,2% DN khẳng định tăng và giữ ổn định, khu vực DN nhà nước với 81,3% và khu vực DN ngoài nhà nước với 80,5%. Quý IV/2019 so với quý III/2019, có 89,6% số DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lạc quan dự báo đơn hàng mới tăng và giữ ổn định, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực DN nhà nước là 85,4% và khu vực DN ngoài nhà nước với 88,2%.

Các ngành có tỷ lệ dự báo cao về triển vọng đơn hàng mới quý IV/2019 tăng so quý III/2019 lần lượt gồm: SX giường, tủ, bàn, ghế 57,2; SX sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 54,3%; SX trang phục 53,4%; SX thuốc, hóa dược và dược liệu 52,2%; SX sản phẩm từ cao su và plastic 51,8%; SX da và các sản phẩm có liên quan 49%;…
3. Về đơn đặt hàng xuất khẩu: Có 83,1% DN khẳng định số lượng đơn hàng xuất khẩu mới quý III/2019 tăng và giữ ổn định so với quý II/2019 (trong đó 34,6% đánh giá tăng và 48,5% cho rằng giữ ổn định), trong khi tỷ lệ số DN trả lời có đơn hàng XK mới giảm là 16,9%[3]. Các DN dự báo số lượng đơn hàng XK mới quý IV/2019 khả quan hơn với 88,4% DN dự báo tăng và giữ ổn định so với quý III/2019 (40,9% DN dự báo tăng và 47,5% DN dự báo giữ ổn định), có 11,6% DN dự báo giảm.
Theo loại hình doanh nghiệp: Đơn hàng xuất khẩu quý III/2019 so với quý II/2019 khu vực FDI có tỷ lệ DN đánh giá tăng và giữ ổn định cao nhất với 85,8%, khu vực DN nhà nước với 83,6%, khu vực DN ngoài nhà nước với 80,7%. Dự báo về đơn hàng xuất khẩu quý IV/2019 so với quý III/2019 khu vực FDI có tỷ lệ DN dự báo khả quan nhất với 90,3% DN dự báo tăng và giữ ổn định, khu vực DN nhà nước 88% và khu vực DN ngoài nhà nước với tỷ lệ 86,8%.
Các ngành có tỷ lệ DN dự báo đơn hàng XK quý IV/2019 tăng quý III/2019 cao gồm: SX giường, tủ, bàn, ghế 52,1%; SX các sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 50%; SX trang phục 47,5%; SX da và các sản phẩm có liên quan 45,5%; SX thuốc, hóa dược và dược liệu 45,1%; SX chế biến thực phẩm 43,3%; SX thiết bị điện 43,2%;…
4. Về tồn kho thành phẩm: Có 81,9% số DN đánh giá khối lượng thành phẩm tồn kho quý III/2019 giữ nguyên và giảm so với quý II/2019 (trong đó 49,9% DN đánh giá giữ nguyên và 32% đánh giá giảm), trong khi đó có 18,1% DN khẳng định tăng[4]. Dự kiến quý IV/2019 so với quý III/2019 với 85,2% DN dự báo giữ nguyên và giảm (trong đó 53,4% DN dự báo giữ ổn định khối lượng thành phẩm tồn kho, có 31,8% DN dự báo giảm) và 14,8% DN dự báo tăng khối lượng thành phẩm tồn kho.
Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực DN ngoài nhà nước có tỷ lệ DN đánh giá khối lượng tồn kho thành phẩm quý III/2019 so với quý II/2019 giữ nguyên và giảm cao nhất với 82,4%, tiếp đến là khu vực DN nhà nước và khu vực FDI với tỷ lệ tương ứng là 81,8 % và 80,9%. Quý IV/2019 so với quý III/2019 khu vực DN nhà nước có tỷ lệ DN dự báo giảm khối lượng tồn kho thành phẩm với 36,3%, tiếp đến là khu vực DN ngoài nhà nước 32,5%, khu vực FDI có 29,1% DN dự báo giảm khối lượng tồn kho thành phẩm.
Các ngành có dự báo khối lượng tồn kho thành phẩm quý IV/2019 giảm đáng kể so với quý III/2019 gồm: SX kim loại 39,7%; SX chế biến thực phẩm 38,1%; SX các sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 37,5%; SX trang phục; SX giấy và các sản phẩm từ giấy với 34,5%;…
5. Về tồn kho nguyên vật liệu: Tồn kho nguyên vật liệu quý III/2019 so với quý II/2019 có 82,5% DN đánh giá giữ nguyên và giảm (trong đó 52,4 % DN khẳng định giữ nguyên và 30,1% DN khẳng định giảm), có 17,5% DN đánh giá tăng[5]. Cùng xu hướng đó, quý IV/2019 so với quý III/2019 có 85,8% DN dự báo khối lượng tồn kho nguyên vật liệu giữ nguyên và giảm (trong đó 55,2% DN dự báo giữ nguyên và 30,6% DN dự báo giảm), có 14,2% DN dự kiến tăng khối lượng tồn kho nguyên vật liệu.
Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực DN ngoài nhà nước đánh giá tồn kho nguyên vật liệu quý III/2019 so với quý II/2019 giữ nguyên và giảm cao nhất với 83,6%, tiếp đến là khu vực DN nhà nước 81,5%, khu vực FDI 79,9%. Dự báo tồn kho nguyên vật liệu quý IV/2019 giảm so với quý III/2019 nhiều nhất là khu vực DN nhà nước với 32,2%, tiếp đến khu vực DN ngoài nhà nước với 31,6%, khu vực FDI với 27,8%.
Các ngành có tỷ lệ dự báo tồn kho nguyên vật liệu quý IV/2019 so với quý III/2019 giảm nhiều nhất gồm: SX kim loại 41,9%; SX các sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học với 36,7%; SX chế biến thực phẩm 36,1%; SX xe có động cơ 34,1%; SX trang phục 32,9%; SX giấy và sản phẩm từ giấy 32,3%;…
6. Về chi phí SX: Có 90,7% số DN đánh giá chi phí SX trên một đơn vị sản phẩm chính quý III/2019 so với quý II/2019 tăng và giữ nguyên (trong đó 23,6% DN đánh giá tăng và 67,1% DN đánh giá giữ nguyên), có 9,3% DN đánh giá giảm[6]. Dự báo quý IV/2019 so với quý III/2019 có 90,2% DN dự báo chi phí SX cho một đơn vị sản phẩm chính tăng và giữ nguyên (19,7% DN dự báo tăng, 70,5% DN dự báo giữ ổn định), có 9,8% DN dự báo chi phí SX giảm.
Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực DN nhà nước có tỷ lệ DN đánh giá chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý III/2019 giảm so với quý II/2019 cao nhất với 13,2%, khu vực FDI với 9,6% và khu vực DN ngoài nhà nước với 8,8%. Tỷ lệ DN dự báo chi phí sản xuất quý IV/2019 so với quý III/2019 có 12% DN ở khu vực DN nhà nước dự báo chi phí giảm, khu vực DN ngoài nhà nước có 9,9% và khu vực FDI có 9,2%.
Các ngành dự báo chi phí sản xuất quý IV/2019 giảm so với quý III/2019 gồm: SX kim loại 16,9%; SX phương tiện vận tải khác 14%; SX các sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 13,3%; SX sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 11,9%; ngành dệt và ngành SX giấy, các sản phẩm từ giấy đều 11,5%; SX sản phẩm thuốc lá 11,1%;…
7. Về giá bán bình quân: Có 89,9% DN nhận định giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm chủ yếu quý III/2019 tăng và giữ nguyên so với quý II/2019 (trong đó 16,3% DN khẳng định tăng và 73,6% DN khẳng định giữ nguyên giá bình quân), có 10,1% DN cho rằng giảm[7]. Tỷ lệ này ở quý IV/2019 so với quý III/2019 là 92% (trong đó 17,4% DN dự báo tăng và 74,6% DN dự báo giữ nguyên), có 8% DN dự báo giá bán bình quân giảm.
Theo loại hình doanh nghiệp: Giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý III/2019 so với quý II/2019 khu vực DN nhà nước và khu vực FDI đều có cùng tỷ lệ DN đánh giá giá bán bình quân tăng 18,2%, khu vực DN ngoài nhà nước với 15,4%. Tỷ lệ DN cho rằng giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm giảm cao nhất ở khu vực DN nhà nước với 12,6%, khu vực DN ngoài nhà nước với 10,7%, khu vực FDI với 8,3%. Dự báo giá bán bình quân quý IV/2019 tăng so với quý III/2019 cao nhất là khu vực FDI với 18,7%, tiếp đến khu vực DN ngoài nhà nước với 17%, khu vực DN nhà nước với 16,6%.
Các ngành dự báo về giá bán bình quân quý IV/2019 giảm nhiều so với quý III/2019 gồm: SX kim loại và SX phương tiện vận tải khác 13,2%; SX xe có động cơ 12,9%; SX máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu 12,6%; Chế biến gỗ và SX sản phẩm từ gỗ, tre, nứa 11,6%; ngành dệt 10%;…
8. Về sử dụng lao động: Có 84,7% DN khẳng định quy mô lao động quý III/2019 so với quý II/2019 tăng và giữ ổn định (16,2% DN khẳng định tăng và 68,5% DN khẳng định giữ ổn định), trong khi đó 15,3% DN nhận định giảm[8]. Biến động lao động có xu hướng tăng ở quý IV/2019 so với quý III/2019 khả quan hơn với 91,4% số DN dự kiến số lao động tăng và giữ ổn định (19,4% DN dự báo quy mô lao động tăng và 72% dự kiến ổn định), có 8,6% DN dự kiến lao động giảm.

Theo loại hình doanh nghiệp: Khu vực doanh nghiệp FDI luôn có xu hướng thu hút thêm lao động đạt tỷ lệ cao nhất với 23,1% DN khẳng định số lượng lao động bình quân tăng trong quý III/2019 so với quý II/2019, tỷ lệ này của khu vực DN ngoài nhà nước là 13,9% và khu vực DN nhà nước là 11,6%. Xu hướng thu hút thêm lao động ở quý IV/2019 so với quý III/2019 cao nhất với 25,3% của khu vực doanh nghiệp FDI, 17,6% của khu vực DN ngoài nhà nước và 13,3% của khu vực DN nhà nước.

Các ngành có dự báo quy mô lao động quý IV/2019 tăng so với quý III/2019 cao gồm: SX sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 33,3%; SX da và các sản phẩm có liên quan 31,9%; SX trang phục 30,2%; SX sản phẩm từ cao su và plastic 25,3%; SX xe có động cơ 23,5%; SX kim loại 22,8%;…
9. Về sử dụng công suất máy móc, thiết bị: Tỷ lệ sử dụng công suất máy móc thiết bị bình quân quý III/2019 của các DN ngành chế biến, chế tạo là 77,3%[9]. Trong đó, khu vực doanh nghiệp FDI có hệ số sử dụng công suất máy móc thiết bị bình quân cao nhất với 82,9%, khu vực DN nhà nước với 78,8% và khu vực DN ngoài nhà nước với 75%. Những ngành có hệ số sử dụng công suất máy móc thiết bị quý III/2019 cao trên 80% gồm: SX sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học; SX trang phục; SX da và các sản phẩm có liên quan; SX xe có động cơ; SX sản phẩm thuốc lá; SX sản phẩm từ cao su và plastic; ngành dệt. Trong khi đó, có 46,7% DN sử dụng công suất máy móc thiết bị từ 70% đến dưới 90%; 31,9% DN sử dụng công suất từ 90%-100% và 5,3% DN sử dụng công suất dưới 50%.
10. Đánh giá tổng quan
Có 81,7% số DN ngành chế biến, chế tạo cho rằng tình hình SXKD quý III/2019 so với quý II/2019 của DN tốt lên và giữ ổn định (43,3% DN đánh giá tốt lên và 38,4% DN đánh giá giữ ổn định), có 18,3 % DN cho rằng SXKD khó khăn hơn[10]. Trong đó, khu vực doanh nghiệp FDI lạc quan nhất với 85,5% DN đánh giá tốt lên và giữ ổn định (49,2% khẳng định tốt lên và 36,3% giữ ổn định). Cùng tỷ lệ này, khu vực DN nhà nước là 77% (41,1% DN cho rằng tốt lên và 35,9% DN cho rằng giữ ổn định), khu vực DN ngoài nhà nước là 80,6% (41,2% DN đánh giá tốt lên và 39,4% DN đánh giá giữ ổn định). Dự báo quý IV/2019 lạc quan hơn so với quý III/2019 khi có 87,9% số DN dự báo tình hình SXKD của DN tốt lên và giữ ổn định (52,1% DN dự báo tốt lên và 35,8% giữ ổn định), có 12,1% DN dự báo tình hình SXKD khó khăn hơn. Khu vực FDI có tỷ lệ DN dự báo tình hình SXKD tốt lên và giữ ổn định ở quý IV/2019 so với quý III/2019 cao nhất với 90,1% (54,4% DN dự báo tốt lên và 35,7% DN giữ ổn định), khu vực DN nhà nước với 82,8% (48% DN dự báo tốt lên và 34,8% DN giữ ổn định) và khu vực DN ngoài nhà nước với 87,5% (51,3% DN dự báo tốt lên và 36,2% DN giữ ổn định).

(1) Về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động SXKD: Tính cạnh tranh của hàng trong nước vẫn là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động SXKD của DN khi có tới 59% DN cho rằng yếu tố này ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của DN; có 45,2% DN cho rằng nhu cầu thị trường trong nước thấp; 31,8% DN cho rằng khó khăn về tài chính; 31,5% DN cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển SXKD của DN; 28,5% DN cho rằng lãi suất vay vốn cao; 24,5% DN cho rằng thiếu nguyên, nhiên, vật liệu ảnh hưởng tới tình hình SXKD của DN; 24,7% DN đánh giá tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 22,4% cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; chỉ có 6,2% DN cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của DN; 2,7% DN cho rằng thiếu năng lượng ảnh hưởng đến hoạt động SXKD;…
(2) Về khối lượng sản xuất: Chỉ số cân bằng (thể hiện số phần trăm DN đánh giá khối lượng sản xuất tăng trừ đi số phần trăm DN đánh giá khối lượng sản xuất giảm) ở quý III/2019 so với quý II/2019 là 26,5% (45,2% DN cho rằng tăng và 18,7% DN cho rằng giảm). Trong đó, khu vực doanh nghiệp FDI có chỉ số cân bằng cao nhất với 34,5%, khu vực DN nhà nước với 23,4% và DN ngoài nhà nước thấp nhất với 23,6%. Chỉ số cân bằng quý IV/2019 so với quý III/2019 là 40,8% (52,4% DN dự báo tăng và 11,6% DN dự báo giảm), trong đó chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp FDI đạt cao nhất với 44%, tiếp đến là khu vực DN ngoài nhà nước 40,3% và khu vực DN nhà nước với 30,8%.
(3) Về đơn đặt hàng mới: Tỷ lệ DN đánh giá đơn hàng mới quý III/2019 so với quý II/2019 với chỉ số cân bằng là 22,2% (40,4% DN cho rằng tăng và 18,2% DN nhận định giảm). Trong đó chỉ số cân bằng của khu vực doanh nghiệp FDI đạt cao nhất với 30,4%, khu vực DN ngoài nhà nước 19,2% và thấp nhất là khu vực DN nhà nước 17,6%. Chỉ số cân bằng quý IV/2019 so với quý III/2019 là 36,4% (47,9% DN dự báo tăng đơn hàng và 11,5% DN dự bảo giảm), trong đó khu vực doanh nghiệp FDI có chỉ số cân bằng đạt cao nhất với 37,7%, khu vực DN ngoài nhà nước 36,5% và khu vực DN nhà nước 26,1%.
(4) Về tồn kho thành phẩm: Chỉ số cân bằng về tồn kho thành phẩm ở quý III/2019 so với quý II/2019 là -13,9% (với 32% DN cho rằng tồn kho thành phẩm giảm và 18,1% DN khẳng định tăng), trong đó khu vực doanh nghiệp FDI với chỉ số cân bằng -10,7%, khu vực DN ngoài nhà nước -15%, khu vực DN nhà nước -15,6%. Chỉ số cân bằng về tồn kho thành phẩm quý IV/2019 so với quý III/2019 là -17% (31,8% DN dự báo giảm và 14,8% DN dự báo tăng), trong đó chỉ số cân bằng về tồn kho thành phẩm khu vực DN nhà nước -23,6%, khu vực DN ngoài nhà nước -18,6% và khu vực doanh nghiệp FDI -11,7%.
(5) Về sử dụng lao động: Chỉ số cân bằng về việc tăng và giảm quy mô lao động quý III/2019 so với quý II/2019 là 0,9% (16,2% DN đánh giá tăng và 15,3% DN giảm), trong đó khu vực doanh nghiệp FDI có chỉ số cân bằng cao nhất với 9%. Biến động lao động có xu hướng tăng khả quan ở quý IV/2019 so với quý III/2019 với chỉ số cân bằng là 10,8% (19,4% DN dự báo tăng và 8,6% DN dự báo giảm), tăng cao nhất vẫn là khu vực doanh nghiệp FDI với 17,9%, khu vực DN ngoài nhà nước 8,7% và khu vực DN nhà nước 1,7%.
Ghi chú:
[1] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 83,7% DN dự báo khối lượng SX tăng và giữ ổn định (trong đó 47,8% DN dự báo tăng; 35,9% DN dự báo ổn định) và 16,3% DN dự báo giảm.
[2] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 83,5% DN dự báo đơn hàng mới tăng và giữ ổn định (trong đó 41,4% DN dự báo tăng; 42,1% DN dự báo ổn định) và 16,5% dự báo giảm.
[3] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 84% DN dự báo đơn hàng xuất khẩu mới tăng và giữ ổn định (trong đó 36,7% DN dự báo tăng; 47,3% DN dự báo ổn định) và 16% dự báo giảm.
[4] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 83,4% DN dự báo tồn kho thành phẩm giữ ổn định và giảm (trong đó 50,8% DN dự báo ổn định; 32,6% DN dự báo giảm) và 16,6% DN dự báo tăng.
[5] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 82,9% DN dự báo tồn kho NVL giữ ổn định và giảm (trong đó 53,1% dự báo ổn định; 29,8% dự báo giảm) và 17,1% dự báo tăng.
[6] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 91,3% DN dự báo chi phí sản xuất trên một một đơn vị sản phẩm chính tăng và giữ ổn định (trong đó 25,7% dự báo tăng; 65,6% dự báo ổn định) và 8,7% dự báo giảm.
[7] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 91,2% DN dự báo giá bình quân một đơn vị sản phẩm tăng và giữ ổn định (trong đó 17,3% dự báo tăng; 73,9% dự báo ổn định) và 8,8% dự báo giảm.
[8] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 87,3% DN dự báo lao động tăng và giữ ổn định (trong đó 16,6% dự báo tăng; 70,7% dự báo ổn định) và 12,7% dự báo giảm.
[9] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Tỷ lệ sử dụng công suất máy móc, thiết bị bình quân 77,5%.
[10] Chỉ số tương ứng của quý II/2019: Có 83,5% DN đánh giá tình hình SXKD tốt lên và giữ ổn định (trong đó có 45,2% DN đánh giá tốt lên và 38,3% DN giữ ổn định) và 16,5% DN đánh giá khó khăn hơn.
Nguồn: VITIC
Hương Nguyễn

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ tiếp đà tăng trưởng

Số liệu thống kê từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ của Việt Nam trong tháng 8/2019 đạt 47,17 triệu USD, tăng 0,6% so với tháng 7/2019 – đây là tháng tăng thứ hai liên tiếp.

Nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tính từ đầu năm đến hết tháng 8/2019 lên 346,52 triệu USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ tiếp đà tăng trưởng

Sản phẩm gốm sứ của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang các nước Đông Nam Á, chiếm 23,45% tỷ trọng, đạt 81,27 triệu USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ, tính riêng tháng 8/2019 kim ngạch đạt 11,88 triệu USD, giảm 2,72% so với tháng 7/2019 nhưng tăng 29,47% so với tháng 8/2018.
Trong số những thị trường nhập khẩu sản phẩm gốm sứ của Việt Nam, thì Mỹ là thị trường có kim ngạch dẫn đầu đạt 59,81 triệu USD, tăng 18,04% so với cùng kỳ 2018, riêng tháng 8/2019 cũng đã xuất sang Mỹ 6,2 triệu USD, nhưng so với tháng 7/2019 thì kim ngạch suy giảm 9,86% và tăng 28,8% so với tháng 8/2018.
Đứng thứ hai sau thị trường Mỹ là Nhật Bản, tuy nhiên tốc độ xuất sang Nhật Bản sụt giảm 7,36% so với cùng kỳ, tương ứng 49,88 triệu USD và riêng tháng 8/2019 chỉ đạt 6,57 triệu USD, giảm 12,31% so với tháng 7/2019 nhưng tăng 2,01% so với tháng 8/2018.
Kế đến là các thị trường Đài Loan (TQ), Thái Lan, Hàn Quốc… Nhìn chung, 8 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ sang các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, số thị trường này chiếm 58,6%, trong đó xuất sang thị trường Achentina và Hàn Quốc có tốc độ tăng mạnh, đều trên 50%, lần lượt đạt 1,54 triệu USD (tăng 50,43%) và 20,75 triệu USD (tăng 50,04%). Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang thị trường Thụy Điển giảm mạnh 51,08% chỉ với 838,1 nghìn USD.
Thị trường xuất khẩu sản phẩm gốm sứ 8 tháng năm 2019
Thị trườngTháng 8/2019 (USD)+/- so với tháng 7/2019 (%)*8 tháng năm 2019 (USD)+/- so với cùng kỳ năm trước (%)*
Mỹ6.293.431-9,8659.813.55018,04
Nhật Bản6.571.484-12,3149.884.465-7,36
Đài Loan3.813.222-2,4927.935.2252,94
Thái Lan2.880.19717,7521.235.91912,34
Hàn Quốc3.222.10459,5420.752.62650,04
Anh2.195.64278,9117.684.14624,12
Philippines3.226.239-8,9615.822.02143,07
Indonesia2.236.88745,5114.673.61190,2
Trung Quốc1.733.177-53,8813.008.48536,4
Campuchia1.581.131-34,2112.504.120-36,75
Hà Lan2.142.09149,3110.024.255-2,55
Australia1.535.19213,519.321.608-1,02
Đức703.664-8,388.869.60634,17
Pháp1.851.14795,646.892.08112,18
Malaysia812.117-19,686.516.952-21,59
Italy1.015.80313,896.336.037-17,58
Lào455.5021,814.800.30311
Myanmar589.524-7,454.693.4675,2
Canada237.453-1,063.285.65636,05
Đan Mạch88.612-59,052.188.463-4,33
Ấn Độ306.31813,32.006.3489,98
Bỉ179.43739,091.903.673-31,29
Achentina109.753146,331.541.44350,43
Tây Ban Nha134.342-9,671.468.964-2,01
Singapore104.461-45,971.024.281-9,28
Nga222.02668,731.010.4093,74
Thụy Điển99.06336,48838.185-51,08
Hồng Kông (TQ)108.958-53,42808.812-21,86
Áo  37.3437,84
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)

Nguồn: VITIC 

Hương Nguyễn

Hàng hóa TG sáng 16/10/2019: Giá dầu, vàng, sắt thép đi xuống

Giới đầu tư lo ngại kinh tế thế giới suy yếu do đàm phán thương mại Mỹ – Trung chưa có kết quả như mong đợi và những số liệu yếu kém về sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ (ô tô) của Trung Quốc đã tác động đến thị trường hàng hóa nguyên liệu trong phiên giao dịch 15/10/2019 trên thị trường quốc tế (kết thúc vào rạng sáng 16/10/2019 giờ VN).

Hàng hóa TG sáng 16/10/2019: Giá dầu, vàng, sắt thép đi xuống

Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm nhẹ do các nhà đầu tư lo ngại cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung chưa kết thúc sẽ tiếp tục tác động tiêu cực tới kinh tế Mỹ.
Kết thúc phiên, dầu Brent trên sàn London giảm 61 US cent xuống 58,74 USD/thùng, trong khi dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 78 US cent xuống còn 52,81 USD/thùng. Đầu phiên, có lúc giá dầu Brent giảm hơn 1 USD sau khi có báo cáo cho hay chỉ số sản xuất của Trung Quốc trong tháng 9/2019 giảm mạnh nhất trong vòng hơn 3 năm và nhập khẩu vào thị trường này trong tháng 9/2019 giảm tháng thứ 5 liên tiếp.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cảnh báo những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung sẽ khiến kinh tế thế giới trong năm 2019 tăng trưởng ở mức thấp nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Tuy nhiên, IMF cho rằng sản lượng dầu thế giới sẽ hồi phục sau khi Mỹ và Trung Quốc dỡ bỏ các mức thuế áp dụng đối với hàng hóa của nhau.
Lượng dầu dự trữ của Mỹ dự kiến tăng trong tuần này cũng tạo sức ép đối với giá dầu. Theo kế hoạch, Viện Dầu mỏ Mỹ và Cơ quan Thông tin Năng lượng nước này sẽ lần lượt công bố các báo cáo về lượng dầu dự trữ của Mỹ trong ngày 16/10 và 17/10.
Tổng Thư ký Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) Mohammad Barkindo cho biết OPEC và các nước liên minh sản xuất dầu sẽ nỗ lực tối đa để duy trì sự ổn định của thị trường dầu mỏ sau năm 2020.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm khi giới đầu tư lại hướng tới những tài sản có độ rủi ro cao như chứng khoán.
Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay giảm 0,8% xuống còn 1.481,40 USD/ounce; vàng giao sau giảm 0,9% xuống 1.483,50 USD/ounce.
Theo các chuyên gia, thị trường chứng khoán Mỹ đã tăng điểm mạnh mẽ trước những báo cáo lợi nhuận tích cực của các doanh nghiệp nước này, trong khi Mỹ và Trung Quốc đã đạt được một phần thỏa thuận thương mại, làm dấy lên hy vọng về khả năng kết thúc cuộc chiến thương mại kéo dài hơn một năm qua. Chiến lược gia thị trường kỳ cựu Bob Haberkorn của RJO Futures nhận định, hiện tại sự đi lên của thị trường chứng khoán đang thu hút giới đầu tư, qua đó khiến giá vàng giảm nhẹ. Chỉ số công nghiệp Dow Jones trong phiên này tăng 0,9% lên 27.024,80 điểm, S&P 500 tăng 1% lên 2.995,68 điểm và Nasdaq tăng 1,2% lên 8.148,71 điểm.
Về những kim loại quý khác, giá palađi tiếp tục đà đi lên với mức tăng 1,1% lên 1.733,06 USD/ounce, sau khi có lúc đã đạt tới mức cao kỷ lục 1.739,93 USD/ounce. Như vậy, kể từ đầu tháng 8/2019 đến nay, giá palađi đã tăng hơn 300 USD. Trong khi đó, giá bạc giảm 1,4% xuống còn 17,40 USD/ounce còn giá bạch kim giảm 1,2% xuống 882,08 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nickel đảo chiều tăng sau khi giảm ở phiên trước, trong khi đồng bị áp lực giảm bởi lo lắng về tăng trưởng kinh tế yếu.
Trên sàn London, kết thúc phiên, giá nickel tăng 2,4% lên 16.995 USD/tấn. Lượng nickel lưu kho ở sàn LME tăng lần đầu tiên trong hơn 2 tuần sau khi giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 7 năm.
Trong khi đó, giá đồng giảm 0,8% xuống 5,773 USD/tấn do lo ngại về tăng trưởng kinh tế sau khi số liệu kinh tế của Trung Quốc không khả quan.
Sắt và thép cũng giảm trong phiên vừa qua. Tại Trung Quốc, nước nhập khẩu quặng lớn nhất thế giới, giá quặng sắt xuống mức thấp nhất gần 3 tuần sau khi công ty khai mỏ Vale SA của Brazil báo cáo sản lượng tăng trong quý 3/2019.
Hợp đồng quặng sắt được giao dịch nhiều nhất trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên đóng cửa giảm 1,2% xuống 644 CNY (91,05 USD)/tấn, sau khi giảm khoảng 3,3% lúc đầu phiên xuống mức thấp nhất kể từ ngày 26/9/2019.
Vale, nhà xuất khẩu quặng sắt hàng đầu thế giới và là nguồn cung quặng cao cấp chủ chốt của Trung Quốc, thông báo sản lượng tăng 35,4% trong quý 3/2019 so với quý trước đó, lên 86,7 triệu tấn. Nguồn cung quặng sắt đang cải thiện từ Brazil và Australia đã thúc đẩy dự trữ ở Trung Quốc lên mức cao nhất 5 tháng, là 129,95 triệu tấn. Vale cũng dự kiến nâng sản lượng tại Vargem Grande lên khoảng 50 triệu tấn vào cuối năm 2021.
Nhà đầu tư đang dấy lên lo ngại nhu cầu quặng sắt tại Trung Quốc (nơi chiếm khoảng một nửa sản lượng thép thế giới) sẽ chậm lại do những nỗ lực mới để hạn chế ô nhiễm môi trường bằng cách giảm hoạt động của các nhà máy thép tại một số khu vực.
Giá thép tiếp tục sụt giảm sau khi số liệu cho thấy doanh số bán ô tô tại Trung Quốc giảm tháng thứ 15 liên tiếp trong tháng 9/2019, làm giảm hy vọng về sự đảo ngược xu hướng trong 6 tháng cuối năm.
Thép cây giao dịch trên sàn Thượng Hải giảm 1,7% xuống 3.346 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 30/8/2019; thép cuộn cán nóng giảm 1,3% xuống 3.331 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 3/4/2019; thép không gỉ giảm 2,1% xuống 15.440 CNY/tấn, theo xu hướng giá nickel trên sàn Thượng Hải.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2019 giảm 0,4 US cent, tương đương 0,4%, xuống 94,45 US cent/lb. Triển vọng sản lượng năm tới ở Brazil sẽ tăng đang ảnh hưởng tới xu hướng giá hiện tại. Robusta kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn London giảm 12 USD tương đương 0,9% xuống 1.264 USD/tấn.
Trái với cà phê, giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2020 lúc đóng cửa tăng 0,07 US cent hay 0,56% lên 12,59 US cent/lb. Đường trắng kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn London tăng 2,4 USD hay 0,7% lên 347,6 USD/tấn. Chênh lệch giá đường trắng kỳ hạn tháng 12/2019 so với tháng 3/2020 hiện đạt 4,2 USD, cho thấy nguồn cung trong ngắn hạn bị thắt chặt.
Đồng real của Brazil mạnh so với USD nên không khuyến khích các nhà xuất khẩu tại Brazil, quốc gia sản xuất đường hàng đầu thế giới, bán các hàng hóa định giá bằng USD như đường và cà phê.
Tuy nhiên, đà tăng của giá đường bị hạn chế bởi các nhà sản xuất hiện còn lượng tồn trữ nhiều nhất trong vòng 2 năm qua và sẽ tranh thủ bán ra mỗi khi giá tăng.
Đối với mặt hàng cao su, giá tại Tokyo tăng nhẹ trong khi tại Thượng Hải giảm. Cao su kỳ hạn tháng 3/2020 trên sàn TOCOM đóng cửa tăng 0,1 JPY lên 163,5 JPY/kg; hợp đồng kỳ hạn tháng 1/2029 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 135 CNY (19,08 USD) xuống 11.530 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới
ĐVTGiá+/-+/- (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng52,81-0,78
Dầu BrentUSD/thùng58,74-0,61 
Dầu thô TOCOMJPY/kl37.130,00-220,00-0,59%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu2,35+0,01+0,26%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon161,79+0,35+0,22%
Dầu đốtUS cent/gallon191,61+0,61+0,32%
Dầu khíUSD/tấn581,50-2,00-0,34%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl54.280,00-140,00-0,26%
Vàng New YorkUSD/ounce1.483,50-0,9%
Vàng TOCOMJPY/g5.170,00-15,00-0,29%
Bạc New YorkUSD/ounce17,47+0,08+0,47%
Bạc TOCOMJPY/g60,90-0,70-1,14%
Bạch kimUSD/ounce885,77+0,41+0,05%
PalađiUSD/ounce1.738,23+1,38+0,08%
Đồng New YorkUS cent/lb260,20-1,20-0,46%
Đồng LMEUSD/tấn5.773,00-45,00-0,77%
Nhôm LMEUSD/tấn1.728,00+8,00+0,47%
Kẽm LMEUSD/tấn2.438,00+18,00+0,74%
Thiếc LMEUSD/tấn16.680,00+160,00+0,97%
NgôUS cent/bushel390,75-2,50-0,64%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel506,25-0,75-0,15%
Lúa mạchUS cent/bushel298,00+1,50+0,51%
Gạo thôUSD/cwt11,880,00-0,04%
Đậu tươngUS cent/bushel933,25-0,75-0,08%
Khô đậu tươngUSD/tấn307,800,000,00%
Dầu đậu tươngUS cent/lb30,33-0,06-0,20%
Hạt cải WCECAD/tấn461,00-0,40-0,09%
Cacao MỹUSD/tấn2.522,00+73,00+2,98%
Cà phê MỹUS cent/lb94,45-0,40-0,42%
Đường thôUS cent/lb12,59+0,07+0,56%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb100,15+0,75+0,75%
BôngUS cent/lb63,23-0,30-0,47%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet372,70-7,80-2,05%
Cao su TOCOMJPY/kg163,10-0,40-0,24%
Ethanol CMEUSD/gallon1,46+0,03+2,03%

Nguồn: VITIC/ Reuters, Bloomberg

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu Việt Nam 9 tháng đầu năm 2019 giảm 2,2%

Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 9/2019 đạt 262 triệu USD, giảm 29,47% so với tháng trước đó và giảm 31,99% so với cùng tháng năm ngoái.

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu Việt Nam 9 tháng đầu năm 2019 giảm 2,2%

Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 9/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Trung Quốc và Indonesia… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 120 triệu USD, giảm 29,31% so với tháng trước đó và giảm 18,75% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 9 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,1 tỉ USD, chiếm 40,5% thị phần.
Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 9/2019 đạt hơn 33 triệu USD, giảm 55,62% so với tháng 8/2019 và giảm 45,27% so với tháng 9/2018. Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 451 triệu USD, giảm 10,14% so với cùng kỳ năm 2018.
Đứng thứ ba là Trung Quốc với kim ngạch nhập khẩu hơn 13 triệu USD, giảm 7,09% so với tháng 8/2019 và giảm 8,5% so với tháng 9/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm 2019 lên hơn 140 triệu USD, giảm 18,99% so với cùng kỳ năm 2018.
Tính chung, trong 9 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 2,8 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Canada với 39,5 triệu USD, tăng 151,3% so với cùng kỳ năm 2018, Australia với 19,8 triệu USD, tăng 73,36% so với cùng kỳ năm 2018, Argentina với hơn 1,1 tỉ USD, tăng 28,94% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Philippin với hơn 13,7 triệu USD, tăng 21,25% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu TĂCN & NL 9 tháng đầu năm 2019 theo thị trường

ĐVT: nghìn USD

Thị trườngT9/2019+/- So với

T8/2019 (%)

9T/2019+/- So với 9T/2018 (%)
Tổng KN262.321-29,52.824.794-2,2
Argentina120.396-29,31.143.51728,9
Ấn Độ4.489-64,5130.115-6,9
Anh226497,9952-7,7
Áo80-30,12.424-50,3
Bỉ38437,06.190-71,1
Brazil7.890-43,1163.708-57,8
UAE222-58,815.875-68,1
Canada3.702-6,739.534151,3
Chile 6.424-68,7
Đài Loan (TQ)6.130-10,357.779-18,3
Đức750-44,88.1025,1
Hà Lan982-0,911.373-32,5
Hàn Quốc3.8164,637.0680,3
Mỹ33.422-55,6451.289-10,1
Indonesia10.268-0,564.738-7,4
Italia3.263-6,935.633-6,0
Malaysia3.53129,423.829-14,6
Mexico222 1.820-42,4
Nhật Bản115105,31.505-49,1
Australia532-48,119.89273,4
Pháp1.621-3523.424-6,5
Philippin2.041108,413.74021,3
Singapore1.83613,513.4485,6
Tây Ban Nha81127,97.888-34,5
Thái Lan8.79453,887.4969,5
Trung Quốc13.544-7,1140.263-19

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 9 tháng đầu năm 2019.

Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 9 tháng đầu năm 2019

Mặt hàng

9T/2019+/- So với 9T/2018
Lượng (nghìn tấn)Trị giá (nghìn USD)Lượng (%)Trị giá (%)
Lúa mì1.838494.502-54,4-48,7
Ngô8.1221.651.63712,510,7
Đậu tương1.326526.3410,2-8,4
Dầu mỡ động thực vật 502.211 -8,1

Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ

Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 9/2019 đạt 303 nghìn tấn với kim ngạch đạt 70 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,8 triệu tấn, với trị giá hơn 494 triệu USD, giảm 54,44% về khối lượng và giảm 48,72% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 9 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 41% thị phần; Nga chiếm 20%; Canada chiếm 14%; Mỹ chiếm 6% và Brazil chiếm 5%.
Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Mỹ, Australia và Canada. Trong 9 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 81,95% về lượng và giảm mạnh 80,87% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ giảm 26,91% về lượng và giảm 25,89% về trị giá so với cùng kỳ. Australia giảm 20,57% về lượng và giảm 16,03% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Sau cùng là Canada giảm 4,36% về lượng và giảm 1,97% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Trong khi đó, Brazil tăng 9,17% về lượng và 38,81% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 9/2019 đạt 199 nghìn tấn với trị giá hơn 79 triệu USD, đưa khối lượng và kim ngạch nhập khẩu đậu tương trong 9 tháng đầu năm 2019 lên 1,3 triệu tấn và 526 triệu USD, tăng 0,16% về lượng song giảm 8,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 9/2019 đạt hơn 1,6 triệu tấn với trị giá đạt 321 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 9 tháng đầu năm 2019 lên hơn 8,1 triệu tấn, trị giá hơn 1,6 tỉ USD, tăng 12,45% về khối lượng và tăng 10,69% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Tuy nhiên, nhập khẩu ngô trong 9 tháng đầu năm 2019 từ các thị trường chủ yếu đều tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 63% và 35% thị phần.
Nguồn: VITIC

Giá vàng ngày 17/10: Xuất hiện tín hiệu vui, vàng bắt đầu tăng nhẹ

Giá vàng thế giới hôm nay (17/10) cao hơn 15,8% (203 USD/ounce) so với đầu năm 2019. Giá vàng thế giới quy đổi theo giá USD tại ngân hàng ở mức 41,1 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn 500 ngàn đồng so với vàng trong nước.

Mở đầu phiên giao dịch ngày 17/10, giá vàng thế giới trên sàn Kitco giao dịch ở mức 1489.60 / 1490.60 USD/ounce. Giá vàng giao kỳ hạn tháng 12 tăng 9,40 USD/ounce, ở mức 1492,90 USD/ounce.

Nguyên nhân khiến vàng thế giới đang trên đà giảm giá lại bất ngờ quay đầu tăng, được cho là bắt nguồn sau khi chính phủ Mỹ công bố một báo cáo kinh tế đáng thất vọng. Đó là Báo cáo doanh số bán lẻ tháng 9 của Mỹ cho thấy giảm 0,3%, trong khi dự báo vào tháng 8 cho thấy sẽ tăng 0,2%.

Thêm vào đó, đồng USD tiếp tục mất giá cũng đã góp phần đẩy giá vàng tăng trở lại.

Giá vàng ngày 17/10: Xuất hiện tín hiệu vui, vàng bắt đầu tăng nhẹ

Bên cạnh đó, mới đây quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng vừa công bố một báo cáo dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu ở mức 3% vào năm 2019, giảm từ mức dự báo tăng trưởng 3,2% của IMF vào tháng Bảy. IMF cho rằng mức giảm này do các tranh chấp thương mại toàn cầu khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại trên toàn thế giới. Những thông tin này cũng khiến giới đầu tư cân nhắc, tính toán cho các kế hoạch của mình và vàng vẫn luôn được coi là kênh đầu tư an toàn.

Tại thị trường trong nước, theo ghi nhận ở thời điểm chốt phiên giao dịch ngày 16/10, giá vàng 9999 đã giảm khoảng 50 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên liền trước.

Giá vàng SJC giao dịch lẻ của Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu niêm yết ở mức giá 41,44 triệu đồng/lượng (mua vào) và 41,63 triệu đồng/lượng (bán ra). Giảm 180.000 đồng/lượng theo chiều mua vào và giảm 200.000 đồng/lượng theo chiều bán ra so với phiên giao dịch gần nhất./.

Thành Trung (t/h)

Kim ngạch nhập khẩu hàng rau quả tăng chiếm 0,76% tỷ trọng

Là mặt hàng đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong 8 tháng đầu năm 2019 lên tới 2,5 tỷ USD, nhưng ngược lại Việt Nam cũng phải nhập khẩu mặt hàng này tới 1,3 tỷ USD, chiếm 0,76% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

Kim ngạch nhập khẩu hàng rau quả tăng chiếm 0,76% tỷ trọng

Cụ thể, tháng 8/2019 Việt Nam đã nhập khẩu 120,44 triệu USD hàng rau quả, giảm 13,5% so với tháng 7/2019. Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 8/2019 Việt Nam đã nhập 1,26 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2018.
Việt Nam nhập khẩu hàng rau quả chủ yếu từ các nước Đông Nam Á, tỷ trọng nhập từ thị trường này chiếm 430,34%, trong đó Thái Lan chiếm tỷ trọng lớn nhất 83,72%, đạt 428,8 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tốc độ nhập từ thị trường này giảm 16,73%. Riêng tháng 8/2019 Việt Nam cũng đã nhập từ thị trường 7,9 triệu USD, giảm 40,38% so với tháng 7/2019 và giảm 92,17% so với tháng 8/2018.
Với vị trí và khoảng cách địa lý không xa với Việt Nam, nhưng nhập khẩu hàng rau quả từ thị trường Trung Quốc trong 8 tháng đầu năm nay chỉ đạt 309,9 triệu USD, tăng 23,68% so với cùng kỳ, riêng tháng tháng 8/2019 đạt 37,97 triệu USD, giảm 27,2% so với tháng 7/2019 và giảm 25,99% so với tháng 8/2018.
Kế đến là các thị trường Mỹ, Australia, Newzeland… Đáng chú ý, so với cùng kỳ năm trước thị trường cung cấp rau quả cho Việt Nam thời gian này có thêm các thị trường như Lào, Campuchia, Canada trong đó Campuchia đạt giá trị lớn nhất 31,72 triệu USD; Lào 7,96 triệu USD và Canada 5,63 triệu USD.
Nhìn chung, 8 tháng đầu năm nay kim ngạch nhập khẩu hàng rau quả từ các thị trường hầu hết đều tăng trưởng, trong đó phải kể đến thị trường Israel tăng nhiều nhất 100,99% tuy chỉ đạt 2,99 triệu USD, riêng tháng 8/2019 nhập từ thị trường này giảm 68,97% so với tháng 7/2019 và giảm 83,61% so với tháng 8/2018 tương ứng với 65 nghìn USD. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tăng nhập rau quả từ thị trường Myanmar, tăng 97,79% đạt 40,52 triệu USD; Chile và Malaysia đều tăng trên 60%.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu từ Brazil giảm 17,74% chỉ với 3,1 triệu USD, riêng tháng 8/2019 nhập từ thị trường tăng mạnh gấp 8,5 lần (tương ứng 746,52%) đạt 1,2 triệu USD so với tháng 7/2019 và tăng 5,8 lần (tương ứng 477,96%) so với tháng 8/2018.
Thị trường nhập khẩu rau quả 8 tháng năm 2019
Thị trườngTháng 8/2019 (USD)+/- so với tháng 7/2019 (%)*8 tháng năm 2019 (USD)+/- so với cùng kỳ năm trước (%)*
Thái Lan7.996.766-40,38428.894.541-16,73
Trung Quốc37.975.321-27,2309.951.95023,68
Mỹ33.069.507-15,25188.431.46672,37
Australia8.803.33819,1573.841.4034,65
New Zealand9.290.962-2,1144.993.08143,07
Myanmar5.095.803-9,5240.527.34997,79
Nam Phi2.329.26619,9322.137.31543,22
Ấn Độ3.727.939-10,3321.567.28810,02
Hàn Quốc4.023.111121,9518.832.36130,58
Chile4.348.359179,1411.948.28666,86
Malaysia1.259.774217,663.135.19760,5
Brazil980.323746,523.124.099-17,74
Israel65.091-68,972.994.229100,99
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)
 Nguồn: VITIC

Thị trường ô tô Việt Nam 2019 có thể xác lập kỷ lục mới về doanh số

Với sức tiêu thụ bình quân của VAMA và của TC MOTOR gần 32.000 xe/tháng trong 9 tháng qua, thị trường ô tô Việt Nam cả năm 2019 có thể xác lập kỷ lục mới về doanh số bán hàng.

Thị trường ô tô Việt Nam 2019 có thể xác lập kỷ lục mới về doanh số

Doanh số bán xe của VAMA trong 9 tháng năm 2019

Chiều 10/10, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) công bố doanh số bán hàng của các đơn vị thành viên trong tháng 9/2019 đạt 27.767 xe các loại, tăng 29% so với tháng trước.
Trong tổng doanh số trên, có 20.916 xe du lịch, tăng 37%; 6.532 xe thương mại, tăng 10%; và 319 xe chuyên dụng, tăng 10% so với tháng liền trước.
Xét về xuất xứ xe, nếu như các tháng trước, doanh số bán xe lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu có sự tăng giảm trái chiều thì trong tháng 9 vừa qua ở hai phân khúc này đều có sự tăng trưởng mạnh so với tháng 8/2019.
Cụ thể, trong khi doanh số bán của xe lắp ráp trong nước đạt 16.994 xe, tăng 35% thì số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc cũng tăng 21% khi có 10.773 xe được bàn giao đến tay khách hàng trong cả nước.

So sánh về doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu trong 9 tháng năm 2019
Tính chung trong 9 tháng năm 2019, các đơn vị thành viên VAMA có tổng doanh số bán 230.334 xe ô tô các loại, tăng 18% so với cùng kì năm ngoái. Trong đó, xe xe ô tô du lịch đạt 168.694 xe, tăng 30%; xe thương mại 57.523 xe, giảm 3%; và xe chuyên dụng đạt 4.117 xe, giảm 27% so với cùng kì năm trước.
Tuy nhiên, theo giới chuyên doanh, con số báo cáo bán hàng trên của VAMA chưa thể hiện hết toàn cảnh thị trường ô tô Việt Nam bởi ngoài các đơn vị thành viên VAMA, còn có sự góp mặt của các thương hiệu TC Motor, Audi, Jaguar, Land Rover, Subaru, Volkswagen, Volvo… và mới đây là VinFast bởi một số đơn vị này là không phải thành viên VAMA hoặc là thành viên như Mercedes-Benz hay Audi nhưng không công bố doanh số bán hàng.

Doanh số bán lẻ xe Hyundai các loại của TC MOTOR trong tháng 9/2019
Chỉ tính riêng TC MOTOR trong tháng 9 vừa qua đã có doanh số 7.681 xe được tiêu thụ, tăng 43% so với tháng trước. Cộng dồn 9 tháng năm 2019, TC MOTOR có tổng cộng 55.473 xe các loại được bàn giao đến tay khách hàng trong cả nước.
Chỉ tính riêng số liệu công bố của VAMA và TC MOTOR, trong tháng 9 vừa qua có tổng cộng 35.488 xe được tiêu thụ. Tính chung 9 tháng năm 2019, cả nước có tổng số 285.807 xe ô tô các loại được giao cho khách hàng.
Giới chuyên doanh nhận định, với doanh số tiêu thụ bình quân gần 32.000 xe ô tô/tháng của cả VAMA và TC MOTOR trong 9 tháng qua, từ nay đến hết năm còn 3 tháng bán hàng, thị trường ô tô Việt Nam cả năm 2019 có thể đạt tổng doanh số trên 384.000 xe các loại và xác lập kỷ lục mới. Qua đó, sẽ vượt xa doanh số gần 290.000 xe của năm 2018 và con số từng ghi kỷ lục 304.000 xe trong năm 2016 của thị trường ô tô Việt Nam.
Nguồn: Văn Xuyên/BNEWS/TTXVN

Mở cửa nhiều nông sản; Ốc hương, tôm hùm, xoài ứ đọng

Giá xăng có thể giảm vào 16/10/2019; Ngành nông nghiệp mở cửa thêm nhiều loại nông sản; Ốc hương, tôm hùm, xoài ứ đọng; 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỉ USD đều thuộc công nghiệp chế biến, chế tạo… là những tin đáng chú ý trong ngày.

Tin đáng chú ý 15/10/2019: Mở cửa nhiều nông sản; Ốc hương, tôm hùm, xoài ứ đọng

Giá xăng có thể giảm vào ngày 16/10/2019

Theo vietnambiz.vn, lãnh đạo của một doanh nghiệp TP HCM dự báo với xu hướng giảm giá của thị trường xăng dầu thế giới, giá xăng trong nước sẽ giảm nhẹ.

Dự kiến ngày mai (16/10) Liên Bộ Công Thương – Tài chính điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. Ở kì điều chỉnh trước đó (1/10), Liên Bộ tăng khoảng 600 – 900 đồng/lit đối với xăng các loại. Theo đó, giá xăng RON 95 tăng 923 đồng/lít; xăng E5 RON 92 tăng 666 đồng/lít lên lần lượt không cao hơn 21.066 đồng/lít và 19.780 đồng/lít.

Các mặt hàng dầu cũng tăng 424-829 đồng một lít, kg tùy loại.

Theo dữ liệu từ Bộ Công Thương, giá xăng thành phẩm bình quân ở Singapore trong kì này giảm so với kì tính giá ngày 1/10. Giá xăng RON 92 và RON 95 giảm lần lượt 4,8% và 3% so với kì trước xuống 68,726 USD/thùng và 76,215 USD/thùng.

Lãnh đạo của một doanh nghiệp TP HCM dự báo với xu hướng giảm giá của thị trường xăng dầu thế giới, giá xăng trong nước sẽ giảm nhẹ.

Đơn vị này cũng cho rằng có khả năng các cơ quan quản lí sẽ sử dụng quỹ bình ổn xăng dầu để khiến giá mặt hàng xăng, dầu giữ nguyên hoặc giảm ít hơn. Cụ thể, cơ quan quản lí sẽ bỏ hoặc giảm một nửa mức sử dụng quỹ bình ổn hiện hành.

Nếu giảm mức sử dụng quỹ bình ổn về 0 đồng, giá xăng có thể không thay đổi. Khi đó, giá bán lẻ dầu diesel 0.05S dự báo giảm 300 – 350 đồng/lít.

Ngành nông nghiệp sẽ mở cửa thêm nhiều loại nông sản

Thông tin từ vietnambiz.vn, Bộ NN&PTNT sẽ tiếp tục đàm phán, mở cửa thị trường, tháo gỡ rào cản cho các sản phẩm nông, lâm, thủy sản xuất khẩu tại các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Số liệu của Bộ NN&PTNT cho biết 9 tháng đầu năm 2019, mặc dù ngành nông nghiệp chịu tác động lớn bởi diễn biến bất thường của thời tiết, dịch tả heo châu Phi bùng phát và diễn biến phức tạp, khó khăn về thị trường xuất khẩu, nhất là việc thay đổi sang nhập khẩu chính ngạch của thị trường Trung Quốc… Tuy nhiên, toàn ngành vẫn duy trì tăng trưởng khá đạt 2,02%, trong đó thủy sản tăng cao hơn 6%, lâm nghiệp tăng gần 4%.

Đáng chú ý, trong bối cảnh khó khăn về thị trưởng, giá hầu hết các mặt hàng nông sản giảm từ 10 – 15%, nhưng kim ngạch xuất khẩu nông sản vẫn đạt hơn 30 tỉ USD, tăng 2,7% so với với cùng kì năm 2018.

Trước tác động từ xung đột thương mại Mỹ – Trung Quốc tới ngành nông nghiệp, thời gian tới, Bộ NN&PTNT sẽ hỗ trợ xuất khẩu nông sản sang thị trường Trung Quốc như định kì 3 tháng/lần tổ chức họp trao đổi, phối hợp với UBND các tỉnh biên giới, kịp thời nắm bắt, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để xử lí hoặc phản ánh đến các cơ quan hữu quan phía Trung Quốc kịp thời tháo gỡ.

Ốc hương, tôm hùm, xoài ứ đọng tại Khánh Hòa

Theo vietnambiz.vn, mặc dù đã có doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện xuất khẩu sang Trung Quốc, nhưng đến nay vẫn chưa có tên trong danh sách được phép xuất khẩu thủy sản sang quốc gia láng giềng.

Toàn tỉnh Khánh Hòa có hơn 660 ha ao đìa nuôi ốc hương thương phẩm, tập trung chủ yếu tại huyện Vạn Ninh, thị xã Ninh Hòa và TP Cam Ranh, với tổng sản lượng ốc thương phẩm khoảng 1.600 tấn. Tuy nhiên, từ đầu năm đến nay, đầu ra gặp khó, giá ốc hương giảm sâu đã khiến người nuôi lỗ nặng. Do đó, nhiều hộ đã quyết định dừng nuôi hoặc chuyển sang nuôi các đối tượng khác như tôm, cá mú, cá chẽm…

Theo một số vựa chuyên thu mua ốc hương tại thị xã Ninh Hòa và huyện Vạn Ninh, phần lớn ốc hương thương thẩm được thu mua xuất đi Trung Quốc theo đường tiểu ngạch nhưng hiện nay, con đường này bị thắt chặt nên ốc hương ùn ứ, không xuất khẩu được, kéo theo giá ốc giảm sâu.

Một số vựa xuất khẩu theo đường này đã bị cơ quan chức năng Trung Quốc bắt, xử phạt rất nặng nên người nuôi không dám mạo hiểm. Ngoài ốc hương, hai mặt hàng khác của Khánh Hòa cũng chịu ảnh hưởng lớn từ việc thay đổi này là tôm hùm và xoài.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc Trung Quốc thay đổi chính sách nhập khẩu trong khi người nuôi thủy sản không nắm bắt được thông tin nên bị động, một số vùng nuôi vẫn còn tình trạng nuôi không đúng qui hoạch nên gặp khó trong việc cấp mã số vùng nuôi, các sản phẩm thủy sản nuôi chưa đạt các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP nên khó tiếp cận thị trường.

Đã giảm gần 11.000 container phế liệu lưu giữ tại cảng biển

Baotintuc.vn đưa tin, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ngành liên quan, số lượng phế liệu tồn đọng, lưu giữ tại các cảng biển đã giảm gần 11.000 container so với cuối năm 2018.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến cuối tháng 9/2019, số hàng hóa khai báo là phế liệu hiện lưu giữ tại cảng biển chỉ còn 10.102 container, giảm 10.852 container so với cuối năm 2018.

Trong đó, số lượng lưu giữ tại cảng dưới 30 ngày là 3.605 container; số lượng container lưu giữ từ 30 ngày đến 90 ngày là 41 container; số lượng tồn đọng lưu giữ trên 90 ngày là 6.456 container.

Về phương án xử lý hàng hóa tồn đọng là phế liệu tại cảng biển, Bộ Tài chính đã báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ trình tự các bước xử lý hàng hóa tồn đọng là phế liệu tại cảng biển. Đồng thời, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành trong việc xử lý hàng hóa tồn đọng là phế liệu tại cảng biển.

Riêng đối với hàng hóa tồn đọng là chất thải, chất thải nguy hại, phế liệu không đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và hàng hóa tồn đọng là chất thải phóng xạ, Bộ Tài chính đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định xử lý theo hướng yêu cầu hãng tàu có trách nhiệm thực hiện vận chuyển lô hàng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan hải quan.

Trường hợp hãng tàu không thực hiện vận chuyển lô hàng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Bộ Giao thông Vận tải có biện pháp cưỡng chế, xử lý hoặc dừng việc cấp phép ra, vào cảng Việt Nam.

Giá heo hơi dự báo tiếp tục tăng vào cuối năm nhưng không quá cao như Trung Quốc

Theo vietnambiz.vn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết dịch tả heo châu Phi khiến sản lượng thịt heo Việt Nam giảm 8% so với tổng sản lượng trong 2019. Dự kiến giá heo hơi từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục tăng, nhưng không quá cao giống như Trung Quốc.

Ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục chăn nuôi, cho biết vừa qua Cục đã yêu cầu các địa phương gửi báo cáo thống kê số lượng đầu heo. Tính đến ngày 31/8, đã có 56 tỉnh gửi báo cáo với tổng đầu heo đạt 22 triệu con trong đó còn 2,7 triệu con nái và 110 con cụ kị.

“Như vậy, còn 7 tỉnh nữa chưa gửi báo cáo. Chúng tôi ước tính tổng đàn heo cả nước đạt khoảng 24 – 25 triệu con. Do vậy, ngành chăn nuôi hoàn toàn chủ động được nguồn cung cho dịp Tết”, ông Trọng cho biết. Ông Trọng nhấn mạnh đàn heo giảm thấp hơn so với kịch bản.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phùng Đức Tiến, thời gian qua Bộ đã có những động thái quyết liệt để phòng chống dịch tả heo châu Phi trong đó có 60 văn bản chỉ đạo.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết dịch bệnh có xu hướng giảm trong 4 tháng qua. Bộ đang thúc đẩy việc chuyển đổi, gia tăng sản xuất chăn nuôi gia cầm, gia súc lớn, thủy sản… để đáp ứng thực phẩm thay thế thịt heo.

Kết quả là sản lượng các sản phẩm chăn nuôi khác đều tăng, như thịt trâu đạt 70.500 tấn, tăng 3,1%; thịt bò đạt 264.900 tấn, tăng 4,2%; thịt gia cầm đạt 931.400 tấn, tăng 13,5%,…

5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỉ USD đều thuộc công nghiệp chế biến, chế tạo

Thông tin từ vietnambiz.vn, 5 mặt hàng này đóng góp 10,37 tỉ USD trong 9 tháng đầu năm 2019, chiếm 70,34% tổng số 14,75 tỉ USD tăng thêm của tổng kim ngạch xuất khẩu chung so với cùng kì năm trước

Theo số liệu của Bộ Công Thương trong 9 tháng đầu năm 2019, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 194,3 tỉ USD, tăng 8,2%, bằng 73,9% kế hoạch năm. Trong đó, nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục đóng vai trò đóng góp chính vào tăng trưởng xuất khẩu chung, ước đạt 163,66 tỉ USD, tăng 10,3% so với cùng kì năm trước.

Theo đó, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 84,23% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn mức 82,6% của năm 2018 và hơn 81% của năm 2017.

Trong 9 tháng đầu năm 2019 có 31/45 mặt hàng ghi nhận tăng trưởng so với cùng kì năm 2018. Trong đó, có 28 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD, chiếm 90,96% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đáng chú ý, 5 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam đạt trên 10 tỉ USD đều thuộc về nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong đó, điện thoại các loại là mặt hàng có kim ngạch đạt cao nhất với 38,6 tỉ USD, tăng hơn 5% so với cùng kì năm 2018. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng 16,4% trong 9 tháng đầu năm 2018 và 23,3% trong 9 tháng đầu năm 2017.

Nguồn: VITIC

Giá xăng dầu hôm nay 16/10 bất ngờ tăng trở lại

Nhà đầu tư đang tỏ ra hưng phán trước những tín hiệu tích cực mới trên thị trường, qua đó kéo giá xăng dầu hôm nay quay đầu tăng nhẹ.

Ảnh minh hoạ

Ghi nhận của Petrotimes, tính đến đầu giờ sáng 16/10, theo giờ Việt Nam, trên sàn New York Mercantile Exchanghe, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 12/2019 đứng ở mức 52,94 USD/thùng, tăng 0,13 USD/thùng trong phiên. Tuy nhiên, nếu so với cùng thời điểm ngày 15/10, giá dầu WTI giao tháng 12/2019 đã giảm 0,62 USD/thùng.

Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 12/2019 đứng ở mức 58,91 USD/thùng, tăng 0,17 USD/thùng trong phiên nhưng giảm 0,36 USD/thùng so với cùng thời điểm ngày 15/10.

Giá dầu thế giới quay đầu tăng nhẹ sau khi thị trường ghi nhận tín hiệu tích cực mới từ nước Anh.

Chủ tịch Hạ viện Anh Jacob Rees-Mogg ngày 15/10 cho biết hiện đã có đủ sự ủng hộ của các nghị sĩ Anh để thông qua một thỏa thuận Brexit.

Ngoài ra, giới đầu tư cũng tin tưởng với những dữ liệu kinh tế không mấy lạc quan, cả Mỹ và Trung Quốc sẽ sớm có kế hoạch mới nhằm hỗ trợ tăng trưởng, đặc biệt là khả năng FED sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất. Và nếu điều này xảy ra, nó sẽ giúp cải thiện nhu cầu dầu trong thời gian tới.

Hà Lê

Giá vàng hôm nay 16/10: Vàng chìm đáy sâu, nhà đầu tư tháo chạy

Giá vàng thế giới tiếp tục rời xa cột mốc 1.500 USD/ounce, kéo theo giá vàng trong nước đang duy trì ở ngưỡng thấp nhất trong một tháng trở lại đây.

Giá vàng tại thị trường trong nước đang được giao dịch ở ngưỡng sau:

Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức 41,57 triệu đồng/lượng (mua vào) và 41,77 triệu đồng/lượng (bán ra).

Mức giá này tăng 120.000 đồng/lượng theo chiều mua vào và giảm 180.000 đồng/lượng theo chiều bán ra so với phiên giao dịch gần nhất.

Trong khi đó, giá vàng SJC giao dịch lẻ của Công ty TNHH Bảo Tín Minh Châu niêm yết ở mức giá 41,62 triệu đồng/lượng (mua vào) và 41,83 triệu đồng/lượng (bán ra).

Mức giá này tăng 20.000 đồng/lượng theo chiều mua vào và giảm 30.000 đồng/lượng theo chiều bán ra so với phiên giao dịch gần nhất.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn chi nhánh Hà Nội hiện tại đang niêm yết vàng SJC ở mức: 41,47 triệu đồng/lượng (mua vào) và 41,76 triệu đồng/lượng (bán ra).

Mức giá này giảm 90.000 đồng/lượng theo cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch gần nhất.

Giới kinh doanh vàng tại Hà Nội cho biết giao dịch vàng ở thời điểm hiện tại có giảm so với thời điểm giá tăng mạnh do người dân giữ tâm lý nghe ngóng. Lực mua có phần nhỉnh hơn, nhưng chủ yếu là khách mua nhỏ lẻ để tích trữ lâu dài.

Ảnh minh họa. (Nguồn KTĐT)
Ảnh minh họa. (Nguồn: KTĐT) 

Tại thị trường thế giới, giá vàng đang được giao dịch tại ngưỡng 1.482,6 USD/ounce (Theo Kitco News).

Các thị trường chứng khoán chủ chốt ở khu vực châu Á đồng loạt tăng điểm trong phiên sáng đầu tuần, khiến những tài sản an toàn như vàng suy giảm sức hấp dẫn.

Chỉ số Nikkei 225 của chứng khoán Nhật Bản lúc hơn 10h theo giờ Việt Nam tăng gần 1,2%, Shanghai Composite Index của Trung Quốc đại lục tăng hơn 1,3%, trong khi Hang Seng Index của Hồng Kông tăng hơn 1%.

Giá vàng thế giới chao đảo, tăng giảm liên tục trong bối cảnh sự bất định gia tăng trong cuộc đàm phán Mỹ – Trung. Tuy nhiên, nhìn chung sức cầu đối với vàng vẫn lớn.

Mỹ và Trung Quốc đã nhất trí được về giai đoạn 1 của nội dung thỏa thuận chấm dứt thương chiến, theo đó Tổng thống Trump quyết định tạm dừng tăng áp thuế bổ sung trong tuần tới.

Nhà đầu tư trên thị trường quốc tế đang chờ những diễn biến mang tính quyết định về Brexit, thương chiến Mỹ-Trung, và lãi suất đồng USD.

Vào ngày thứ Năm và thứ Sáu tuần này, Anh và Liên minh châu Âu (EU) sẽ đưa ra quyết định về việc Anh rời EU có thỏa thuận hay không có thỏa thuận vào cuối tháng 10.

Thị trường gần đây tăng đặt cược vào khả năng FED hạ lãi suất trong cuộc họp cuối tháng 10 do kinh tế Mỹ có nhiều dấu hiệu suy yếu.

Lê Hải (Tổng hợp)

Giá dầu châu Á giảm phiên chiều 14/10

Giá dầu châu Á đã giảm trong phiên giao dịch chiều 14/10, giữa lúc giới thị trường vẫn tỏ ra thận trọng về các chi tiết ít ỏi của thỏa thuận thương mại giai đoạn một giữa Mỹ và Trung Quốc.

Giá dầu châu Á giảm phiên chiều 14/10. Ảnh minh họa: TTXVN

Vào lúc 14 giờ 30 phút theo giờ Việt Nam, giá dầu Brent Biển Bắc giảm 69 xu Mỹ xuống 59,82 USD/thùng, trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 61 xu Mỹ xuống 54,09 USD/thùng.

Tại vòng đàm phán cấp cao ở Washington cuối tuần trước, Mỹ và Trung Quốc đã đạt được một phần của thỏa thuận thương mại về sở hữu trí tuệ, dịch vụ tài chính và mua bán nông sản, theo đó Trung Quốc đồng ý mua 40 tỷ-50 tỷ USD nông sản Mỹ, trong khi Mỹ sẽ nới lỏng thuế quan đối với hàng nhập khẩu Trung Quốc, cũng như xem xét thúc đẩy một thỏa thuận tiền tệ với Trung Quốc. Tổng thống Mỹ Donald Trump sau đó đã thông báo hoãn kế hoạch tăng thuế từ 25% lên 30% đối với 250 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc, vốn dự kiến có hiệu lực từ ngày 15/10.

Edward Moya, chuyên gia phân tích thị trường cao cấp tại trung tâm OANDA, cho hay giá dầu đi xuống khi thị trường vẫn còn nhiều hoài nghi về thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung. Tuy nhiên, giá dầu vẫn sẽ nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ những rủi ro địa chính trị từ Trung Đông, đặc biệt là căng thẳng giữa Iran và Saudi Arabia cũng như cuộc xung đột Syria-Thổ Nhĩ Kỳ.

Tuy nhiên, các nhà đầu vẫn tỏ ra thận trọng bởi Mỹ và Trung Quốc sẽ mất khoảng 5 tuần nữa để có thể kết thúc giai đoạn một và đạt được một thỏa thuận bằng văn bản, trong đó có các vấn đề then chốt như thao túng tiền tệ.

Vân Anh (Theo Reuters)

Kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt 24,77 tỷ USD, tăng 10,4%

Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc 9 tháng ước đạt 24,77 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ, theo tin từ Bộ Công thương.

Kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt 24,77 tỷ USD, tăng 10,4%

Về nhóm hàng dệt may: Tính chung 9 tháng đầu năm 2019, vải dệt từ sợi tự nhiên ước đạt 475,6 triệu m2, tăng 12,8%; sản xuất vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo ước đạt 881,2 triệu m2, tăng 7,6%; quần áo mặc thường ước đạt 3.791,4 triệu cái, tăng 8,8% so với cùng kỳ.

Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc 9 tháng ước đạt 24,77 tỷ USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ.

Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, các doanh nghiệp dệt may trong nước đứng trước nhiều thách thức trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Do căng thẳng thương mại Mỹ – Trung nên ảnh hưởng tới tỷ giá giữa các đồng tiền, giá hàng hóa gia công tại Việt Nam bị cao hơn so với một số nước trong khu vực như Hàn Quốc, Trung Quốc dẫn tới ảnh hưởng đến các đơn hàng xuất khẩu.

Đặc biệt, việc tiêu thụ sợi và nguyên phụ liệu gặp rất nhiều khó khăn vì thị trường xuất khẩu chủ lực là Trung Quốc (chiếm 60%) cắt giảm lượng nhập hàng. Trong khi đó, mặt hàng may mặc cũng gặp tình trạng sụt giảm đơn hàng.

Nếu như trong năm 2018, tới thời điểm giữa năm, nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành đã có đơn hàng đến hết năm, thì thời điểm năm 2019 chỉ ký được các đơn hàng có số lượng nhỏ và ký theo tháng.

Tâm lý chung của người mua đều lo ngại cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc sẽ leo thang, nên các đơn hàng bị “chia nhỏ” thay vì đặt số lượng lớn như những năm trước.

Nhìn chung, 9 tháng đầu năm 2019, sản xuất và xuất khẩu dệt may đều duy trì sự tăng trưởng so với cùng kỳ, tuy nhiên do các đơn hàng liên tục thay đổi, nên các doanh nghiệp cần phải có nhiều biện pháp nhằm thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh để phù hợp với tình hình.

Về sản xuất của ngành da giày: Sản xuất của ngành tháng 9 năm 2019 tiếp tục tăng trưởng tốt chủ yếu nhờ cơ hội và triển vọng phát triển, mở rộng thị trường từ hiệu ứng của các Hiệp định thương mại tự do mang lại.

Chỉ số sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 9 tháng đầu năm 2019 tăng 8,9% so với cùng kỳ. Sản lượng giầy, dép da 9 tháng đầu năm 2019 ước đạt 210 triệu đôi, tăng 5,3% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu giầy, dép các loại ước đạt 13,33 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ.

NGUYỄN THANH

PV GAS 3 năm liền đứng thứ 3 trong Top 1.000 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam

Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) vừa chính thức công bố danh sách 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (V1000) năm 2018. Theo đó, Tổng công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS) tiếp tục đứng thứ 3 trong danh sách.

Qua 3 năm thực hiện công khai V1000 (2016-2018), căn cứ kết quả rà soát, tổng hợp của Tổng cục Thuế, có 555 doanh nghiệp có 3 năm liên tiếp thuộc danh sách V1000 của năm 2018, 2017 và 2016. Thứ hạng của PV GAS liên tục trong 3 năm đó đều chiếm vị trí thứ 3 với những thành tích nổi bật.

Theo kết quả thống kê của Tổng cục Thuế, tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp của các doanh nghiệp trong danh sách V1000 năm 2018 chiếm 60,3% tổng thu ngân sách về thuế thu nhập doanh nghiệp. Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp trong danh sách V1000 năm 2018 tăng 8,3% so với tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp của các doanh nghiệp thuộc danh sách V1000 năm 2017.

pv gas 3 nam lien dung thu 3 trong top 1000 doanh nghiep nop thue lon nhat viet nam
Công trình khí PM3 – Cà Mau

Theo Tổng cục Thuế, các doanh nghiệp thuộc danh sách V1000 năm 2018 chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh với tổng số nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2018 chiếm 66,4% so với tổng số nộp của V1000 năm 2018. Trong 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh lớn nhất trong năm 2018 có trụ sở chính tập trung chủ yếu tại các tỉnh/thành phố lớn như TP HCM, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai.

Cũng theo thống kê, 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất năm 2018 có hoạt động kinh doanh thuộc nhiều ngành nghề khác nhau. Trong đó, một số ngành có tỷ trọng đóng góp lớn trong V1000 năm 2018 như công nghiệp chế biến chế tạo (có số nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2018 chiếm 33,37% so với tổng số nộp của V1000 năm 2018); tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (chiếm 18,78%); kinh doanh bất động sản (chiếm 10,74%). Đáng chú ý, so với năm 2017, trong danh sách 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất năm 2018 đã loại ra 299 doanh nghiệp có trong danh sách V1000 năm 2017; đồng thời, đã bổ sung tương ứng 299 doanh nghiệp không thuộc danh sách V1000 năm 2017 vào danh sách 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất năm 2018 do đáp ứng được các tiêu chí của Tổng cục Thuế.

Năm 2018, PV GAS đã hoàn thành hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch đề ra, tiếp tục thuộc hàng dẫn đầu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) về doanh thu và lợi nhuận, đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước gồm gần 5.400 tỷ đồng (mà tỷ trọng lớn chính là thuế thu nhập doanh nghiệp). PV GAS đã vượt mức kế hoạch sản lượng từ 4-52% (sản xuất và cung cấp trên 9,6 tỷ m3 khí, trên 1,6 triệu tấn LPG, trên 95 ngàn tấn condensate), trong đó chỉ tiêu sản lượng LPG và condensate về đích trước kế hoạch từ 2-3 tháng; các chỉ tiêu tài chính hoàn thành vượt mức kế hoạch từ 33-83% (doanh thu 74.050 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 14.098 tỷ đồng), về đích trước kế hoạch 2-3 tháng và tăng từ 12%-14% so với năm 2017, là Top đầu các đơn vị trong Tập đoàn có tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu đạt 26%, trên vốn điều lệ đạt 59%; tiếp tục cung cấp khí ổn định để sản xuất gần 30% sản lượng điện, 70% đạm, 60% thị phần LPG cả nước.

Trong hoạt động tài chính, PV GAS đảm bảo quản lý, bảo toàn và sử dụng vốn hiệu quả. Hoàn thành thanh toán cổ tức 40% vốn điều lệ. Trên cơ sở kế hoạch năm 2018 được PVN/PV GAS phê duyệt/chấp thuận, PV GAS đã tổ chức rà soát chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng kế hoạch tiết kiệm, tiết giảm chi phí trong năm 2018, cũng như phân giao kế hoạch tiết giảm, ban hành Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tổng giá trị kế hoạch tiết giảm năm 2018 của toàn PV GAS là 166 tỷ đồng, kết quả PV GAS đã thực hiện tiết giảm trên 170 tỷ đồng, bằng 102% kế hoạch năm (tiết giảm từ chi phí vận hành/quản lý phân xưởng/quản lý chung; chi phí nhiên liệu, nguyên liệu, vật tư thiết bị, năng lượng; tiết giảm lĩnh vực đầu tư).

P.V

9 tháng, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng khá 2,02%

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 9 tháng ngành nông nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá, đạt 2,02% góp phần vào tăng trưởng chung của cả nước. Trong đó, thủy sản tăng cao 6,12%, lâm nghiệp tăng 3,98%.

.
Thuỷ sản và lâm nghiệp là hai mặt hàng duy trì mức độ tăng trưởng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng khá, đạt 2,02%

Tại buổi họp báo thường kỳ qúy III diễn ra chiều ngày 14/10, ông Lê Văn Thành, Chánh văn phòng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, 9 tháng năm 2019, ngành nông nghiệp chịu tác động lớn bởi diễn biến bất thường của thời tiết gây hạn hán, lũ lụt ở một số nơi (Tây Nguyên, Bắc và Nam Trung Bộ); dịch tả lợn châu Phi bùng phát và diễn biến phức tạp; khó khăn về thị trường xuất khẩu, nhất là việc thay đổi sang nhập khẩu chính ngạch của thị trường Trung Quốc…

Trong bối cảnh đó, toàn ngành đã nỗ lực vượt qua khó khăn đã đạt được những kết quả khả quan, nhiều lĩnh vực sản xuất của ngành vẫn đạt kết quả cao. Đầu tiên phải nói đến, toàn ngành duy trì tăng trưởng khá đạt 2,02%, đã góp phần vào tăng trưởng chung của cả nước; trong đó thủy sản tăng cao 6,12%, lâm nghiệp tăng 3,98%.

Đáng chú ý, trong bối cảnh khó khăn về thị trường, giá hầu hết các mặt hàng nông sản giảm từ 10-15%, kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt 30,02 tỷ USD, tăng 2,7% so với với cùng kỳ năm 2018.

Trong đó, nổi bật phải kể tới có 6 nhóm/sản phẩm có giá trị xuất khẩu trên 2 tỷ USD gồm: Gỗ và sản phẩm gỗ (7,5 tỷ USD, tăng 16,8%); cà phê (2,1 tỷ USD, giảm 21,8%); gạo (gần 2,24 tỷ USD, giảm 9,8%), hạt điều (2,4 tỷ USD, giảm 5,4%); rau, quả (2,15 tỷ USD, giảm 4,3%) và tôm (2,4 tỷ USD, giảm 8,0%). Thặng dư thương mại 9 tháng toàn ngành đạt 6,86 tỷ USD, cao hơn khoảng 1 tỷ USD so với cùng kỳ 2018.

Theo ông Thành, thời gian qua, toàn ngành đã tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tháo gỡ các rào cản thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, nhất là việc tập trung tháo gỡ khó khăn với thị trường Trung Quốc, mở cửa các thị trường mới đối với nhiều sản phẩm xuất khẩu như xoài vào Mỹ, Anh, Australia…

“Tính đến hết tháng 8, giá trị xuất khẩu nông sản từ Việt Nam sang Trung Quốc đạt 5,31 tỷ USD; Mỹ đạt 5,35 tỷ USD. Nhập khẩu nông sản từ Trung Quốc vào Việt Nam là 1,53 tỷ USD và Mỹ là 2,51 tỷ USD”, ông Thành cho biết thêm.

.
Ở thị trường EU, ngành nông nghiệp sẽ tập trung làm việc với các cơ quan chức năng của EU tháo gỡ thẻ vàng đối với thủy sản xuất khẩu.

3 tháng cuối năm tập trung thức đẩy xuất khẩu vào 5 thị trường lớn

Đó là Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thêm cũng cho biết, trước tác động từ xung đột thương mại Mỹ – Trung Quốc tới ngành nông nghiệp, thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ phối hợp với Bộ Công thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện nhiều các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản.

Cụ thể, đối với thị trường Trung Quốc, thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Công thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện các giải pháp:  Đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn chia sẻ thông tin, hỗ trợ xuất khẩu nông sản sang thị trường Trung Quốc; định kỳ 3 tháng/lần tổ chức họp trao đổi, phối hợp với UBND các tỉnh biên giới để kịp thời nắm bắt, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để xử lý hoặc phản ánh đến các cơ quan hữu quan phía Trung Quốc kịp thời tháo gỡ.

Ngoài ra, tiếp tục đàm phán, mở cửa thị trường, tháo gỡ rào cản cho sản phẩm nông, thủy sản như: xuất khẩu lô sữa đầu tiên sang Trung Quốc vào tháng 10/2019; đẩy nhanh tiến trình đánh giá rủi ro để xuất sớm xuất khẩu Tổ yến;  Sầu riêng, Chanh leo, khoai Lang; Bơ, Thạch đen; Bưởi, Dừa, Na và tháo gỡ khó khăn cho 2 doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam…..

Đối với thị trường Mỹ, Bộ sẽ tiếp tục đẩy mạnh đề nghị Hoa Kỳ sớm công nhận tương đương đối với xuất khẩu cá tra của Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuất khẩu cá Tra sang Hoa Kỳ; tập trung tháo gỡ rào cản kỹ thuật, giải quyết vướng mắc sản phẩm thủy sản ở các thị trường Hoa Kỳ (Chương trình Giám sát nhập khẩu thủy sản SIMP áp dụng nhiều quy định kiểm soát mặt hàng thủy sản trong đó có tôm, các ngừ, cá kiếm, bào ngư, hải sâm; chương trình Farm Bill).

Còn thị trường EU sẽ tập trung làm việc với các cơ quan chức năng của EU tháo gỡ thẻ vàng đối với thủy sản xuất khẩu, đồng thời hài hòa hóa các quy định về kiểm soát thủy sản theo thông lệ quốc tế; đẩy mạnh quảng bá, xuất khẩu nông sản sau khi Hiệp định Thương mại Tự do FTA Việt Nam-EU được ký kết…

Về thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc tập trung đàm phán, mở cửa thị trường cho các sản phẩm hoa quả vào thị trường Nhật Bản bao gồm: nhãn, vải, bưởi, chôm chôm, vú sữa. Tổ chức xúc tiến hàng nông sản vào các chuỗi siêu thị phân phối lớn (như AEON) tại Nhật Bản; tháo gỡ vướng mắc trong kiểm dịch chất lượng sản phẩm thủy sản vào Hàn Quốc…

Chia sẻ tại buổi họp báo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, cùng với việc tập trung vào các thị trường xuất khẩu, Bộ sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể của từng ngành hàng như trồng trọt; chăn nuôi; thuỷ sản; lâm nghiệp… nhằm đảm bảo mục tiêu tăng trưởng của toàn ngành trong năm 2019.

Thu Phương

Phát triển điện gió – Lợi thế của PVN

Ngành Dầu khí với lợi thế về kinh nghiệm xây dựng các công trình trên biển sẽ có khả năng đóng góp rất lớn trong việc phát triển các dự án về điện gió ngoài khơi, góp phần đa dạng hóa nguồn năng lượng tái tạo, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong tương lai.

Tiềm năng lớn

Tập đoàn Dầu khí Bristish Petroleum (BP) ước tính, vào năm 2040, điện gió, điện mặt trời và các năng lượng tái tạo khác sẽ chiếm khoảng 30% nguồn cung điện năng trên thế giới. Đặc biệt, ở khu vực các nước châu Âu, tỷ lệ này có thể lên tới 50%. Ngoài ra, BP cũng đặt nhiều kỳ vọng vào tốc độ tăng trưởng của năng lượng tái tạo. Cụ thể, trong khi dầu mất gần 45 năm để tăng từ mức 1% năng lượng toàn cầu lên 10% và khí đốt mất hơn 50 năm, thì năng lượng tái tạo dự kiến sẽ làm được điều này trong vòng 25 năm. Năng lượng tái tạo dự kiến sẽ tăng 7,1% mỗi năm trong hai thập niên tới và thay thế than đá để trở thành nguồn năng lượng hàng đầu thế giới vào năm 2040.

phat trien dien gio loi the cua pvn
Cánh đồng điện gió tại Bạc Liêu

Trong số các nguồn năng lượng tái tạo được khai thác, điện gió với nhiều ưu điểm đã phát triển với tốc độ vượt bậc, tăng theo hàm số mũ trong thập niên qua. Theo thống kê của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC), điện gió đã phát triển rộng khắp trên hơn 80 quốc gia, với tổng công suất lắp đặt toàn cầu năm 2016 lên đến 487 GW, trong đó 28 nước đã đạt công suất lắp đặt trên 1 GW.

Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng gió lớn, tập trung chủ yếu ở vùng duyên hải miền Trung, miền Nam như: Ninh Thuận, Bình Thuận, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu… và các đảo.

Theo Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), với hơn 39% tổng diện tích của Việt Nam được ước tính có tốc độ gió trung bình hằng năm lớn hơn 6 m/s, ở độ cao 65m, tương đương với tổng công suất 512 GW. Đặc biệt, hơn 8% diện tích Việt Nam được xếp hạng có tiềm năng gió rất tốt (tốc độ gió ở độ cao 65m tới 7-8 m/s), có thể tạo ra hơn 110 GW.

Với những ưu đãi về điều kiện thiên nhiên như vậy, Việt Nam đã đặt ra lộ trình sẽ phát triển 800 MW điện gió vào năm 2020; 2.000 MW vào năm 2025 và 6.000 MW vào năm 2030.

Về lý thuyết, Việt Nam có thể phát triển đến 9,1 triệu MW năng lượng tái tạo, trong đó, điện gió đạt gần 2,1 triệu MW. Tuy nhiên trên thực tế, phát triển điện gió của Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Hiện tổng công suất lắp đặt mới đạt khoảng 228 MW (tính đến cuối năm 2018) – một con số khiêm tốn so với tiềm năng cũng như so với các nước đang phát triển điện gió trên thế giới.

Phát triển chưa tương xứng

Từ khi có Quyết định 39/2018/QĐ-TTg, đã có 16 dự án điện gió với công suất 1.190 MW được bổ sung vào quy hoạch. Bên cạnh đó, đang có 66 dự án điện gió với công suất 6.493 MW được các nhà đầu tư ồ ạt xin bổ sung vào quy hoạch để hưởng mức giá hấp dẫn 8,5 Uscent/kWh cho dự án trên đất liền và 9,8 UScent/kWh cho dự án ngoài khơi, với thời gian 20 năm, vận hành thương mại trước ngày 1-11-2021. Tuy nhiên, theo nhận định của các nhà chuyên môn, tương tự các dự án điện mặt trời, dự án điện gió chưa được bổ sung quy hoạch đang phải đối mặt với rất nhiều thủ tục khi Luật Quy hoạch được áp dụng từ ngày 1-1-2019.

phat trien dien gio loi the cua pvn

Bên cạnh đó, hệ thống kết cấu hạ tầng chưa bảo đảm cũng là rào cản lớn đối với các nhà đầu tư vào điện gió. Các địa phương phê duyệt đầu tư nhiều dự án điện gió nhưng mạng lưới truyền tải điện chưa sẵn có. Trong khi đó, các dự án điện gió thường ở những nơi có phụ tải thấp, muốn nối lưới cần rất nhiều thời gian để xây dựng đường dây truyền tải. Thời gian bồi thường giải phóng mặt bằng rất lâu cũng là một rủi ro cho nhà đầu tư.

Theo ông Ashish Sethia, Giám đốc phân tích và cố vấn khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Tập đoàn Tài chính năng lượng mới Bloomberg, đầu tư cho điện gió là lĩnh vực đòi hỏi chi phí lớn. Vì vậy, hợp đồng mua bán điện của Việt Nam cần sớm được chuẩn hóa, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư và được các tổ chức tài chính thế giới chấp nhận.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) được đánh giá có năng lực lớn trong việc phát triển điện gió. Tuy nhiên, đến nay PVN vẫn mới chỉ tham gia vào một số công đoạn của dự án điện gió.

Trao đổi với phóng viên Báo Năng lượng Mới, ông Nguyễn Quốc Tuấn – Ủy viên HĐQT Tổng công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) cho hay, nguồn năng lượng như thủy điện đã khai thác đến giới hạn, đất để phát triển điện mặt trời cũng có giới hạn vì không phải chỗ nào cũng có thể tìm được nơi có bức xạ nhiệt cao, điện gió trên đất liền gặp nhiều khó khăn trong giải phóng mặt bằng, trong khi đó, đầu tư điện gió ngoài khơi rất tiềm năng lại đang bỏ ngỏ. Để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, ngoài dầu, khí, điện, cần khuyến khích PVN đầu tư phát triển thêm nguồn điện gió ngoài khơi.

Dự án điện gió hiện nay đáng chú ý nhất là Dự án điện gió ngoài khơi mũi Kê Gà, Bình Thuận của Tập đoàn Enterprize Energy (Anh). Hiện Enterprize Energy đang khảo sát chi tiết, nghiên cứu và đầu tư xây dựng dự án. Diện tích khảo sát là 2.800km2, trong đó, khu vực dự án là 2.000km2 và khu vực cáp điện ngầm truyền tải về bờ là 800km2, cách đất liền tối thiểu 20km tính từ mũi Kê Gà. Dự kiến, tổng công suất của dự án là 3.400 MW với vốn đầu tư khoảng 11,9 tỉ USD. Mặc dù số vốn đầu tư lớn nhưng dự án được kỳ vọng có khả năng thu hồi vốn cao và cung cấp nguồn điện dồi dào.

Quy mô mỗi turbine mà các nhà đầu tư đang sử dụng có công suất 9,5 MW, kích thước cánh quạt rộng 180m, nặng 300 tấn. PVC được chọn là nhà thầu thi công một số hạng mục trên bờ và 31 chân đế trên biển; Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro được chọn là nhà thầu thi công 33 chân đế ở ngoài khơi. Dự kiến đầu năm 2022, dự án sẽ đưa vào bờ pha 1 với công suất 600 MW.

“Điện gió là một lĩnh vực hết sức mới và là xu thế của thế giới về phát triển năng lượng tái tạo. Tôi mong ngành Dầu khí có những chiến lược cụ thể hơn về phát triển nguồn năng lượng này, không nên chậm trễ khai thác mà bỏ lỡ một nguồn năng lượng vô cùng tiềm năng” – ông Tuấn nhấn mạnh.

Dự án điện gió ngoài khơi Kê Gà được đánh giá là đột phá mới cho lĩnh vực năng lượng của Việt Nam. Nếu thành công, dự án sẽ mở ra một nguồn năng lượng xanh có công suất tới hàng chục nghìn MW, đồng thời sẽ hình thành một ngành kinh tế – kỹ thuật mới có giá trị đến hàng trăm tỉ USD. Trong đó, ngành Dầu khí với những lợi thế về kinh nghiệm xây dựng, lắp đặt các công trình trên biển sẽ có khả năng đóng góp rất lớn cho các dự án điện gió ngoài khơi có triển vọng trở thành hiện thực, góp phần đa dạng hóa nguồn năng lượng tái tạo, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong tương lai.

Bên cạnh đó, PVN cũng cần có những đánh giá, nghiên cứu, đầu tư đúng mức đối với các nguồn năng lượng tái tạo để có chiến lược phát triển đúng đắn, nhất là trong bối cảnh các nguồn dầu khí trong nước suy giảm.

Trong Dự án điện gió ngoài khơi mũi Kê Gà, Bình Thuận của Tập đoàn Enterprize Energy (Anh), PVC thi công một số hạng mục trên bờ và 31 chân đế trên biển; Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro thi công 33 chân đế ở ngoài khơi. Dự kiến đầu năm 2022, dự án sẽ đưa vào bờ pha 1 với công suất 600 MW.

Minh Lê

Kim ngạch thương mại Việt Nam – ASEM đạt 256 tỷ USD

Theo số liệu thống kê 9 tháng năm 2019 được Tổng cục Hải quan công bố mới đây, tổng giá trị xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các thành viên ASEM đạt 256 tỷ USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2018. Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam đối với các thành viên ASEM ghi nhận thâm hụt hơn 29 tỷ USD, với tỷ lệ nhập siêu 26%.

Ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet

Ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet

Trong đó, đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEM là Trung Quốc, với giá trị xuất nhập khẩu đạt 83,68 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 32,7%. Hàn Quốc và Nhật Bản đứng ở những vị trí tiếp theo với giá trị xuất nhập khẩu lần lượt đạt 50,1 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 19,6%) và 29,17 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 11,4%).

Lê Hải

Xuất khẩu thép giảm trong tháng 9

Theo Bộ Công Thương, sản xuất thép trong nước 9 tháng đầu năm tương đối ổn định, song xuất khẩu thép ra thị trường nước ngoài khó khăn hơn bởi các hàng rào thương mại.

Ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet

Ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn Internet.

Số liệu của Hiệp hội Thép Việt Nam cũng ghi nhận, trong tháng 9/2019, xuất khẩu thép đạt 364.719 tấn, giảm 2,55% so với tháng 8/2019 và giảm 4,8% so với cùng kỳ năm 2018. Tính chung 9 tháng, xuất khẩu thép là 3.546.274 tấn, tăng 2,9% so với 9 tháng 2018. Một số sản phẩm thép Việt Nam xuất khẩu giảm như: tôn mạ kim loại và sơn phủ màu; ống thép…

Trung Hiếu

Kinh tế Việt Nam nhảy vọt về năng lực cạnh tranh: “Trái ngọt” của sự nỗ lực bền bỉ

Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới đã cho thấy sự tiến bộ vượt trội của Việt Nam khi tăng tới 10 bậc về năng lực cạnh tranh.

Với việc tăng 10 bậc, năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 67 trong 141 nền kinh tế thế giới.

Trong bài viết có nhan đề “Nỗ lực bền bỉ và tăng hạng ngoạn mục”, tờ Lao động bình luận, đây là kết quả tích cực ghi đậm dấu ấn từ những nỗ lực bền bỉ và quyết liệt của Chính phủ và các Bộ, ban ngành về đơn giản hóa thủ tục kinh doanh trong thời gian qua. Vị trí thứ 67 cũng là vị trí cao nhất mà Việt Nam từng đạt được.

Kinh tế Việt Nam nhảy vọt về năng lực cạnh tranh: Trái ngọt của sự nỗ lực bền bỉ - Ảnh 1.

Với việc tăng 10 bậc, năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 67 trong 141 nền kinh tế thế giới

Cũng viết về nội dung này, tờ Thời báo Ngân hàng đã dẫn số liệu cụ thể cho biết số điểm hiện tại của Việt Nam là 61,5 – tăng 3,5 điểm so với năm ngoái, trở thành nền kinh tế có mức tăng cao nhất về điểm số trên thế giới trong năm nay. Và khi đưa ra đánh giá này, Diễn đàn Kinh tế thế giới cũng nhìn nhận Việt Nam đang là nền kinh tế thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài để trở thành một trung tâm thương mại của khu vực.

Cũng theoThời báo Ngân hàng, Báo cáo của Diễn đàn kinh tế giới dựa trên 12 trụ cột với 103 chỉ số thành phần. Tại đây đặc biệt là chỉ số về lạm phát ổn định của Việt Nam đạt điểm cao tuyệt đối. Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính Nguyễn Đức Độ cho rằng, đây là kết quả của sự kiên định điều hành lấy ổn định vĩ mô là mục tiêu hàng đầu, và sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng trong điều hành cộng hưởng với nỗ lực cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh.

Kinh tế Việt Nam nhảy vọt về năng lực cạnh tranh: Trái ngọt của sự nỗ lực bền bỉ - Ảnh 2.

Trong khi đó trên bài viết trên tờ Diễn đàn Doanh nghiệp, Chủ tịch Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc khẳng định, có được kết quả này là nhờ nỗ lực bền bỉ trong cải cách của Chính phủ thời gian qua.

Đó là nỗ lực ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do; cắt giảm, đơn giản hóa một nửa điều kiện kinh doanh; thực hiện Chính phủ điện tử. Ông Vũ Tiến Lộc cũng khẳng định, dư địa lớn nhất và nguồn lực lớn nhất của tăng trưởng vẫn là cải cách thể chế và tinh thần khởi nghiệp của doanh nhân Việt.

Theo PV/VTV

Tỷ giá ngoại tệ ngày 14/10, USD và bảng Anh tăng giá

Đồng bảng Anh nhảy vọt lên mức cao nhất, trong khi đô la Mỹ giảm nhẹ, còn Yên Nhật không có nhiều thay đổi.

Thủ tướng Anh Vladimir Johnson cho hay, ông đã có cách để tiến tới thỏa thuận Brexit với Liên minh châu Âu. Bình luận của ông đã được đưa ra liên quan đến các cuộc thảo luận với Thủ tướng Ireland.

Thủ tướng nhấn mạnh: “Trong mọi trường hợp, chúng tôi sẽ không làm bất kỳ điều gì có thể gây nguy hại cho Vương quốc Anh, sẽ tận dụng được tối đa những lợi ích mà Brexit mang lại. Tôi nghĩ là tôi có thể đáp ứng được kỳ vọng của người dân và điều tốt nhất phải làm bây giờ là hãy để các nhà đàm phán tiếp tục và hoàn thành công việc của mình.”

Tỷ giá ngoại tệ ngày 14/10, USD và bảng Anh tăng giá

Anh và Liên minh châu Âu nhất trí tiếp tục các cuộc đàm phán sâu hơn nhằm khơi thông bế tắc liên quan tới tiến trình Brexit, trong bối cảnh còn chưa đầy 20 ngày nữa là tới thời điểm Anh chính thức phải rời khối.

Tỷ giá GBP/USD tăng vọt 1,8% lên 1,2658, trong khi EUR/GBP giảm 1,3% xuống 0,8724. Tỷ giá EUR/USD tăng 0,5% lên 1.1051.

Đồng đô la Mỹ giảm 0,4% xuống 97,998 do sự lạc quan thương mại dẫn đến việc bán tháo các tài sản.

Tâm lý thận trọng của nhà đầu tư trước một loạt những sự kiện đáng quan tâm như Fed công bố biên bản cuộc họp tháng Chín và triển vọng đàm phán thương mại Mỹ – Trung.

Kết thúc cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung diễn ra vào ngày 11/10, Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin cho biết một trong những thoả thuận đạt được là hằng năm, Trung Quốc sẽ mua lượng lớn nông sản Mỹ giá trị 40-50 tỷ USD (kéo dài trong hai năm).

Đồng yên Nhật Bản, được coi là nơi trú ẩn an toàn trong thời kỳ hỗn loạn thị trường, đã giảm, với USD/JPY tăng 0,5% lên 108,52.

Ngày 11/10, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ ở mức: 23.154 đồng (giảm 3 đồng). Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 23.200 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.802 đồng (không đổi).

Đa số các ngân hàng thương mại giữ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ hôm nay không đổi so với cuối giờ phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.140 đồng (mua) và 23.260 đồng (bán).

Vietcombank và BIDV niêm yết ở mức: 23.140 đồng (mua) và 23.260 đồng (bán). Vietinbank: 23.236 đồng (mua) và 23.256 đồng (bán). ACB: 23.150 đồng (mua) và 23.250 đồng (bán).

Đông Sơn

Giá vàng có dấu hiệu phục hồi, vàng trong nước có thể tiếp tục giảm (ngày 14/10)

Vàng quay đầu tăng nhẹ sau khi khép lại tuần giảm giá bằng phiên giảm mạnh nhất  kể từ tháng 3/2019 đến nay.  Kết quả tích cực từ vòng đàm phán thương mại Mỹ – Trung  có vẻ không làm giảm nhiệt thị trường vàng quá lâu.

Mở cửa phiên giao dịch trên thị trường châu Á sáng nay,  giá vàng giao ngay ở 1.484,12 USD/Ounce, tăng nhẹ so với phiên kết thúc giao dịch cuối cùng trong tuần qua. Tại thị trường tương lai, giá vàng giao tháng 12/2019 ở mức 1.489 USD/ounce, tăng 0,25 USD/ounce, tương đương mức tăng 0.02%.

 

giá vàng trong tuần
Giá vàng đã có mức giảm lớn nhất trong hơn 7 tháng qua

Giá vàng hôm nay tăng 18,9% trong vòng một năm qua. Tính theo tỷ USD liên ngân hàng, giá vàng vàng thế giới hiện có giá 41,25 triệu đồng/lượng chư bao gồm thuế và phí, thấp hơn giá vàng trong nước 550 ngàn đồng/lượng.

Trong tuần qua, giá vàng thế giới đã giảm  1,6%, mức giảm lớn nhất trong hơn 7 tháng qua.

Thương hiệu vàng SJC cũng được các doanh nghiệp điều chỉnh giảm từ 200.000 – 300.000 đồng/lượng trong tuần qua. Tại thị trường trong nước, mở cửa phiên giao dịch ngày 14/10, giá vàng 9999 trong nước được niêm yết tại TP Hồ Chí Minh ở mức 41,50 – 41,80 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra). Trong khi đó, giá vàng SJC được Tập đoàn DOJI niêm yết tại Hà Nội ở mức 41,40 – 41,90 triệu đồng/lượng.

Còn tại Phú Quý SJC, giá vàng miếng SJC đứng ở mức 41,45 – 42,05 triệu đồng/lượng. Và tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng 9999 được niêm yết ở mức 41,65 – 41,95 triệu đồng/lượng.

giá vàng trong nước
Giá vàng tại thị trường trong nước đang tỏng chu kỳ giảm

Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng giá vàng vẫn khá ổn định và duy trì được đà tăng trong dài hạn, vàng sẽ sớm tăng trở lại mức 1.500 USD/ounce, thậm chí có thể tăng lên tới 1.650 USD/ounce vào năm tới.

Giám đốc điều hành quản lý tài sản George Gero trao đổi với Kitco News cho biết vàng có thể tăng trở lại ngay đầu tuần tới, lấy lại mức kháng cự 1.500 USD/ounce.  Những vấn đề về địa chính trị vẫn chưa rõ ràng sẽ tiếp tục ảnh hưởng đưa giá vàng đi lên, thậm chí tín hiệu khả quan từ cuộc chiến Mỹ – Trung cũng vẫn chưa đủ lực để vàng giảm sâu.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết một phần trong thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có thể mở ra cơ hội để Trung Quốc mua lô máy bay trị giá 20 tỷ USD của hãng Boeing, cùng với hàng tỷ USD hàng nông sản của Mỹ.  Tổng thống Trump nhấn mạnh việc Trung Quốc tăng mua hàng nông sản Mỹ, một đề nghị do Bắc Kinh đưa ra từ hơn hai năm trước. Việc này sẽ đi kèm theo những cam kết chưa xác định về sở hữu trí tuệ.

Trước đó, Mỹ đã quyết định hoãn kế hoạch tăng thuế từ 25% lên 30% đối với 250 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc dự kiến có hiệu lực từ ngày 15/10 tới, trong khi Trung Quốc đã đồng ý mua 40 -50 tỷ USD nông sản Mỹ khi hai bên đạt một phần thỏa thuận trong cuộc tranh cãi thương mại kéo dài 15 tháng qua.

Tuy nhiên, ông Trump chưa thay đổi kế hoạch áp thuế bổ sung đối với 160 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc vào ngày 15/12 tới. Kế hoạch này sẽ ảnh hưởng tới rất nhiều mặt hàng của Trung Quốc nhập khẩu vào Mỹ, từ quần áo, đồ chơi đến điện thoại thông minh…

vàng vẫn có dư địa tăng
Các nhà phân tích cho rằng giá vàng vẫn khá ổn định và duy trì được đà tăng trong dài hạn

Theo khảo sát của Kitco News trong tuần này, có  29% nhà đầu tư của Wall Street cho rằng giá vàng sẽ tăng trong tuần tới, 47% dự đoán vàng sẽ giảm và 24%, cho thấy thị trường có thể sẽ đi ngang. Trong khi đó, có tới 59% nhà đầu tư Main Street nhận định rằng vàng tăng giá, chỉ có 23%, dự đoán vàng sẽ giảm 18% nhà đầu tư cho rằng vàng sẽ đi ngang.

Hiện giá vàng vẫn được hỗ trợ bởi khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) hạ lãi suất vào cuối tháng này để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khả năng này đã giảm xuống trong ngày thứ Sáu, khi dữ liệu cho thấy niềm tin của người tiêu dùng Mỹ có sự cải thiện trong tháng 10.

Nguyên Hà

Thị trường ô tô Việt Nam 2019 có thể xác lập kỷ lục mới về doanh số

Với sức tiêu thụ bình quân của VAMA và của TC MOTOR gần 32.000 xe/tháng trong 9 tháng qua, thị trường ô tô Việt Nam cả năm 2019 có thể xác lập kỷ lục mới về doanh số bán hàng.

Thị trường ô tô Việt Nam 2019 có thể xác lập kỷ lục mới về doanh số

Doanh số bán xe của VAMA trong 9 tháng năm 2019

Chiều 10/10, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) công bố doanh số bán hàng của các đơn vị thành viên trong tháng 9/2019 đạt 27.767 xe các loại, tăng 29% so với tháng trước.
Trong tổng doanh số trên, có 20.916 xe du lịch, tăng 37%; 6.532 xe thương mại, tăng 10%; và 319 xe chuyên dụng, tăng 10% so với tháng liền trước.
Xét về xuất xứ xe, nếu như các tháng trước, doanh số bán xe lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu có sự tăng giảm trái chiều thì trong tháng 9 vừa qua ở hai phân khúc này đều có sự tăng trưởng mạnh so với tháng 8/2019.
Cụ thể, trong khi doanh số bán của xe lắp ráp trong nước đạt 16.994 xe, tăng 35% thì số lượng xe nhập khẩu nguyên chiếc cũng tăng 21% khi có 10.773 xe được bàn giao đến tay khách hàng trong cả nước.

So sánh về doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu trong 9 tháng năm 2019
Tính chung trong 9 tháng năm 2019, các đơn vị thành viên VAMA có tổng doanh số bán 230.334 xe ô tô các loại, tăng 18% so với cùng kì năm ngoái. Trong đó, xe xe ô tô du lịch đạt 168.694 xe, tăng 30%; xe thương mại 57.523 xe, giảm 3%; và xe chuyên dụng đạt 4.117 xe, giảm 27% so với cùng kì năm trước.
Tuy nhiên, theo giới chuyên doanh, con số báo cáo bán hàng trên của VAMA chưa thể hiện hết toàn cảnh thị trường ô tô Việt Nam bởi ngoài các đơn vị thành viên VAMA, còn có sự góp mặt của các thương hiệu TC Motor, Audi, Jaguar, Land Rover, Subaru, Volkswagen, Volvo… và mới đây là VinFast bởi một số đơn vị này là không phải thành viên VAMA hoặc là thành viên như Mercedes-Benz hay Audi nhưng không công bố doanh số bán hàng.

Doanh số bán lẻ xe Hyundai các loại của TC MOTOR trong tháng 9/2019
Chỉ tính riêng TC MOTOR trong tháng 9 vừa qua đã có doanh số 7.681 xe được tiêu thụ, tăng 43% so với tháng trước. Cộng dồn 9 tháng năm 2019, TC MOTOR có tổng cộng 55.473 xe các loại được bàn giao đến tay khách hàng trong cả nước.
Chỉ tính riêng số liệu công bố của VAMA và TC MOTOR, trong tháng 9 vừa qua có tổng cộng 35.488 xe được tiêu thụ. Tính chung 9 tháng năm 2019, cả nước có tổng số 285.807 xe ô tô các loại được giao cho khách hàng.
Giới chuyên doanh nhận định, với doanh số tiêu thụ bình quân gần 32.000 xe ô tô/tháng của cả VAMA và TC MOTOR trong 9 tháng qua, từ nay đến hết năm còn 3 tháng bán hàng, thị trường ô tô Việt Nam cả năm 2019 có thể đạt tổng doanh số trên 384.000 xe các loại và xác lập kỷ lục mới. Qua đó, sẽ vượt xa doanh số gần 290.000 xe của năm 2018 và con số từng ghi kỷ lục 304.000 xe trong năm 2016 của thị trường ô tô Việt Nam.
Nguồn: Văn Xuyên/BNEWS/TTXVN

Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Mỹ tăng mạnh

Trong 8 tháng đầu năm 2019 Mỹ tiếp tục khẳng định vị trí là thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam đạt 3,18 tỷ USD, tăng 33,0% so với cùng kỳ năm 2018.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan cho biết, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 8/2019 đạt 935,17 triệu USD, tăng 8,2% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 671,13 triệu USD, tăng 5,8% so với tháng trước và tăng 21% so với cùng kỳ năm 2018.

Lũy kế 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,61 tỷ USD, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 4,7 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang các thị trường Mỹ, Nhật Bản, Anh, Đức, Đài Loan tăng trưởng khả quan so với cùng kỳ năm 2018, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng chậm và xuất khẩu sang Hàn Quốc, Úc giảm mạnh.

Với tốc độ tăng 33,0% so với cùng kỳ năm 2018, 8 tháng đầu năm 2019 Mỹ tiếp tục khẳng định vị trí là thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, đạt 3,18 tỷ USD; xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Nhật Bản cũng tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2018, đạt 872,88 triệu USD.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu sụt giảm, xu hướng bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vẫn tăng trưởng khả quan. Điều này cho thấy, việc tận dụng tốt cơ hội từ các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới đã mang lại kết quả tích cực cho ngành gỗ trong thời gian qua.

Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc cũng mang lại thuận lợi cho ngành gỗ. Nội lực của doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đã và đang được cải thiện rất lớn. Doanh nghiệp đang thay đổi tư duy quản lý sản xuất lớn theo mô hình chuyên nghiệp dây chuyền. Doanh nghiệp đầu tư công nghệ khá nhanh theo hướng nâng cao năng suất, giảm bớt thâm dụng lao động. Với những thuận lợi có được dự báo ngành gỗ tiếp tục tăng trưởng khả quan trong những tháng cuối năm 2019.

Nhu cầu nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tại các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Canada, Đức và Đài Loan vẫn tiếp tục tăng. Trong đó, Mỹ là thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất, mức thuế nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc tăng khiến giá bán lẻ đồ gỗ nội thất Trung Quốc tại Mỹ tăng. Chính vì thế, các hãng bán lẻ Mỹ phải tìm kiếm nguồn cung từ các quốc gia không bị áp mức tăng thuế nhập khẩu như Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ… Thị trường bán lẻ đồ gỗ nội thất Mỹ có qui mô lên đến 114 tỷ USD, đây là thị trường còn nhiều tiềm năng đối với ngành gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam.

Theo Quỳnh Anh/Nhịp sống kinh tế

Dự báo kinh tế Việt Nam tiếp tục khả quan

Ngân hàng thế giới (WB) ngày 10/10 công bố báo cáo Cập nhật Kinh tế Đông Á – Thái Bình Dương, trong đó dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ đạt 6,6% trong năm nay và 6,5% trong các năm 2020, 2021. Mức dự báo này không thay đổi so với báo cáo khu vực đã được WB công bố hồi tháng 4 vừa qua.

Dự báo kinh tế Việt Nam tiếp tục khả quan

Ảnh minh họa

Việt Nam cũng là nước duy nhất trong khu vực Đông Á – Thái Bình Dương có mức dự báo tăng trưởng kinh tế năm nay và năm 2020 giữ nguyên so với báo cáo trước đó trong khi tất cả các nước khác đều bị điều chỉnh giảm so với dự báo hồi giữa năm.

Ông Jacques Morisset – chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam cho rằng trong bối cảnh tình hình bên ngoài nhiều thách thức như hiện tại, Việt Nam là một điểm sáng trong khu vực. 2 động lực tăng trưởng chính của Việt Nam được xác định là tiêu dùng nội địa và tính cạnh tranh trên toàn cầu. Trước đó, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo rằng tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2019 sẽ đạt khoảng 6,8%.

Bảo An

Pakistan là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2019

Lũy kế 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu chè sang Pakistan đạt 26,1 nghìn tấn, trị giá 52,77 triệu USD, tăng 26,5% về lượng và tăng 14,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu chè trong tháng 8/2019 đạt 12,3 nghìn tấn, trị giá 22,8 triệu USD, giảm 2,7% về lượng, nhưng tăng 6,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng chè trong tháng 8/2019 đạt 1.840,9 USD/tấn, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Lũy kế 8 tháng đầunăm 2019, chè xuất khẩu đạt 81,3 nghìn tấn, trị giá 144,56 triệu USD, tăng 0,5% về lượng và tăng 9,0% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng chè trong 8 tháng đầu năm 2019 đạt 1.777,7 USD/tấn, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu chè sang 2 thị trường lớn nhất là Pakistan và Đài Loan tăng so với cùng kỳ năm 2018; trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc, Nga, Indonesia… lại giảm.

Pakistan là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2019, đạt 26,1 nghìn tấn, trị giá 52,77 triệu USD, tăng 26,5% về lượng và tăng 14,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Đáng chú ý, xuất khẩu chè sang thị trường Philippines tăng mạnh cả về lượng và trị giá trong 8 tháng đầu năm 2019, đạt 727 tấn, trị giá 1,89 triệu USD, tăng 63% về lượng và tăng 66,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chè lớn thứ ba, mặc dù lượng chè xuất khẩu sang thị trường này giảm mạnh, nhưng giá xuất khẩu bình quân chè sang thị trường Trung Quốc đạt 3.534,3 USD/tấn, tăng 171,2% so với cùng kỳ năm 2018, nên trị giá xuất khẩu chè sang Trung Quốc đạt 18,07 triệu USD, tăng 68,7% so với cùng kỳ năm 2018. Xuất khẩu chè sang thị trường Mỹ cũng có lượng giảm và trị giá tăng nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng.

Theo Quỳnh Anh/Nhịp sống kinh tế

Giá vàng tiếp tục giảm sâu phiên thứ 2 liên tiếp

Theo đà đi xuống phiên trước đó, giá vàng thế giới tiếp tục để mất hơn 11 USD/ounce, xuống dưới 1.500 USD/ounce. Đây là phiên giảm thứ hai liên tiếp trên thị trường kim loại quý này.
Trong phiên giao dịch đêm qua tại thị trường New York (ngày 10/10 – theo giờ Việt Nam), giá vàng đã tiếp tục có thêm một phiên đi xuống do đồng đô la Mỹ mạnh lên khi căng thẳng Mỹ-Trung tăng cao trước thềm vòng đàm phán tuần này.
Chốt phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tại thị trường New York đã rơi xuống mức 1.494,7 USD/ounce, giảm 11,30 USD/ounce, tương đương 0,75%.
Mặc dù vậy, nếu so sánh với giá đầu năm 2019, giá vàng thế giới vẫn cao hơn 17,3% (222 USD/ounce). Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 41,7 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí.
Trong khi đó, tại thị trường trong nước, tính đến thời điểm cuối giờ chiều hôm qua (10/10), giá vàng SJC tại các thương hiệu lớn vẫn giữ ở mức cao, trên 42 triệu đồng/lượng bán ra.
Cụ thể giá vàng SJC của Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn được niêm yết ở mức 41,8 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,07 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng tương đương 10 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào – bán ra so với giá niêm yết ở phiên trước đó.
Cùng thời điểm, giá vàng SJC của Tập đoàn vàng bạc đá quý DOJI được niêm yết ở mức 41,85 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,15 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 150 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào, còn chiều bán ra lại giảm 70 nghìn đồng/lượng so với phiên trước đó.
Minh Ngọc

Singapore vượt Mỹ trở thành nền kinh tế cạnh tranh nhất, Việt Nam tăng 10 bậc

Singapore đã qua mặt Mỹ trở thành nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới trong năm 2019, theo Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) mới công bố hôm 8-10.

Việc xếp hạng hằng năm 141 nền kinh tế đo lường khả năng cạnh tranh trên thang điểm từ 0 đến 100, dựa trên các yếu tố: cơ sở hạ tầng, y tế, thị trường lao động, hệ thống tài chính, chất lượng của các tổ chức công cộng và sự cởi mở về kinh tế.

Qua mặt Mỹ, Singapore trở thành nền kinh tế cạnh tranh nhất - Ảnh 1.

Singapore trở thành nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới trong năm 2019. Ảnh: RAMBOLL

Theo đó, Singapore đạt 84,8/100 điểm. Còn Mỹ đạt 83,7 điểm, xếp thứ hai, tụt một hạng so với năm 2018.

Bản báo cáo cho biết sự cải thiện 1,3 điểm trong tổng điểm và hiệu suất thấp hơn của Mỹ đã đẩy Singapore lên vị trí đứng đầu trong năm nay.

Trong số 12 tiêu chí đánh giá, Singapore đứng đầu trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng (95,4), y tế (100) và thị trường lao động (81,2), đồng thời cũng giành được điểm số cao trong các lĩnh vực hệ thống tài chính (91,3) và ổn định kinh tế vĩ mô (99,7).

Về tính hiệu quả thị trường, Singapore đạt 81,2 điểm và xếp thứ hai sau Hồng Kông.

Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Singapore Chan Chun Sing ngày 9-10 cho rằng bảng xếp hạng nêu trên là thông tin đáng khích lệ vì nó phản ánh cách các yếu tố cơ bản mạnh mẽ của Singapore, tiếp tục làm cho nước này nổi bật trong cuộc cạnh tranh toàn cầu.

Tuy vậy, theo ông, với tư cách là một nền kinh tế nhỏ và cởi mở, Singapore không thể chấp nhận những điều hiển nhiên và nước này phải kiên trì với những nỗ lực tập thể để vượt qua những bất ổn kinh tế hiện tại.

Đối với Mỹ, sự trượt dốc – bị trượt từ điểm số 85,6 năm ngoái xuống 83,7 – liên quan một phần đến các cuộc chiến thương mại của Tổng thống Donald Trump. Trong khi bản báo cáo lưu ý rằng Mỹ “vẫn là một cường quốc sáng tạo” và là nền kinh tế có tính cạnh tranh thứ hai trên thế giới, một số dấu hiệu rắc rối đã xuất hiện – theo WEF.

Trong khi đó, Hồng Kông đã giành vị trí thứ ba với số điểm 83,1 – tăng 4 điểm. Tuy nhiên, WEF cho biết dữ liệu được sử dụng trong bản báo cáo được thu thập trước khi diễn ra làn sóng phản đối chính quyền làm rung chuyển trung tâm tài chính này.

Hà Lan đã đứng thứ tư – tăng 2 bậc so với năm ngoái, còn Thụy Sĩ ở vị trí thứ năm.

Việt Nam tăng 10 bậc, đứng thứ 67 trong khi Philippines từ hạng 56 tụt xuống hạng 64. Các nước Đông Nam Á khác: Malaysia hạng 27, Thái Lan – 40, Indonesia – 50, Brunei Darussalam – 56, Campuchia – 106 và Lào – 113.

Hoài Vy (Theo CNA)

Kinh tế Thủ đô trên đà tăng trưởng

Chín tháng năm 2019, tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, nhưng nhờ triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, kinh tế Hà Nội vẫn đạt được những bước phát triển tích cực. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 7,35% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này có sự đóng góp không nhỏ của ngành công thương Thủ đô.

Kinh tế Thủ đô trên đà tăng trưởng

Khách hàng chọn mua rau củ tại siêu thị Big C Thăng Long.

Công nghiệp phục hồi

Theo Giám đốc Sở Công thương Hà Nội Lê Hồng Thăng, năm 2019, TP Hà Nội đặt chỉ tiêu giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng từ 8,6 đến 8,8% so với năm trước; kim ngạch xuất khẩu tăng từ 7,5 đến 8%; tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tăng từ 9 đến 10%… Ðể hoàn thành và vượt những chỉ tiêu này, ngay từ những tháng đầu năm, ngành công thương Thủ đô đã nỗ lực triển khai đồng bộ các giải pháp trên tất cả các lĩnh vực thuộc ngành như công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại, xuất khẩu, quản lý năng lượng…

Về công nghiệp, cùng với xu hướng của cả nước, công nghiệp của Hà Nội đang dần chuyển dịch theo hướng phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao và giá trị xuất khẩu lớn. Trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ đạo. Mặc dù những tháng đầu năm 2019 ngành công nghiệp có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước, nhưng đã có sự phục hồi mạnh trong quý II và quý III. Tính chung chín tháng năm 2019, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 8,01% (cao hơn mức tăng 7,72% của cùng kỳ năm 2018), đóng góp 1,66 điểm % vào mức tăng 7,35% của GRDP. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đã có sự phục hồi mạnh qua từng quý, hiện nay đạt mức tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.

Ðể có được sự phục hồi này, Sở Công thương Hà Nội đã tích cực xây dựng và triển khai các chương trình phát triển như Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn giai đoạn 2019 – 2020; Phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực… Sở đã tổ chức Hội chợ triển lãm chuyên ngành về công nghệ hỗ trợ, chế tạo tại Hà Nội năm 2019 tại Trung tâm triển lãm Quốc tế I.C.E Hà Nội. Ðồng thời, làm việc với Ban Quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất trên địa bàn cung cấp thông tin về chương trình để các doanh nghiệp tiêu biểu tham gia Chương trình xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực Hà Nội năm 2019. Ðến nay đã có 30 doanh nghiệp với 39 sản phẩm đăng ký tham gia Chương trình. Ðể trang bị đầy đủ hơn cho các doanh nghiệp, Sở đã tổ chức các lớp tập huấn về nhiều nội dung quan trọng như: Số hóa hoạt động của doanh nghiệp để tiếp cận cách mạng CN 4.0; tiếp cận các tiêu chuẩn quản lý quốc tế (ISO, quy trình 5s…); đào tạo Matching – online; phương pháp quản trị doanh nghiệp hiện đại tại các cụm công nghiệp….

Công tác quản lý, phát triển cụm công nghiệp cũng tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh. Năm 2019, Hà Nội đã thành lập thêm ba cụm công nghiệp trên địa bàn gồm Cụm công nghiệp Dị Nậu, Cụm công nghiệp Chàng Sơn – giai đoạn 2, huyện Thạch Thất, Cụm công nghiệp Cầu Bầu – giai đoạn 2, huyện Ứng Hòa. Ðồng thời, đang tiếp tục xem xét quyết định thành lập 20 cụm công nghiệp khác theo quy hoạch. Ngành công thương Thủ đô sẽ tiếp tục tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ đầu tư để thu hút doanh nghiệp vào sản xuất, kinh doanh tại các cụm công nghiệp này; triển khai xây dựng Chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 – 2025 và xây dựng Dự thảo Chương trình hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp trên địa bàn TP Hà Nội giai đoạn 2020 – 2025…

Lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, làng nghề cũng đã có nhiều giải pháp phát huy giá trị của các làng nghề. Năm 2019, Hà Nội tiếp tục công nhận danh hiệu “Làng nghề truyền thống Hà Nội” cho ba làng nghề và phê duyệt danh sách các làng nghề và nội dung hỗ trợ kinh phí xây dựng thương hiệu làng nghề. Trong đó, đặc biệt chú trọng công tác truyền nghề, tập huấn kỹ năng cho các cá nhân, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp làng nghề. Chín tháng vừa qua, Hà Nội đã khai giảng 36 lớp truyền nghề thủ công mỹ nghệ, 17 lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý cho các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn và triển khai đề án hỗ trợ thiết bị và ứng dụng công nghệ tiên tiến hiện đại vào sản xuất tại các cơ sở công nghiệp nông thôn. Những việc này góp phần giúp cho hoạt động sản xuất tại các làng nghề đi vào chuyên nghiệp, bài bản hơn. Từ đó, thuận lợi tiếp cận với thị trường trong và ngoài nước. Năm 2019, Hà Nội đã đẩy mạnh việc hỗ trợ quảng bá, giới thiệu các sản phẩm làng nghề tại các hội chợ, triển lãm và các hoạt động xúc tiến thương mại trong và ngoài nước. Hiện tại, Sở Công thương đang tích cực triển khai công tác tổ chức Hội chợ quốc tế quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội 2019, Cuộc thi thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ Hà Nội năm 2019.

Thương mại phát triển theo hướng hiện đại

Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn TP Hà Nội chín tháng qua tiếp tục xu hướng tăng khá, sức mua tiêu dùng tiếp tục tăng cao. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 6,72% so với cùng kỳ năm 2018, đóng góp 4,64 điểm % vào mức tăng 7,35% của GRDP, trong đó một số ngành có tỷ trọng lớn vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán ra và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội chín tháng năm 2019 đạt gần 2.036 tỷ đồng, tăng 10,7% so cùng kỳ năm 2018.

Hạ tầng thương mại trên địa bàn Hà Nội đang tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Ðến nay, trên địa bàn đã có 25 trung tâm thương mại, 141 siêu thị, khoảng 1.400 cửa hàng tiện lợi; 455 chợ… Trong đó, hệ thống các cửa hàng tiện lợi, siêu thị mi-ni, chuỗi cửa hàng kinh doanh thực phẩm… đang hình thành với tốc độ nhanh tại các tuyến phố, ngõ xóm, tòa nhà chung cư…, tạo thuận lợi cho người tiêu dùng mua sắm và dần dần hình thành nét văn minh thương mại mới.

Ðáng lưu ý, để theo kịp với sự phát triển của thời đại công nghệ số, ngành công thương Thủ đô đã triển khai nhiều giải pháp để phát triển thương mại điện tử, khuyến khích các hình thức mua sắm, thanh toán mới như tiếp tục vận hành website “Bản đồ mua sắm TP Hà Nội” tại địa chỉ mạng http://bandomuasam.hanoi.gov.vn, cung cấp giải pháp tìm kiếm trực tuyến các địa điểm mua sắm, tiêu dùng, ẩm thực… trên địa bàn. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thương mại điện tử đã từng bước đưa mua sắm trực tuyến trở thành hình thức mua hàng phổ biến của người dân, nhất là với những người tiêu dùng trẻ. Lũy kế đến tháng 9-2019, Hà Nội có 10.170 website, ứng dụng thương mại điện tử của tổ chức, cá nhân được tiếp nhận và chấp thuận thông báo, đăng ký hoạt động trên địa bàn. Liên tục trong 5 năm gần đây, Hà Nội là một trong hai địa phương dẫn đầu cả nước về Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam, chỉ sau TP Hồ Chí Minh. Cùng với nền tảng thương mại điện tử, thành phố cũng đang tích cực triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt và mạng lưới máy bán hàng tự động.

Với vai trò, vị trí của mình, ngay từ đầu năm, TP Hà Nội đã tích cực triển khai Ðề án Phát triển thị trường trong nước, gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tiếp tục phối hợp các tỉnh, thành phố, đơn vị trong cả nước triển khai hoạt động xúc tiến tiêu thụ nông sản các địa phương tại thị trường Hà Nội và giới thiệu các sản phẩm của Hà Nội đi khắp nơi. Như phối hợp tỉnh Sơn La tổ chức các hoạt động xúc tiến, tiêu thụ nông sản thực phẩm, trái cây tỉnh Sơn La; xuất khẩu sản phẩm xoài sang thị trường Ô-xtrây-li-a, Hoa Kỳ; phối hợp tỉnh Bắc Giang tổ chức các hoạt động xúc tiến, tiêu thụ vải thiều và nông sản tỉnh Bắc Giang… Nhờ khai thác nguồn hàng, liên kết vùng từ khâu sản xuất đến phân phối, nguồn cung hàng hóa cho thị trường Hà Nội đã ngày càng phong phú, đa dạng và cạnh tranh hơn.

Về xuất khẩu, tính chung chín tháng năm 2019, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn đã đạt 12,4 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước. Ðóng góp nhiều nhất vào tăng kim ngạch xuất khẩu là nhóm hàng dệt may tăng 22,3%, phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 26%,… Các thị trường xuất khẩu chính của Hà Nội gồm: Hoa Kỳ (chiếm 17% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 31,5% so cùng kỳ năm trước); Trung Quốc, EU… Ðặc biệt, thời gian qua, lĩnh vực xuất khẩu của Thủ đô đã có điểm sáng mới là mở rộng thị trường sang các nước châu Phi. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này không lớn, nhưng đây là tín hiệu tích cực trong việc tìm kiếm, mở rộng thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu.

Giám đốc Sở Công thương Hà Nội Lê Hồng Thăng cho biết, thời gian tới, ngành công thương Thủ đô sẽ tiếp tục triển khai mạnh mẽ các nhiệm vụ, kế hoạch, phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu đã đề ra. Trong đó, đặc biệt chú trọng công tác tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp từ cải cách hành chính, tiếp cận các nguồn lực về vốn, đất đai… cho tới tiếp cận khách hàng, mở rộng thị trường. Riêng về công nghiệp, thành phố sẽ tiếp tục hoàn thiện và đưa vào hoạt động các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Ðồng thời, tiếp tục thực hiện các giải pháp cơ cấu lại ngành công nghiệp, phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu, thúc đẩy đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, chủ động tham gia và tận dụng thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để nâng cao năng suất lao động, phát triển các ngành công nghiệp mới có lợi thế, từng bước tạo ra những sản phẩm có thương hiệu quốc gia và có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Về thương mại, Hà Nội sẽ tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, thực hiện các giải pháp mở rộng thị trường, phát triển, khai thác cả thị trường truyền thống và thị trường tiềm năng cho các sản phẩm có sức cạnh tranh cao, có giá trị gia tăng cao hoặc các nhóm sản phẩm có tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu lớn. Tập trung triển khai có hiệu quả các kế hoạch, đề án về Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030; Ðề án “Ðẩy mạnh xuất khẩu của TP Hà Nội thời kỳ hội nhập”; Ðề án “Giải pháp phát triển kinh tế của TP Hà Nội trong bối cảnh thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Nhật Bản”… Tăng cường công tác tập huấn, phổ biến tới cộng đồng doanh nghiệp Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam – EU (EVFTA và IPA), nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao nhận thức, nâng cao năng lực cạnh tranh, thực thi các cam kết hội nhập, tận dụng những lợi thế của các hiệp định đem lại cho hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam. Ðồng thời, cũng đẩy mạnh phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “ Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” để sản xuất trong nước ngày càng đứng vững trên thị trường, kinh tế Thủ đô ngày càng phát triển.

BÀI VÀ ẢNH: HÀ TRANG

USD lại bị đe dọa

Cuối cùng thì Nga và Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã ký thỏa thuận sử dụng đồng tiền của 2 nước trong thanh toán và giao dịch.

Trong tuyên bố ngày 8-10, Bộ Tài chính Nga cho biết, mục tiêu chính của thỏa thuận nhằm gia tăng và chuyển dần sang sử dụng đồng ruble của Nga và đồng lira của Thổ Nhĩ Kỳ trong các thanh toán song phương, từ đó tạo ra cơ sở hạ tầng tài chính và tăng sức hấp dẫn của đồng tiền nội tệ đối với các doanh nghiệp hai nước.

Kiều hối gửi về TPHCM đạt 3,8 tỷ USD

Ảnh: Internet

Tờ Daily Sabah cho biết, trong phạm vi của thỏa thuận được ký ngày 4-10, nhu cầu về 2 loại tiền tệ của các định chế thương mại sẽ tăng lên và một cơ cấu tài chính phù hợp sẽ được thiết lập. Thỏa thuận dự kiến kết nối các ngân hàng và doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ với hệ thống thanh toán SWIFT phiên bản tiếng Nga, đồng thời tăng cường cơ sở hạ tầng ở Thổ Nhĩ Kỳ để cho phép sử dụng thẻ MIR của Nga, được Moscow thiết kế nhằm thay thế cho thẻ MasterCard và VISA. Thỏa thuận này là một bước quan trọng để tăng cường hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước. Thương mại song phương đã đạt 25,4 tỷ USD năm 2018, trong đó Nga xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ gần 22 tỷ USD.

Theo giới quan sát, đây là một đòn mới giáng xuống quyền uy của USD. Tuần trước, phát biểu tại Diễn đàn “Tuần lễ năng lượng Nga”, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết nước này đang hạn chế các giao dịch bằng USD để đối phó với những nỗ lực của Mỹ nhằm sử dụng USD như một “vũ khí chính trị”. Thực ra, từ tháng 5-2018, Nga đã cắt giảm đầu tư trái phiếu Chính phủ Mỹ xuống mức tối thiểu. Theo dữ liệu của Mỹ, vào tháng 4-2019, Nga đã bán lượng trái phiếu chính phủ Mỹ trị giá 1,6 tỷ USD và hiện chỉ nắm giữ là 12-13 tỷ USD, mức thấp nhất kể từ năm 2007. Những tháng gần đây xuất hiện một xu hướng mới: các nước phát triển, bao gồm các đồng minh truyền thống của Mỹ, cũng bắt đầu giảm lượng nắm giữ trái phiếu kho bạc Mỹ. Mới đây, Vương quốc Anh, đồng minh thân cận nhất của Mỹ, đã lọt vào danh sách các quốc gia bán ra trái phiếu kho bạc Mỹ với số lượng lớn kỷ lục. Nhật Bản, chủ nợ lớn thứ hai của Mỹ, cũng bán tới 11,07 tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ trong tháng 4 vừa qua. Tỷ lệ USD trong kho dự trữ ngoại hối toàn cầu đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu thế kỷ này. Tổng lượng trái phiếu chính phủ Mỹ trong bảng cân đối của các ngân hàng trung ương trên thế giới đang ở mức thấp nhất trong lịch sử.

Ngày càng có nhiều quốc gia sẵn sàng giao dịch bằng đồng nội tệ của họ vì chính quyền Mỹ đã tăng cường sử dụng USD như một công cụ trừng phạt các quốc gia khác. Trước đó, trong một số giao dịch giữa Nga với Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, USD đã phần nào bị loại bỏ. Giới phân tích tin rằng trong tương lai, USD không chỉ bị loại dần trong các thanh toán dầu mỏ, mà trong tất cả các thanh toán khác, và có thể bắt đầu từ Liên minh châu Âu (EU).

KHÁNH HƯNG

Giá vàng hôm nay 10/10: Tăng mạnh vượt ngưỡng 42 triệu/lượng

Giá vàng hôm nay 10/10 đã bất ngờ đảo chiều tăng tới gần 300.000 đồng/lượng sau nhiều ngày tụt xuống đáy. Hiện giá vàng đang treo cao ở mức trên 42 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới ngày 10/10

Tại phiên giao dịch 6h sáng nay (theo giờ Việt Nam) giá vàng thế giới trên sàn Kitco hôm nay giao dịch ở mức 1.515,10 – 1.516,10 USD/ounce.

Giá vàng kỳ hạn tháng 12 đã tăng 9,10 USD / ounce tại 1.513,00.

Giá vàng hôm nay cao hơn 17,3% (222 USD/ounce) so với đầu năm 2019. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 41,7 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn 300 ngàn đồng so với vàng trong nước.

Giá vàng đã quay đầu tăng giá trong bối cảnh thị trường chứng khoán toàn cầu chao đảo do diễn biến mới từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ -Trung, căng thẳng Mỹ -Iran, vấn đề Brexit, bất ổn dân sự Hồng Kông và việc đảng Dân chủ đang tích cực trong việc luận tội Tổng thống Trump.

Ngay trước khi cuộc đàm phán cấp cao thương mại Mỹ – Trung diễn ra vào hôm nay, 10/10/2019, Mỹ đã bất ngờ công bố việc đưa vào danh sách đen 28 công ty Trung Quốc làm dấy lên lo ngại về kết quả của cuộc đàm phán có thể sẽ không đạt được như kỳ vọng.

Giá vàng được lợi từ diễn biến này song sự lên giá của đồng USD phiên hôm qua đã phần nào hạn chế đà tăng của giá kim loại quý.

gia vang hom nay 1010 quay dau tang manh vot nguong 42 trieuluong
Giá vàng hôm nay 10/10 đã quay đầu tăng giá. Ảnh minh họa

Giá vàng hôm nay 10/10

Chốt phiên giao dịch ngày 10/10, giá vàng tại hệ thống SJC Hà Nội niêm yết ở mức 41,79 triệu đồng/lượng mua vào, bán ra 42,06 triệu đồng/lượng, tăng 190.000 đồng/lượng ở cả 2 chiều so với cuối phiên giao dịch ngày hôm trước.

Tại SJC TP HCM, giá vàng mua vào niêm yết ở mức 41,79 triệu đồng/lượng mua vào, bán ra ở mức 42,04 triệu đồng/lượng, tăng 190.000 đồng/lượng ở cả 2 chiều.

Giá vàng DOJI Hà Nội mua vào niêm yết ở mức 41,75 triệu đồng/lượng, bán ra 42,15 triệu đồng/lượng, tăng 250.000 đồng/lượng ở cả 2 chiều.

Tại DOJI Sài Gòn niêm yết giá vàng ở mức 41,75 – 42,10 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), tăng 150.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và tăng 200.000 đồng/lượng tại chiều bán.

Tại Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng ở mức 41,85 – 42,19 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), tăng 210.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và tăng 290.000 đồng/lượng tại chiều bán ra so với cuối phiên giao dịch ngày 8/10.

Minh Tuệ (tổng hợp)

Nhập khẩu hàng hóa tháng 9-2019 đạt 22,5 tỷ USD

Trong tháng 9 vừa qua, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng nhẹ so với tháng trước đó, tính chung trong quý III-2019 thì kim ngạch nhập khẩu của nước ta đã tăng tới 8,9% so với cùng kỳ.

nhap khau hang hoa thang 9 2019 dat dat 225 ty usd

Theo đó, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9-2019 ước đạt 22,5 tỷ USD, tăng 0,2% so với tháng trước. Trong quý III-2019, kim ngạch nhập khẩu đạt 67,48 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 6,3% so với quý II năm nay.

Ở quý III năm nay đã có 14 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 72,6% tổng trị giá nhập khẩu.

Tính chung 9 tháng năm 2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước đạt 188,42 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 78,97 tỷ USD, tăng 14%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 109,45 tỷ USD, tăng 5,5%.

Trong 9 tháng vừa qua đã có 32 mặt hàng nhập khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm 88,8% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 9-2019 ước tính xuất siêu 0,5 tỷ USD. Tính chung 9 tháng năm 2019, xuất siêu đạt 5,9 tỷ USD. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 19,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 25,3 tỷ USD.

C.Kỳ

CIENCO4 và Những chỉ số tài chính đáng lo ngại; Kỳ vọng thu ngoại tệ vượt 40 tỷ USD

Kỳ vọng thu ngoại tệ vượt 40 tỷ USD

Chuyên gia nông nghiệp Đặng Kim Sơn
Chuyên gia nông nghiệp Đặng Kim Sơn

Trao đổi với PLVN, TS.Đặng Kim Sơn – Chuyên gia về nông nghiệp cho rằng, trong thời đại 4.0, ngành Nông nghiệp không thể để mình đứng ngoài cuộc và không thể bị bỏ lại phía sau.

Triển lãm Vietwater 2019 tại TP HCM sẽ diễn ra vào đầu tháng 11

Sáng ngày 8/10, tại Trung Hội nghị Deutscheshaus – Regus, Quận 1 đã tổ chức buổi họp báo Triển lãm quốc tế Vietwater 2019. Đây là triển lãm hàng đầu về ngành cấp thoát nước, công nghệ lọc nước và xử lý nước tại Việt Nam.

Ban tổ chức trao đổi với các phóng viên.

Ban tổ chức trao đổi với các phóng viên.

Tham dự chương trình, có ông BT. Tee – Tổng Giám đốc công ty Informa Markets Vietnam – đại diện đơn vị tổ chức Triển lãm Vietwater 2019; PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Cấp thoát nước Việt Nam; GS.TS Nguyễn Hữu Dũng – Viện trưởng Viện Môi trường Đô thị và Công nghệ Việt Nam; Ông Phạm Hoàng Giang – Đại diện Công ty TNHH Tsurumi Pump Việt Nam.

23 lô phân bón nhập khẩu vi phạm nhãn mác độ ẩm

Theo Phòng Thanh tra – Pháp chế (Cục Bảo vệ thực vật), từ đầu năm 2019 đến nay có tất cả 23 lô hàng phân bón nhập khẩu vi phạm nhãn mác không khớp với hồ sơ theo Quyết định công nhận lưu hành phân bón tại Việt Nam mà các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón đã nộp lưu chiểu và cấp mã số tại Cục Bảo vệ thực vật theo Nghị định 108 của Chính phủ.

Thời gian qua, một số lô phân bón nhập khẩu vi phạm nhãn mác, độ ẩm (Ảnh minh họa).
Thời gian qua, một số lô phân bón nhập khẩu vi phạm nhãn mác, độ ẩm (Ảnh minh họa).

Do Việt Nam hiện chưa tự sản xuất được đạm SA hay kaly nên những mặt hàng này đều phải nhập khẩu từ nước ngoài.Lỗi doanh nghiệp nhập khẩu phân bón thường mắc phải, về nhãn mác chủ yếu xảy ra với đạm SA, kaly và axit humic nhập khẩu.

Để tăng tính nhận diện, quảng bá thương hiệu nên đa phần các doanh nghiệp phân bón trong nước sau khi nhập SA, kaly về sẽ sang bao với logo, bao bì, nhãn mác được Việt hóa.

Hé lộ “siêu đường bay” hãng hàng không của tỷ phú Phạm Nhật Vượng sẽ khai thác

Tới năm 2025, Vinpearl Air sẽ có 62 đường bay quốc nội và 93 đường bay quốc tế, khai thác tại các thị trường trọng điểm châu Á, châu Âu và Mỹ. Hãng hàng không của tỷ phú Phạm Nhật Vượng được đánh giá có mạng đường bay “siêu lớn” và nhiều tham vọng kinh doanh.

Tới năm 2025, Vinpearl Air có 63 đường bay quốc nội và 92 đường bay quốc tế
Tới năm 2025, Vinpearl Air có 63 đường bay quốc nội và 92 đường bay quốc tế

Ông Lê Anh Tuấn – Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải (GTVT) – đã đưa ra thông tin nói trên trong văn bản trả lời Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.Hà Nội, ngày 7/10.

CIENCO4: Những chỉ số tài chính đáng lo ngại

Báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ năm 2019 của Công ty cổ phần Tập đoàn CIENCO4 cho thấy có nhiều điểm sáng trong tình hình tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có một số điểm đáng lo ngại.

Theo BCTC 6 tháng đầu năm 2019, dư nợ phải trả của CIENCO4 là 6.014 tỷ đồng nhưng vốn chủ sở hữu chỉ 1.187 tỷ đồng
Theo BCTC 6 tháng đầu năm 2019, dư nợ phải trả của CIENCO4 là 6.014 tỷ đồng nhưng vốn chủ sở hữu chỉ 1.187 tỷ đồng

Cổ phiếu đang lao dốc, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của CIENCO4 là 6 lần. Dư nợ phải trả 6.014 tỷ đồng trong lúc vốn chủ sở hữu chỉ 1.187 tỷ đồng. Với lượng tiền hiện có CIENCO4 hoàn toàn không đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ trong vòng 3 tháng.

Lê Hải (Tổng hợp)

Tỷ giá ngoại tệ 9/10: Giá USD trong nước giảm nhẹ

 Sáng nay (9/10), đa số các ngân hàng thương mại điều chỉnh giảm nhẹ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ, phổ biến ở mức 23.136 – 23.260 VND/USD.

Sáng nay (9/10), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ ở mức: 23.156 VND/USD, giảm 1 đồng so với hôm qua.

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 23.200 VND/USD và bán ra ở mức 23.802 VND/USD, không đổi ở cả chiều mua vào nhưng tăng 2 đồng ở chiều bán ra so với phiên trước.

ty gia ngoai te 9/10: gia usd trong nuoc giam nhe hinh 1
Giá USD trong nước giảm nhẹ. (Ảnh minh họa)

Đa số các ngân hàng thương mại sáng 9/10 điều chỉnh giảm nhẹ tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ, phổ biến ở mức 23.136 đồng (mua vào) và 23.260 đồng (bán ra).

Vietcombank niêm yết tỷ giá ở mức 23.140 VND/USD (mua vào) và 23.260 VND/USD (bán ra), giảm 15 đồng ở cả hai chiều mua và bán so với phiên trước đó. Ngân hàng BIDV cũng công bố tỷ giá ở cùng mức này.

Tại ngân hàng Vietinbank, giá USD vẫn giữ ở mức: 23.136 VND (mua) và 23.256 VND (bán), chỉ tăng 1 đồng so với hôm qua.

Tỷ giá tại ngân hàng ACB vẫn duy trì là 23.150 VND/USD (mua vào) và 23.250 VND/USD (bán ra), không đổi so với phiên trước.

Trên thị trường thế giới, đầu phiên giao dịch ngày 9/10 (giờ Việt Nam), tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 98,98 điểm.

USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,0977 USD; 106,92 yen đổi 1 USD  và 1,2210 USD đổi 1 bảng Anh./.

Trần Ngọc/VOV.VN

Giá vàng đảo chiều tăng mạnh sau phiên giảm sau

Sau phiên giảm mạnh trước đó, giá vàng thế giới bất ngờ đảo chiều tăng cao do đồng USD mạnh lên trước những dữ liệu bất lợi về nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Tại thị trường New York, giá vàng trong phiên giao dịch đêm qua (8/10 – theo giờ Việt Nam) đã bất ngờ đảo chiều tăng giá sau một phiên giảm sâu trước đó. Nguyên nhân chủ yếu là do đồng đô la Mỹ mất giá trước một loạt dữ liệu cho thấy sự giảm tốc của nền kinh tế Mỹ.
Theo đó, Hiệp hội Kinh tế doanh nghiệp Quốc gia Mỹ (NABE) ngày 7/10 công bố kết quả một cuộc khảo sát với dự báo cho rằng tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Mỹ năm 2020 sẽ giảm dưới 2% lần đầu tiên kể từ 2016. Theo đó, dự báo của NABE về tăng trưởng kinh tế Mỹ 2020 giảm còn 1,8%, từ mức dự báo tăng 2,1% đưa ra trước đó.
Một số chuyên gia cho rằng, tình hình thế giới có nhiều mối lo ngại rằng cuộc chiến thương mại sẽ trở nên tồi tệ hơn. Washington và Bắc Kinh gần như không đạt được tiến triển nào và giới đầu tư đang ngày càng mất niềm tin vào khả năng hai nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ đạt được một thỏa thuận. Do đó, các nhà đầu tư mua vàng nhiều hơn khi họ cho rằng tình hình sẽ thêm xáo động trong thời gian tới.
Chốt phiên giao dịch, giá vàng giao ngay đã vươn lên mốc 1.506,1 USD/ounce, tăng thêm 12 USD/ounce, tương đương 0,80%.
Tại thị trường trong nước, tính đến thời điểmcuối giờ chiều hôm qua (8/10), giá vàng SJC của Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn được niêm yết ở mức 41,6 triệu đồng/lượng (mua vào) và 41,87 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng tương đương 50 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào so với giá niêm yết đầu giờ sáng.
Cùng thời điểm, giá vàng SJC của Tập đoàn vàng bạc đá quý DOJI được niêm yết ở mức 41,55 triệu đồng/lượng (mua vào) và 42,1 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng tương đương 100 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào – bán ra so với giá niêm yết ở đầu giờ sáng.
Minh Ngọc

“Thành phố sân bay” Long Thành: Cơ hội vàng cho Đồng Nai “cất cánh”

Nằm ở vị trí giao thông quan trọng, sân bay Long Thành được định hướng trở thành một cảng trung chuyển hàng không quy mô lớn trong khu vực Đông Nam Á, góp phần thu hút vốn đầu tư trên mọi lĩnh vực cũng như thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội đối với tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả khu vực phía Nam nói chung.

hình ảnh
Sân bay Long Thành sẽ mở ra cơ hội cho tỉnh Đồng Nai “cất cánh” trong tương lai

Dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành (sân bay Long Thành) được quy hoạch trên diện tích đất 5.000 ha tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gồm 3 giai đoạn với tổng vốn đầu tư hơn 16 tỷ USD (tương đương hơn 336.000 tỷ đồng). Trong đó, giai đoạn 1 có vốn đầu tư hơn 5,4 tỷ USD. Mục tiêu của dự án giai đoạn 1 là đầu tư xây dựng một đường cất/hạ cánh, một nhà ga hành khách cùng các hạng mục phụ trợ đồng bộ với công suất 25 triệu hành khách/năm, nhà ga hàng hóa 1,2 triệu tấn hàng hóa/năm; chậm nhất năm 2025 sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác.

Sân bay Long Thành là cảng hàng không lớn nhất, quan trọng bậc nhất của Việt Nam, một thị trường hàng không có tốc độ tăng trưởng vào hàng cao nhất thế giới (đứng thứ ba trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương). Sân bay Long Thành nằm ở trung tâm khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, là khu vực kinh tế phát triển năng động, có nhu cầu vận chuyển hàng không cao nhất cả nước.

Ông Lại Xuân Thanh – Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) cho biết: “Long Thành hiện có nhiều thuận lợi để hình thành nên một “thành phố sân bay” trong tương lai. “Thành phố sân bay” là một mô hình đô thị đặc biệt lấy dịch vụ vận chuyển hàng không làm trung tâm để hình thành và phát triển các trung tâm công nghiệp, dịch vụ thương mại, logistics, hội nghị, văn phòng, cơ sở y tế, nhà hàng, khách sạn, vui chơi giải trí, hệ thống giao thông… Đây là cảng hàng không trọng yếu bậc nhất của quốc gia. Với vị trí, vai trò quan trọng nên khi triển khai xây dựng sân bay Long Thành phải đảm bảo áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, tiên tiến nhất, ngang bằng các cảng lớn trong khu vực cũng như của thế giới”.

Dự kiến năm 2025, sân bay Long Thành đưa vào khai thác sẽ tạo động lực lớn cho sự tăng trưởng kinh tế. Công trình được cho là sẽ giúp gia tăng sức hút dòng vốn quốc tế, thu hút các doanh nghiệp nước ngoài từ khắp các lĩnh vực cũng như gia tăng lượng du khách đến với tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả khu vực phía Nam nói chung.

Ông Trần Văn Vĩnh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai cho biết: “Sân bay Long Thành sẽ tạo động lực phát triển mạnh mẽ trong việc định hình, xây dựng đô thị trước mắt và cả lâu dài vì mọi hướng kết nối đều tập trung vào khu vực này. Đồng Nai đang định hướng vùng xung quanh sân bay Long Thành bao gồm phần ngoại vi mở rộng kết nối đến Biên Hòa, Nhơn Trạch, Trảng Bom trở thành “thành phố sân bay”. UBND tỉnh cũng đã cử các đoàn công tác đi tham quan, học tập kinh nghiệm xây dựng thành phố xung quanh sân bay từ các nước tiên tiến trên thế giới để làm cơ sở cho việc tiếp thu, ứng dụng tại Đồng Nai sau này.

Nhiều tập đoàn, quốc gia trên thế giới cũng đã đến Đồng Nai tìm hiểu và đề đạt mong muốn được phối hợp, đầu tư cùng tỉnh trong việc quy hoạch, định hình xây dựng đô thị sân bay theo mục tiêu mà tỉnh đã lựa chọn. Kinh nghiệm cho thấy, việc phát triển đô thị thường gắn liền với phát triển hạ tầng. Trong tương lai, các đô thị của Đồng Nai, đặc biệt là những đô thị mới cần bám các tuyến giao thông huyết mạch để phát triển kinh tế”.

Ông Nguyễn Trí Hiếu – chuyên gia kinh tế cho rằng: “Thành phố sân bay” là mô hình phát triển đô thị gắn liền với các cảng hàng không quốc tế vốn đã rất thành công tại nhiều quốc gia trên thế giới. Việc hình thành nên “thành phố sân bay” là điều cần thiết để đáp ứng nguồn cầu lớn trong tương lai khi sân bay đi vào hoạt động. Dự án đầu tư quy hoạch sân bay Long Thành ra đời đã mang đến nhiều thông tin tích cực cho ngành Hàng không trong nước. Sở hữu vị trí giao thông thuận lợi cùng quỹ đất lớn, sân bay Long Thành được định hướng trở thành một cảng trung chuyển hàng không quy mô lớn trong khu vực Đông Nam Á, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế của từng địa phương và cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”

QUYẾT VĂN

Giá xăng dầu hôm nay 8/10 tăng trở lại

Sau khi sụt giảm trong phiên giao dịch đầu tuần (ngày 7/10), giá xăng dầu hôm nay đã quay đầu tăng như sau thông tin Trung Quốc rút khỏi hợp đồng dầu khí 5 tỷ USD với Iran.

Ảnh minh hoạ

Ghi nhận của Petrotimes, tính đến đầu giờ sáng 8/10, theo giờ Việt Nam, trên sàn New York Mercantile Exchanghe, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 12/2019 đứng ở mức 52,93 USD/thùng, tăng 0,18 USD/thùng trong phiên.

Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 12/2019 đứng ở mức 58,48 USD/thùng, tăng 0,13 USD/thùng trong phiên.

Giá dầu thế giới tăng trở lại sau thông tin Trung Quốc rút khỏi hợp đồng dầu khí 5 tỷ USD với Iran.

Ở diễn biến khác, Mỹ và Trung Quốc chuẩn bị bước vào vòng đàm phán thương mại lần thứ 13, và động thái trên của Trung Quốc được đánh giá là tích cực khi từ năm 2018, Mỹ đã áp lệnh trừng phạt lên hoạt động xuất khẩu dầu của Iran.

Hà Lê

Thị trường trong nước: Điểm tựa cho tăng trưởng

 Khi xuất khẩu được dự báo có nhiều khó khăn, thì thị trường trong nước càng trở nên quan trọng, cần được các DN trong nước quan tâm đặc biệt.

  • Ngân hàng Nhà nước: Tăng trưởng tín dụng chậm lại, 9 tháng đạt 8,64%
Khuyến cáo trên xuất phát từ hai căn cứ: Căn cứ thứ nhất là tiêu thụ trong nước gắn với xu hướng xuất, nhập khẩu; căn cứ thứ hai là hiện trạng thị trường trong nước 9 tháng qua và tiềm năng cả năm 2019.
Xuất khẩu tăng thấp hơn tốc độ nhập khẩu
Khi tốc độ tăng của nhập khẩu cao hơn tốc độ tăng của xuất khẩu sẽ làm cho tiêu thụ trong nước đối với hàng nhập khẩu tăng cao hơn đối với hàng sản xuất ở trong nước. Theo đó tiêu thụ trong nước sẽ hỗ trợ cho hàng nhập khẩu hơn là đối với hàng sản xuất trong nước. Điều đó sẽ gây bất lợi cho sản xuất ở trong nước, gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế.

Khi tốc độ tăng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thấp hơn tốc độ tăng xuất khẩu của khu vực trong nước, tuy có phản ánh sự nỗ lực của khu vực kinh tế trong nước trong việc tranh thủ các ưu đãi như giảm thuế xuất khẩu đến các nước, nhưng cũng đưa đến hậu quả là thị phần của hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trong nước đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài sẽ tăng lên. Điều đó cũng dẫn đến việc giảm thị phần tiêu thụ trong nước của khu vực kinh tế trong nước.
Tổng mức bán lẻ (TMBL) 9 tháng và dự báo cả năm 2019 có một số điểm nhấn đáng quan tâm. Đó là: TMBL có quy mô lớn. TMBL 9 tháng năm 2019 cao nhất so với cùng kỳ từ trước tới nay, mới qua 3/4 năm, nhưng đã lớn hơn mức của cả năm 2016.

Bình quân một tháng 400.000 tỷ đồng; bình quân một người trên 40 triệu đồng, bình quân một người một tháng lên đến hơn 4 triệu đồng – một con số không nhỏ; TMBL có tốc độ tăng khá. So với cùng kỳ năm trước, TMBL 9 tháng năm nay nếu tính theo giá thực tế đã tăng tới 11,6%; nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tăng 9,03%. Đây là tốc độ tăng vừa cao hơn tốc độ tăng của cùng kỳ năm trước, vừa cao hơn tốc độ tăng GDP (9,03% so với 6,98%).
Với quy mô và tốc độ tăng như trên, thì TMBL là động lực của tăng trưởng kinh tế, trong điều kiện xuất khẩu tăng thấp hơn tốc độ tăng của TMBL (8,2% so với 9,03%).
Còn nhiều dư địa cho bán lẻ 
Nếu 3 tháng cuối năm cũng tăng như 9 tháng đầu năm, với TMBL năm 2018 đạt 4.417 nghìn tỷ đồng, thì TMBL cả năm 2019 sẽ đạt trên 4,93 triệu tỷ đồng. Với dung lượng thị trường lớn như vậy sẽ có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, thương mại trong và ngoài nước.
Phải chăng cũng vì vậy mà trong 9 tháng đầu năm 2019, một số chỉ tiêu có liên quan đến TMBL có sự phát triển đáng lưu ý. Trong tổng số 102,27 nghìn số DN đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động (27,6 nghìn DN), nhóm ngành dịch vụ chiếm đa số.
Tăng trưởng TMBL 9 tháng 2019 so với cùng kỳ năm trước đạt được ở cả 3 ngành. Bán lẻ hàng hóa đạt quy mô lớn nhất (chiếm 76% tổng số) và có tốc độ tăng cao nhất (12,6%). Ước tính cả năm có thể đạt gần 3,74 triệu tỷ đồng, tương đương với khoảng 162 tỷ USD tính theo tỷ giá hối đoái. Đây cũng là ngành có quy mô hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư, thương mại nước ngoài ở cả trong nước và nước ngoài. Đáng lưu ý, hiện có xu hướng, một số DN nước ngoài đã “lui dần” cho một số DN trong nước.
Các ngành dịch vụ có quy mô nhỏ hơn (chiếm 24% TMBL) và có tốc độ tăng thấp hơn (8,7%). Trong ngành này, dịch vụ lưu trú, ăn uống chiếm 12% tổng số, tăng 9,6%; du lịch lữ hành và dịch vụ khác chiếm 12% và tăng 8,4%, trong đó du lịch lữ hành chiếm tỷ trọng còn nhỏ (0,9%) nhưng tăng với tốc độ khá cao (12%). Điều đó chứng tỏ du lịch (bao gồm cả du lịch trong nước và du lịch nước ngoài) đã được người dân quan tâm.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế là dung lượng lớn, tốc độ tăng cao do có dân số đông, tỷ lệ trẻ, tỷ lệ trung lưu cao, tỷ lệ tiêu thụ thông qua thị trường tăng, hiện có nhiều phương thức kinh doanh mới (trực tuyến, đa kênh…) thì tiêu thụ trong nước còn một số hạn chế.
Tỷ trọng dịch vụ còn thấp, trong đó một số dịch vụ do Nhà nước định giá còn đang trong quá trình thực hiện lộ trình giá thị trường. Cơ sở vật chất kỹ thuật (chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi,…) tuy tăng lên về số lượng và có sự cải thiện về một số mặt, nhưng vẫn còn hạn chế, thách thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, cân đo đong đếm, hàng giả, hàng nhái còn tràn lan…
ĐỨC MINH

Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, giá USD hiện ở mức 23.135 – 23.275 VND/USD

Đa số các ngân hàng thương mại sáng nay (8/10) đều giữ nguyên tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ ở mức 23.135 – 23.275 VND/USD (mua vào – bán ra).

Sáng nay (8/10), Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ ở mức: 23.157 VND/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua.

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 23.200 VND/USD và bán ra ở mức 23.800 VND/USD, không đổi ở cả hai chiều mua và bán so với phiên trước.

ty gia trung tam tang nhe, gia usd hien o muc 23.135 - 23.275 vnd/usd hinh 1
Giá USD trong nước ít biến động. (Ảnh minh họa)

Đa số các ngân hàng thương mại sáng 8/10 đều giữ nguyên tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ ở mức 23.135 đồng (mua vào) và 23.275 đồng (bán ra).

Vietcombank niêm yết tỷ giá ở mức 23.155 VND/USD (mua vào) và 23.275 VND/USD (bán ra).

Ngân hàng BIDV công bố tỷ giá ở mức 23.140 VND/USD (mua vào) và 23.260 VND/USD (bán ra).

Tại ngân hàng Vietinbank, giá USD vẫn giữ ở mức: 23.135 VND (mua) và 23.255 VND (bán).

Tỷ giá tại ngân hàng ACB vẫn duy trì là 23.150 VND/USD (mua vào) và 23.250 VND/USD (bán ra).

Eximkank niêm yết giá USD: 23.140 – 23.250 VND/USD (mua vào – bán ra).

Trên thị trường thế giới, đầu phiên giao dịch ngày 8/10 (giờ Việt Nam), tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 98,82 điểm.

 USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,0989 USD; 106,96 yen đổi 1 USD  và 1,2315 USD đổi 1 bảng Anh./.

Trần Ngọc/VOV.VN

Giá vàng ngày 8/10: Mất thế thượng phong, quay đầu hạ nhiệt

Hôm nay (8/10), giá vàng thế giới trên sàn Kitco giao dịch ở mức 1.492,30 – 1.493,30 USD/ounce. Giá vàng kỳ hạn tháng 12 cuối cùng đã giảm 8,90 USD / ounce xuống mức 1.503,90.

Mở đầu phiên giao dịch sáng nay, giá vàng thế giới đã bất ngờ quay đầu hạ nhiệt, sau những phiên liên tiếp giữ thế thượng phong (tăng giá). Với mức giao dịch 1.492,30 – 1.493,30 USD/ounce, vàng thế giới đã bật ra khỏi mốc  1.500 USD/ounce.

1568852107-vang-5

Hình minh họa

Theo quy đổi giá USD tại ngân hàng, giá vàng thế giới hôm nay hiện đang thấp hơn trong nước khoảng 500 nghìn đồng/lượng, chưa tính thuế và phí với mức 41,5 triệu đồng/lượng.

Giá dầu thô Nymex tăng,  giao dịch ở mức 53,70 USD/thùng, cùng chỉ số đô la Mỹ cũng tăng nhẹ, được cho một trong những nguyên nhân khiến giá vàng thế giới bất ngờ mất thế thượng phong, quay đầu hạ nhiệt.

Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế đánh giá, giá vàng thế giới vẫn sẽ tiếp tục tăng cao, bởi những bất ổn của nền kinh tế thế giới, mà tiêu biểu là cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung vẫn đang ở thế giằng co. Hơn nữa, mặc dù mất thế thượng phong, song giá vàng cũng chỉ giảm nhẹ và vẫn quanh mốc 1.500 USD/ounce (1.492,30 – 1.493,30 USD/ounce), chứ không giảm sâu.

Tại thị trường trong nước, theo ghi nhận ở đầu phiên giao dịch sáng nay (8/10), giá vàng SJC trên hệ thống Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn được niêm yết ở mức 41,65-41,95 triệu đồng/lượng, giảm khoảng 100 nghìn đồng cả hai chiều so với cùng thời điểm phiên giao dịch ngày hôm qua (7/10).

Cùng trong tình trạng giảm giá, giá vàng Doji tại hệ thống Tập đoàn Doji cùng thời điểm được niêm yết 41,70-42,20 triệu đồng/lượng, giảm 70 nghìn đồng hai chiều.

Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng Rồng Thăng Long 41,61-42,11 triệu đồng/lượng, giảm 100 nghìn đồng mỗi lượng ở cả hai chiều…/.

Thành Trung (t/h)

Giá cà phê hôm nay 4/10: Hồi phục mạnh về mức 33.500 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay 4/10 ở hầu hết tỉnh khu vực Tây Nguyên tiếp tục tăng 100 đồng/kg, dao động trong khoảng 32.600 – 33.500 đồng/kg. Cùng lúc đó giá cà phê thế giới cũng có phiên hồi phục mạnh mẽ.

Giá cà phê hôm nay 4/10 ở hầu hết tỉnh khu vực Tây Nguyên tiếp tục tăng 200 đồng/kg, dao động trong khoảng 32.600 – 33.500 đồng/kg. Trong đó, giá cà phê cao nhất ghi nhận tại Đắk Lắk, thấp nhất tại Lâm Đồng.

Giá cà phê quanh cảng TP HCM tăng 8 USD/tấn xuống 1.461 USD/tấn.

TT nhân xôGiá trung bìnhThay đổi
FOB (HCM)1.462Trừ lùi:+150
Gia ca phe hom nay 4/10: Hoi phuc manh ve muc 33.500 dong/kgĐắk Lăk33.500+200
Lâm Đồng32.600+200
Gia Lai33.100+200
Đắk Nông33.200+200
Hồ tiêu41.0000
Tỷ giá USD/VND23.140-10
Đơn vị tính: VND/kg|FOB: USD($)/tấn

Kết thúc phiên giao dịch, giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London tiếp tục sụt giảm. Kỳ hạn giao ngay tháng 11 tăng thêm 8 USD, xuống 1.312 USD/tấn và kỳ hạn giao tháng 1 tăng thêm 9 USD, còn 1.331USD/tấn, các mức giảm nhẹ. Khối lượng giao dịch trên mức trung bình.

Tương tự, giá cà phê Arabica trên sàn ICE US – New York tăng tiếp phiên thứ ba. Kỳ hạn giao ngay tháng 12 tăng thêm 1,45 cent/lb, lên 102,05 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3 tăng thêm 1,45 cent/lb, lên 104,65 cent/lb, các mức tăng nhẹ. Khối lượng giao dịch trên mức trung bình.

Gia ca phe hom nay 4/10: Hoi phuc manh ve muc 33.500 dong/kg-Hinh-2
 Giá cà phê hôm nay 4/10 tăng nhe.

Theo Bloomberg, lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đang có xu hướng đi xuống do tồn kho giảm kèm theo giá thấp khiến nông dân không muốn bán.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê trong nửa đầu tháng 9 đạt 38.7000 tấn, trị giá hơn 67,9 triệu USD, giảm 35,1% về lượng và giảm 34,3% về trị giá so với 15 ngày cuối tháng 8.

Lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 9, xuất khẩu cà phê đạt hơn 1,2 triệu tấn, trị giá hơn 2 tỉ USD, giảm 12,6% về lượng và giảm 21,5% về trị giá so với cùng kì năm 2018.

Trong cùng giai đoạn, giá cà phê xuất khẩu bình quân đạt mức 1.711 USD/tấn, giảm 10,2% so với cùng kì năm 2018.

Người dân trồng cà phê và thương lái có thể đang nắm giữ khoảng 5% lượng cà phê trong niên vụ, tương đương 85.000 tấn tính đến giữa tháng 9, theo khảo sát được thực hiện bởi Bloomberg.

Trả lời phỏng vấn tờ Bloomberg, ông Lê Tiến Hùng, Giám đốc điều hành của công ty Simexco Đắk Lắk cho biết xuất khẩu cà phê có khả năng giảm trong tháng tới.

Nông dân găm hàng kể từ khi giá cà phê gần chạm đáy 9 năm. Tính trong năm nay, giá cà phê robusta giảm khoảng 14% do dư cung.

“Chúng tôi không dám bán ra quá nhiều tại thời điểm này do chưa thu gom đủ hàng. Một số thương nhân vẫn đang vật lộn để giao đủ cà phê cho hợp đồng tháng 10”, ông Hùng cho biết.

Hoàng Phúc

Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm, giá trao đổi USD nhích nhẹ

Sáng nay (4/10), Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm nhẹ 2 đồng so với mức công bố trước. Giá trao đổi USD trên thị trường và trong ngân hàng ít biến động.

  • Tỷ giá trung tâm giảm, giá trao đổi USD ít biến động
Sáng nay Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm cặp đồng tiền VND/USD được áp dụng trong ngày 4/10 ở mức 23.159 đồng/USD, giảm 2 đồng/USD so với mức công bố hôm qua.
Với biên độ +/-3% theo quy định, tỷ giá sàn là 22.460 VND/USD và tỷ giá trần là 23.850 VND/USD.

Phiên giao dịch hôm nay, các ngân hàng thương mại cơ bản niêm yết ngang giá và điều chỉnh tăng nhẹ giá trao đổi USD so với phiên trước.
Cụ thể, lúc 9 giờ, tại Vietcombank niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.115 – 23.165 đồng/USD, tăng nhẹ 5 đồng/USD cả chiều mua và chiều bán so với mức niêm yết trước.
Tại BIDV niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.140 – 23.160 đồng/USD, cũng niêm yết ngang giá so với phiên trước.
Tại Techcombank cùng thời điểm trên niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.133 – 23.273 đồng/USD, niêm yết ngang giá cả 2 chiều mua và bán so với mức niêm yết trước.
Tại Vietinbank niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.139 – 23.259 đồng/USD, tăng 3 đồng cả 2 chiều mua vào và chiều bán ra so với mức niêm yết trước.
Tại Eximbank sáng nay lại ngược chiều giảm giá mua – bán USD, giao dịch ở mức 23.140 – 23.250 đồng/USD, niêm yết ngang giá cả chiều mua và chiều bán so với mức niêm yết trước.
Ngân hàng ACB niêm yết cùng thời điểm mua – bán USD ở mức 23.130 – 23.250 đồng/USD, niêm yết ngang giá cả 2 chiều mua – bán so với mức niêm yết trước.
Giá trao đổi đồng USD trên thị trường tự do trong nước sáng nay tăng nhẹ 5 đồng/USD chiều mua và giữ nguyên giá chiều bán so với phiên trước. Cùng thời điểm trên, tại thị trường Hà Nội, đồng USD giao dịch mua – bán quanh mốc 23.190 – 23.200 đồng/USD.
Sáng nay, các ngoại tệ mạnh giao dịch tại thị trường trong nước diễn biến trái chiều nhau. Trong đó, bảng Anh, đô Úc và EUR tăng mạnh, còn france Thuỵ Sỹ vẫn mất giá sâu.
Cụ thể, cùng thời điểm trên bảng Anh được Vietcombank niêm yết tăng 127 đồng/GBP so với phiên trước, giao dịch mua – bán quanh mốc 28.307 – 28.790 đồng/GBP.
Đồng EUR tăng 51 đồng/EUR so với phiên trước, tại Vietcombank niêm yết giá mua – bán quanh mức 25.235 – 25.102 đồng/EUR.
Đồng đô Úc niêm yết tăng 106 đồng/AUD, giao dịch cùng thời điểm trên mua – bán ở quanh mức 15.427 – 16.815 đồng/AUD.
Đồng đô Canada giảm 5 đồng/CAD giao dịch quanh mức 17.087 – 17.566 đồng/CAD.
Đồng france Thuỵ Sỹ giảm 28 đồng/CHF so với phiên trước, giao dịch quanh mức 22.864 – 23.447 đồng/CHF.
Yên Nhật niêm yết tăng nhẹ 1 đồng/JPY chiều mua và bán so với phiên trước, giao dịch mua – bán quanh mốc 205 – 218 đồng/JPY.

BÍCH HỜI

Việt Nam xuất siêu vượt dự tính, 9 tháng đạt kỷ lục 7,1 tỷ USD

Cán cân thương mại hàng hóa trong 9 tháng đầu năm 2019 đạt mức thặng dư cao nhất từ trước tới nay, với con số xuất siêu 7,1 tỷ USD.

Việt Nam xuất siêu vượt dự tính, 9 tháng đạt kỷ lục 7,1 tỷ USD
Ảnh minh họa.
Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam trong quý III năm 2019 đạt 138,6 tỷ USD, tăng vượt trội so với hai quý đầu năm.
Theo đó, kim ngạch xuất nhập khẩu quý III/2019 cao hơn tới 22,6 tỷ USD so với quý I/2019 đạt 116 tỷ USD và cao hơn 11,6 tỷ USD so với quý II/2019 đạt 127 tỷ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, kim ngạch xuất nhập khẩu quý III/2019 cũng tăng 9%.
Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 72 tỷ USD, tăng 13,1% so với quý trước và tăng 10,4% so với quý III năm ngoái; tổng trị giá nhập khẩu đạt 66,6 tỷ USD, tăng 5,1% so với quý trước và tăng 7,5% so với quý III năm 2018.

Biểu đồ cán cân thương mại của Việt Nam qua từng tháng trong năm 2019  
Theo đó, cán cân thương mại hàng hóa tháng 9 đạt 1,73 tỷ USD, đưa cán cân thương mại 9 tháng đầu năm 2019 đạt mức thặng dư cao nhất từ trước tới nay, với con số xuất siêu 7,1 tỷ USD.
Trước đó, Tổng cục Hải quan cũng ước tính, kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2019 tăng trưởng ở một số mặt hàng như: Dầu thô ước đạt 2.993 nghìn tấn, trị giá ước đạt 1.513 triệu USD, tăng 2,6% về lượng; gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 7,46 tỷ USD, tăng 17%.
Ngoài ra, còn có hàng dệt may ước đạt 24,8 tỷ USD, tăng 10,4%; giày dép các loại ước đạt 13,3 tỷ USD, tăng 13,5%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ước đạt gần 25,4 tỷ USD, tăng 16,8%; điện thoại các loại và linh kiện ước đạt 38,6 tỷ USD, tăng 5,1%.
Ở chiều ngược lại, kim ngạch hàng nhập khẩu tăng ở một số mặt hàng: hoá chất ước đạt 3,9 tỷ USD, tăng 6,6%; chất dẻo nguyên liệu ước đạt 6,7 tỷ USD, tăng 16,3%; vải các loại ước đạt 9,7 tỷ USD, tăng 3,2%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ước đạt 38,6 tỷ USD, tăng 23%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng ước đạt 27,08 tỷ USD, tăng 13,1%…

Như vậy, với kết quả trên, xuất siêu của Việt Nam 9 tháng đầu năm vượt dự tính trước đó với gần 6 tỷ USD của Tổng cục Thống kê (đầu mối này thường cập nhật dữ liệu ước tính vào thời điểm gần cuối tháng hoặc quý mỗi kỳ công bố).

HẠ AN

Giá vàng thế giới tăng 1% sau các số liệu kém lạc quan của Mỹ

Phiên 3/10, giá vàng thế giới tăng hơn 1% lên mức cao nhất trong một tuần do số liệu kém khả quan của Mỹ làm gia tăng lo ngại về tăng trưởng kinh tế và các đồn đoán về khả năng Fed cắt giảm lãi suất.

Giá vàng thế giới tăng 1% sau các số liệu kém lạc quan của Mỹ. Ảnh minh họa: TTXVN

Vào lúc 0 giờ 52 phút ngày 4/10 theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.506,45 USD/ounce, sau khi có thời điểm chạm mức cao nhất kể từ ngày 25/9 là 1.518,50 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng kỳ hạn tăng 0,4% và khép phiên ở mức 1.513,80 USD/ounce.

Lĩnh vực dịch vụ của Mỹ đã ghi nhận mức tăng trưởng thấp nhất trong ba năm trong tháng Chín và tăng trưởng việc làm trong lĩnh vực này cũng xuống mức thấp nhất trong 5 năm.

Ông David Meger, người đứng đầu bộ phận giao dịch kim loại của công ty High Ridge Futures, cho rằng một loạt các số liệu kinh tế yếu đã làm gia tăng những lo ngại về tăng trưởng kinh tế, qua đó thúc đẩy nhu cầu đối với các loại tài sản an toàn như vàng. Ông cho rằng số liệu này cũng mở ra khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất vào cuối tháng Mười, vốn là một diễn biến sẽ có lợi cho giá vàng.

Bên cạnh đó, bối cảnh kinh tế càng trở nên bất ổn sau khi Washington ngày 3/10 cho biết sẽ đánh thuế nhiều sản phẩm nhập khẩu từ Liên minh châu Âu (EU).

Giá vàng còn nhận được hỗ trợ khi đồng USD giảm xuống mức thấp trong bốn tuần so với đồng yen và mức “đáy” trong một tuần so với đồng USD.

Lượng vàng do quỹ dự trữ vàng lớn nhất thế giới SPDR nắm giữ đã tăng lên 923,76 tấn trong phiên 3/10, rất gần với mức 924,94 tấn ghi nhận trong tuần trước, mức cao nhất kể từ giữa tháng 11/2016.

Trên thị trường các kim loại quý khác, giá bạch kim tăng 0,2% lên 888,59 USD/ounce, trong khi giá bạc tăng 0,3% lên 17,60 USD/ounce.

Còn tại thị trường Việt Nam, lúc 16 giờ 11 phút chiều 3/10, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC tại thị trường Hà Nội ở mức 41,65 – 41,97 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra)./.

Khánh Ly (Theo Reuters)

Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.

Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế ở mức cao, chủ động tham gia và đàm phán các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới….

Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại, và Việt Nam đã và đang bắt kịp xu thế đó.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
Nghị quyết số 22/NQ-TW về hội nhập quốc tế khẳng định, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, nhất là từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Việc mở cửa nền kinh tế trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần không nhỏ để duy trì tốc độ tăng trưởng cao hàng năm của nền kinh tế Việt Nam.
Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế cùng với nỗ lực cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước đưa Việt Nam khẳng định được vị thế trên trường quốc tế và thu hút các nhà đầu tư.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, từng bước đưa Việt Nam khẳng định được vị thế trên trường quốc tế và trong mắt các nhà đầu tư.
Báo cáo Môi trường kinh doanh 2018 do Ngân hàng Thế giới công bố dự báo Việt Nam đứng thứ 68/190 nền kinh tế, tăng 14 bậc so với năm 2017 (82/190 nền kinh tế). Việt Nam cũng đã tích cực, chủ động tham gia các tổ chức kinh tế – tài chính và các hiệp định thương mại.
Theo thống kê của Trung tâm WTO (thuộc VCCI), tính đến nay, Việt Nam đã tham gia ký kết 13 FTA (gồm 7 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN và 6 FTA ký kết với tư cách là một bên độc lập), và đang hiện đàm phán 3 FTA (gồm Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực – RCEP, FTA với Khối thương mại tự do Châu Âu – EFTA, FTA Việt Nam – Israel.
Việc Việt Nam ký kết các FTA song phương và đa phương đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Việt Nam mở rộng thị trường, tiếp cận được thị trường khu vực và thị trường toàn cầu,cũng như được tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước đối tác thuận lợi hơn. Bởi phần lớn các rào cản và điều kiện trong buôn bán đã được cam kết dỡ bỏ, chủ yếu là các hàng rào thuế quan (hầu hết về 0% hoặc dưới 5%) đã mang lại một lợi thế cạnh tranh lớn và một triển vọng tươi sáng cho nhiều ngành sản xuất hàng hóa trong nước.
Theo đánh giá của ông Trịnh Minh Anh, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế – Bộ Công Thương, hiện Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế ở mức rất cao. Đó là việc chủ động tham gia và đàm phán các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới, gần đây nhất là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh chau Âu (EVFTA và EVIPA).
Đây là những FTA có tác động, ý nghĩa rất lớn, giúp thực hiện thành công chiến lược thị trường, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Cho đến nay đã có gần 100 quốc gia đã có FTA với Việt Nam, ông Trịnh Minh Anh nêu rõ.
Nhận định về độ mở của nền kinh tế Việt Nam, ông Trịnh Minh Anh cho biết, sau hơn 10 năm kể từ khi Việt Nam tham gia WTO, GDP của Việt Nam đã tăng hơn 300%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 350%, độ mở của nền kinh tế liên tục tăng, năm ngoái tăng trên 200%.
“Điều này cho thấy Việt Nam là đất nước đã gắn bó sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, mà đang trong tiến trình chỉ có tiến và tiến nhanh chứ không được đi chậm. Đây là cũng là minh chứng cho đường lối, chủ trương chính sách hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, ông Trịnh Minh Anh nhấn mạnh.
Chia sẻ về thông tin về hội nhập kinh tế quốc tế, ông Lương Hoàng Thái, Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên – Bộ Công Thương cho biết, FTA thực chất là thỏa thuận mở cửa thị trường với sự tham gia của ít nhất hai thành viên, và với mục đích cắt giảm hoặc loại bỏ hàng rào thuế quan, dịch vụ và đầu tư tạo thuận lợi cho thương mại. Vì vậy, trong những năm gần đây, thế giới chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của các FTA để thiết lập các Khu vực thương mại tự do. Nhằm phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới và khu vực, Việt Nam cũng đàm phán và ký kết các FTA với các tổ chức quốc tế và khu vực.
Gia nhập ASEAN từ năm 1995, Việt Nam đã chính thức mở cửa hội nhập và bắt đầu tham gia các FTA. Tuy nhiên, ban đầu mới chỉ tham gia FTA với tư cách là thành viên khối ASEAN. Theo ông Lương Hoàng Thái, giai đoạn này chủ yếu Việt Nam tham gia là các FTA thế hệ cũ, tập trung biện pháp ở biên giới, ít đi sâu vào quy định trong khuôn khổ chính sách quốc gia. Đặc biệt, Việt Nam tham gia vào các FTA này đều ở góc độ bị động. Bởi tất cả quy định của ASEAN đều có sẵn, Việt Nam không được đàm phán bất kỳ quy định nào và lợi ích khi đó hầu như không có, bởi các đối tác trên đều là đối tượng cạnh tranh sát sườn.
Tuy nhiên, sau đó, Việt Nam đã bắt đầu chủ động hơn, chủ động lựa chọn đối tác tham gia và vươn ra các thị trường xa hơn. Hiệp định đầu tiên manh nha là FTA Việt Nam- Nhật Bản. Tiếp theo đó là FTA Việt Nam – Chile, … và gần đây là Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA, ông Lương Hoàng Thái thông tin thêm.
Nếu như trước đây, Việt Nam tham gia FTA ở thế bị động, thì đến nay, Việt Nam tham gia ở thế chủ động hơn, chủ động lựa chọn đối tác. Đặc biệt, Việt Nam có sự chuyển đổi về chất trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu, tham gia FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn cao hơn. Chính vì vậy, bà Cecilia Malmsrom – Cao ủy thương mại của EU, khi đến Việt Nam ký Hiệp định EVFTA vừa qua, đã chia sẻ rằng, Hiệp định EVFTA là hiệp định tham vọng nhất mà EU ký với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam./.
Nguồn: Trần Ngọc/VOV

TT ngoại tệ ngày 27/9: Tỷ giá trung tâm tăng, USD thế giới biến động, bitcoin lao dốc

Tỷ giá trung tâm tăng, giá USD tại một số ngân hàng thương mại giảm nhẹ. Đồng USD trên thị trường thế giới biến động khá mạnh ở trên mức cao trong bối cảnh thị trường đón nhận nhiều thông tin trái chiều đến từ nước Mỹ. Giá bitcoin lao dốc khi những đồng tiền khác phủ đỏ thị trường.

TT ngoại tệ ngày 27/9: Tỷ giá trung tâm tăng, USD thế giới biến động, bitcoin lao dốc

Sáng nay (27/9/2019), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ là 23.160 VND, tăng 5 đồng so với phiên giao dịch ngày hôm qua 26/9/2019.
Cũng tại sở giao dịch ngân hàng nhà nước, giá mua – bán USD được niêm yết ở mức là 23.200 đồng/USD và 23.805 đồng/USD, không đổi ở chiều mua vào và tăng 5 đồng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch ngày hôm qua.
Tại các ngân hàng thương mại sáng nay, lúc 9h30 giá mua – bán USD như sau: Ngân hàng Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.140 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; BIDV, giá USD cũng đang được niêm yết ở mức 23.140 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Vietinbank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.134 – 23.254 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 2 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Techcombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.131 – 23.271 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 2 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Eximbank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.140 – 23.250 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; HSBC niêm yết giá đồng USD ở mức 23.155 – 23.255 VNĐ/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Sacombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.100 – 23.260 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 2 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra; Maritimebank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.145 – 23.255 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch ngày hôm qua 26/9/2019.
Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN
Tỷ giá áp dụng cho ngày 27/09/2019
Ngoại tệTên ngoại tệMuaBán
USDĐô la Mỹ23.20023.805
EURĐồng Euro24.51926.035
JPYYên Nhật208221
GBPBảng Anh27.69629.409
CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.61224.011
AUDĐô la Úc15.17116.109
CADĐô la Canada16.92917.976
Ngân hàng Nhà nước thông báo tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực kể từ ngày 26/9/2019 đến 02/10/2019 như sau:
STTNgoại tệTên ngoại tệTỷ giá
1EURĐồng Euro25.457,19
2JPYYên Nhật215,7
3GBPBảng Anh28.783,12
4CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ23.483,16
5AUDĐô la Úc15.687,68
6CADĐô la Canada17.465,29
7SEKCuron Thuỵ Điển2.383,63
8NOKCuron Nauy2.565,82
9DKKCuron Đan Mạch3.410,5
10RUBRúp Nga359,75
11NZDĐô la Newzealand14.625,33
12HKDĐô la Hồng Công2.953,37
13SGDĐô la Singapore16.804,62
14MYRRingít Malaysia5.526,5
15THBBath Thái757,86
16IDRRupiah Inđônêsia1,64
17INRRupee Ấn độ325,77
18TWDĐô la Đài Loan746,25
19CNYNhân dân tệ TQuốc3.249,61
20KHRRiêl Cămpuchia5,67
21LAKKíp Lào2,63
22MOPPataca Macao2.867,32
23TRYThổ Nhĩ Kỳ4.071,53
24KRWWon Hàn Quốc19,3
25BRLRin Brazin5.559,56
26PLNĐồng Zloty Ba Lan5.808,47
Trên thị trường tự do, lúc 9h30 giá USD niêm yết ở mức mua vào là 23.185 đồng/USD và bán ra là 23.200 đồng/USD, giảm 5 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch ngày hôm qua 26/9/2019.

Diễn biến giá USD tại thị trường tự do ngày 27/9/2019

Thế giới
Đêm qua, trên thị trường thế giới, tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 98,88 điểm.
USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,0959 USD; 107,55 yen đổi 1 USD và 1,2348 USD đổi 1 bảng Anh.
Đầu giờ sáng, đồng USD trên thị trường thế giới biến động khá mạnh ở trên mức cao trong bối cảnh thị trường đón nhận nhiều thông tin trái chiều đến từ nước Mỹ.
Trong khi các nhà đầu tư lạc quan về tuyên bố của ông Donald Trump về khả năng thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung có thể đến sớm hơn dự kiến, thì thị trường cũng lo lắng về những cáo buộc mạnh mẽ của tổng thống Mỹ tại Đại hội đồng tại Liên hợp quốc về việc Trung Quốc thực hành thương mại không công bằng.
Giới đầu tư vẫn thận trọng và đồng USD do vậy vẫn khá mạnh. Nền kinh tế Mỹ duy trì được đà tăng trưởng. Số liệu vừa công bố cho thấy, tăng trưởng kinh tế Mỹ khá khớp với kỳ vọng của thị trường. Tăng trưởng GDP trong quý 2/2019 của Mỹ đạt 2%, không đổi so với nhiều ước tính trước đó.
Trong khi đó, theo Bộ Lao động Mỹ, số liệu thất nghiệp trong tuần tính tới thứ 7 vừa qua tăng thêm 3.000 người lên 213.000 người. Đây là một số liệu khá thất vọng đối với dự báo của thị trường.
Vụ tổng thổng Mỹ Donald Trump bị Hạ viện Mỹ chính thức luận tội vẫn gây nhiều tranh cãi sau khi ông Trump cho công bố bản ghi lại cuộc nói gọi điện cho Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy trong tháng 7.
Trước đó, Đảng Dân chủ cáo buộc ông Trump đã gây sức ép lên tổng thống nước này nhằm tiến hành cuộc điều tra đối với Hunter Biden, con trai của cựu phó tổng thống Mỹ Joe Biden.
Nhiều người đồng tình với cuộc điều tra. Tuy nhiên, không ít người phản đối. Gerald Celente từ Trends Journal cho rằng việc luận tội ông Trump là một hành động “phí thời gian” và sẽ không có ảnh hưởng gì lớn tới nền kinh tế Mỹ cũng như đời sống của người Mỹ.
Theo đó, giả sử như điều đó có đúng thì cũng không có chuyện gì xảy ra bởi nếu hạ viện buộc tội ông Trump thì khi lên tới Thượng viện ông Trump gần như chắc chắn sẽ không sao khi mà Đảng Cộng hòa đang chi phối tại đây, trong khi điều kiện để buộc tội vị tổng thống Mỹ đời thứ 45 này là 2/3 số thượng nghị sĩ thông qua.
Một số tín hiệu tích cực từ đàm phán thương mại Mỹ-Trung cũng tác động đến thị trường. Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, Trung Quốc đã bắt đầu mua lượng lớn nông sản của Mỹ, trong đó có thịt bò và thịt lợn.
Theo kế hoạch, một phái đoàn Trung Quốc sẽ tới Mỹ vào đầu tháng 10 tới để tiến hành vòng đàm phán thương mại mới. Nhiều khả năng Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc sẽ dẫn đầu phái đoàn Trung Quốc, trong khi các quan chức Mỹ tham gia vòng đàm phán lần này bao gồm Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin, ông Lighthizer và một số quan chức khác.
Giá bitcoin hôm nay ghi nhận vào thời điểm 6h15 ở 8.087,08 USD, giảm 3,44% so với 24 giờ trước. Giá trị thị trường của bitcoin hiện đang ở 148,26 tỉ USD, chiếm 68% thị trường.
Vào lúc 20h30, giá bitcoin giảm mạnh từ 8.423 USD, mất 600 USD xuống mức thấp 7.827,94 USD, sau đó bật lại và duy trì ở 8.000 USD.
Trên thị trường, có 74/100 đồng tiền hàng đầu theo giá trị thị trường giảm giá so với 24 giờ trước.
Trong top 10, 9/10 đồng giảm giá so với 24 giờ trước.
Ethereum giảm 2,43% so với 24 giờ trước, ghi nhận ở 166.76 USD.
Ripple giảm 0,64% trong 24 giờ qua, còn 0,2450 USD.
Tether vẫn ở vị trí thứ 4 khi giảm nhẹ 0,2%, còn 1,00 USD.
Bitcoin cash giảm mạnh 4,92% trong ngày, còn 217,36 USD. Đây là đồng tiền giảm mạnh nhất trong top 10 trong 24 giờ qua.
Litecoin cũng giảm xuống 55,56 USD. So với 24 giờ trước, litecoin giảm 3,53%.
Giá trị thị trường của bitcoin cash và litecoin hiện đang lần lượt ở 4,12 tỉ USD và 3,92 tỉ USD.
Eos giảm 2,84% trong ngày, còn 2,82 USD.
Binance coin tiếp tục lao dốc 4,89% trong ngày, còn 15,54 USD.
Bitcoin SV giảm 3,48%, ghi nhận ở 84,24 USD.
Stellar là đồng duy nhất tăng trong top 10 hôm nay, lên 0,0587 USD với giá trị thị trường 1,18 tỉ USD.
Tổng giá trị thị trường tiền kĩ thuật số hôm nay tăng nhẹ lên 214,92 tỉ USD sau khi giảm xuống mức thấp 207,77 tỉ USD vào 23h37 đêm qua. So với 24 giờ trước, tổng giá trị thị trường giảm 6,68 tỉ USD, tương đương 3,01%.
Khối lượng giao dịch toàn thị trường trong 24 giờ qua đạt 65,18 tỉ USD, giảm 16,32% so với ngày 26/9.
Nguồn: VITIC

Xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép đóng góp vào kim ngạch cả nước 2,23 tỷ USD

Sau khi tăng trưởng ở tháng 7/2019, xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép kim ngạch đã suy giảm trở lại ở tháng 8/2019, giảm 3,6% xuống còn 306,28 triệu USD.

Xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép đóng góp vào kim ngạch cả nước 2,23 tỷ USD

Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 8/2019 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước 2,23 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 8 tháng đầu năm 2019, sản phẩm từ sắt thép của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu
sang thị trường Mỹ, chiếm 19,81% tỷ trọng đạt 443,39 triệu USD, tăng 47,45% so với tháng cùng kỳ năm trước, riêng tháng 8/2019 cũng đã xuất sang Mỹ 65,44 triệu USD, tăng 22,03% so với tháng 7/2019 và tăng 74,32% so với tháng 8/2018.
Đứng thứ hai sau Mỹ là thị trường Nhật Bản, đạt 313,61 triệu USDS, tăng 14,52% so với cùng kỳ năm trước, tính riêng tháng 8/2019 kim ngạch đạt 44,91 triệu USD, tăng 3,31% so với tháng 7/2019 và tăng 14,27% so với tháng 8/2018.
Kế đến là các thị trường Thái Lan, Ấn Độ, Hàn Quốc kim ngạch xuất sang ba thị trường này đều tăng trưởng, riêng chỉ có thị trường Thái Lan giảm 20,99% tương ứng với 140,76 triệu USD. Riêng tháng 8/2019, xuất sang ba thị trường đều tăng kim ngạch nhưng xuất sang Ấn Độ giảm 41,07% chỉ với 15 triệu USD.
Ngoài ra 4 thị trường chủ lực kể trên, mặt hàng sản phẩm từ sắt thép của Việt Nam còn được xuất khẩu sang các thị trường như: Hà Lan, Australia, Bỉ, Indonesia….
Để không quá phụ thuộc vào những thị trường truyền thống, so với cùng kỳ năm trước thị trường xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm nay có thêm một số thị trường mới như: Mozambique, Pakistan, Bangladesh, Romania, Séc, Achentina, Cô Oét và Phần Lan. Trong số những thị trường này xuất sang Phần Lan đạt kim ngạch cao nhất 10,14 triệu USD; thứ hai là Achentina 5,3 triệu USD; Bangladesh 5,07 triệu USD; Romania và Séc đều đạt trên 3 triệu USD; Pakistan 1,3 triệu USD; Cô Oét 956 nghìn USD và Mozambique 376,22 nghìn USD.
Nhìn chung, 8 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép sang các thị trường kim ngạch đều tăng trưởng, theo đó xuất sang thị trường các thị trường Thụy Điển và Na Uy tăng vượt trội. Theo đó, xuất sang Thụy Điển tăng gấp 3 lần (tương ứng 204,97%) đạt 52,6 triệu USD, riêng tháng 8/2019 cũng đã xuất sang Thụy Điển 11,21 triệu USD, tăng 5,98% so với tháng 7/2019 và tăng gấp 5,8 lần (tương ứng 476,37%) so với tháng 8/2018; xuất sang Na Uy tăng gấp 2,4 lần (tương ứng 140,48%) đạt 948,5 nghìn USD, riêng tháng 8/2019 đạt 69,64 nghìn USD, tăng 51,33% so với tháng 7/2019. Ngược lại, xuất sang thị trường Myanmar giảm mạnh 53,08% chỉ với 38 triệu USD so với cùng kỳ năm trước, riêng tháng 8/2019 xuất sang Myanmar 4,67 triệu USD, tăng 19,5% so với tháng 7/2019 nhưng giảm 68,23% so với tháng 8/2018.
Thị trường xuất khẩu sản phẩm từ sắt thép 8 tháng năm 2019
Thị trườngTháng 8/2019 (USD)+/- so với tháng 7/2019 (%)*8 tháng năm 2019 (USD)+/- so với cùng kỳ 2018 (%)*
Mỹ65.449.06822,03443.394.43247,45
Nhật Bản44.914.5523,31313.618.38014,52
Thái Lan22.984.22217,54140.760.112-20,99
Ấn Độ15.025.019-41,07139.547.6830,96
Hàn Quốc15.485.3882,45121.671.95615,05
Campuchia17.713.9256,62104.486.44662,47
Đức8.993.4459,2974.495.0042,66
Australia12.902.268-13,2167.637.7529,92
Hà Lan9.769.94023,3560.032.257-11,57
Trung Quốc5.837.623-55,4759.868.45346,44
Anh3.308.56619,9857.694.50053,05
Thụy Điển11.210.6585,9852.600.746204,97
Bỉ4.346.572-25,6744.488.571-28,65
Indonesia4.665.033-44,1843.918.189-0,15
Đài Loan3.001.733-36,7642.318.69435,14
Myanmar4.676.75419,538.022.561-53,08
Canada8.868.538108,1733.724.388-18,31
Ba Lan4.209.33713,4230.883.764-12,49
Lào4.340.9194,2525.201.7163,11
Italy3.864.33328,3320.751.877-3,09
Philippines1.599.38610,315.855.47836,36
Brunây2.960.584-31,4315.610.759 
Tây Ban Nha2.090.23535,9915.602.8670,75
Malaysia1.851.843-29,3915.356.42619,32
Hồng Kông (TQ)644.020-50,4215.255.66551,93
Singapore2.475.20099,5511.993.196-12,46
Pháp1.496.944-30,6511.833.990-15,47
Brazil814.561-44,9610.930.650-26
Đan Mạch765.357-7,48.016.31011,64
Thụy Sỹ978.45525,76.680.68322,12
Nam Phi749.242-21,325.399.92648,48
Saudi Arabia457.835-82,075.222.625-44,05
UAE315.17350,732.660.983-19,71
Hy Lạp172.757-66,432.476.684-3,9
Na Uy69.64751,33948.592140,48
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)
Nguồn: VITIC 

Giá xăng dầu hôm nay 1/10 đồng loạt giảm mạnh

Dữ liệu kinh tế Trung Quốc ảm đạm, căng thẳng vùng Vịnh hạ nhiệt là những yếu tố đẩy giá xăng dầu hôm nay 1/10 đồng loạt giảm mạnh.

gia xang dau hom nay 110 dong loat giam manh
Ảnh minh hoạ

Ghi nhận của Petrotimes, tính đến đầu giờ sáng 1/10, theo giờ Việt Nam, trên sàn New York Mercantile Exchanghe, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 12/2019 đứng ở mức 54,19 USD/thùng, tăng 0,21 USD/thùng trong phiên. Tuy nhiên, nếu so với cùng thời điểm ngày 30/9, giá dầu WTI giao tháng 12/2019 đã giảm tới 1,73 USD/thùng.

Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 12/2019 đứng ở mức 59,45 USD/thùng, tăng 0,20 USD/thùng trong phiên nhưng đã giảm tới 1,72 USD/thùng so với cùng thời điểm ngày 30/9.

Giá dầu thế giới tiếp tục giảm mạnh khi thị trường ghi nhận tín hiệu không mấy lạc quan từ thị trường Trung Quốc. Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) cho biết Chỉ số nhà quản lý mua hàng (PMI) trong tháng Chín đã tăng lên 49,8 cao hơn so với mức 49,5 trong tháng Tám, song vẫn ở dưới mốc 50 điểm – ranh giới phân định giữa tăng trưởng và suy giảm.

Ngoài ra, căng thẳng vùng Vịnh có phần hạ nhiệt sau bài trả lời phỏng vấn của Thái tử Mohammed về một loạt vấn đề nóng của khu vực, đặc biệt là vấn đề với Iran.

Trả lời báo chí ngày 29/9, Thái tử Saudi Mohammed bin Salman khẳng định, nước này đang cố gắng tìm kiếm một giải pháp hòa bình để xoa dịu những căng thẳng hiện nay. Bởi lẽ, nếu 1 cuộc xung đột giữa Saudi Arabia và Iran xảy ra, nó sẽ kéo cả khu vực vào xung đột, dẫn đến nền kinh tế toàn cầu sụp đổ, với việc giá dầu thế giới tăng lên mức “không tưởng”.

Hà Lê

Giá vàng hôm nay 1/10: Giảm mạnh, tiếp tục chìm sâu xuống đáy

Giá vàng hôm nay 1/10 khởi đầu phiên giao dịch tháng mới ảm đạm khi các doanh nghiệp đồng loạt điều chỉnh giảm giá vàng tới 700.000 đồng/lượng

Mở cửa phiên giao dịch lúc 6h sáng nay, theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới trên sàn Kitco giao dịch ở mức 1472.10 – 1473.10 USD/ounce.

Giá vàng kỳ hạn tháng 12 cuối cùng đã giảm 28,60 USD/ounce xuống 1477,60 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay cao hơn 15,7% (201 USD/ounce) so với đầu năm 2019. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 41,1 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn 800.000 đồng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới tuần này được dự đoán sẽ có sự sụt giảm mạnh. Theo giới phân tích thị trường kim loại quý, giá vàng giảm nhanh có nguyên nhân sâu xa từ cuộc điều tra luận tội Tổng thống Mỹ Donald Trump, chỉ số USD tăng cao và hướng chuyển kênh đầu tư từ mặt hàng vàng sang các loại tài sản rủi ro khác đã khiến giá vàng khó giữ được mức giá cao.

gia vang hom nay 110 giam manh tiep tuc chim sau xuong day
Giá vàng hôm nay 1/10 được cập nhật mới nhất. Ảnh minh họa

Giá vàng hôm nay 1/10

Chốt phiên ngày 30/9, các doanh nghiệp hầu hết đều điều chỉnh giảm giá vàng cả 2 chiều khoảng 200 – 700.000 đồng/lượng so với 1 ngày trước đó.

Cụ thể, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức 41,45 triệu đồng/lượng mua vào và 41,90 triệu đồng/lượng bán ra.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC mua vào ở mức 41,50 triệu đồng/lượng, bán ra 41,82 triệu đồng/lượng.

Giá vàng hôm nay 1/10: Giảm mạnh, tiếp tục chìm sâu xuống đáy

Giá vàng hôm nay 1/10 khởi đầu phiên giao dịch tháng mới ảm đạm khi các doanh nghiệp đồng loạt điều chỉnh giảm giá vàng tới 700.000 đồng/lượng

Giá vàng thế giới ngày 1/10

Mở cửa phiên giao dịch lúc 6h sáng nay, theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới trên sàn Kitco giao dịch ở mức 1472.10 – 1473.10 USD/ounce.

Giá vàng kỳ hạn tháng 12 cuối cùng đã giảm 28,60 USD/ounce xuống 1477,60 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay cao hơn 15,7% (201 USD/ounce) so với đầu năm 2019. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 41,1 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn 800.000 đồng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới tuần này được dự đoán sẽ có sự sụt giảm mạnh. Theo giới phân tích thị trường kim loại quý, giá vàng giảm nhanh có nguyên nhân sâu xa từ cuộc điều tra luận tội Tổng thống Mỹ Donald Trump, chỉ số USD tăng cao và hướng chuyển kênh đầu tư từ mặt hàng vàng sang các loại tài sản rủi ro khác đã khiến giá vàng khó giữ được mức giá cao.

Giá vàng hôm nay 1/10

Chốt phiên ngày 30/9, các doanh nghiệp hầu hết đều điều chỉnh giảm giá vàng cả 2 chiều khoảng 200 – 700.000 đồng/lượng so với 1 ngày trước đó.

Cụ thể, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức 41,45 triệu đồng/lượng mua vào và 41,90 triệu đồng/lượng bán ra.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC mua vào ở mức 41,50 triệu đồng/lượng, bán ra 41,82 triệu đồng/lượng.

Minh Tuệ (tổng hợp)

Hàng hóa TG tuần tới 28/9/2019: Dầu, vàng, sắt thép…nhìn chung giảm giá

Tuần qua, giá nguyên liệu trên thị trường quốc tế hầu hết giảm do lo ngại cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung leo thang sẽ làm kinh tế thế giới suy yếu.

Hàng hóa TG tuần tới 28/9/2019: Dầu, vàng, sắt thép…nhìn chung giảm giá

Năng lượng: Dầu giảm mạnh trong tuần
Phiên cuối tuần, giá dầu giảm do sản lượng của Saudi Arabia hồi phục nhanh hơn dự kiến trong bối cảnh các nhà đầu tư lo ngại về nhu cầu dầu thô toàn cầu và kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại.
Cuối phiên, dầu Brent giảm 83 US cent (1,3%) xuống 61,91 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ giảm 50 US cent (0,9%) xuống 55,91 USD/thùng. Như vậy, dầu đã về gần bằng mức trước khi các cơ sở lọc dầu của Saudi Arabi bị tấn công, hôm 14/9.
Tính chung cả tuần, Brent mất 3,7% – nhiều nhất kể từ đầu tháng 8/2019; WTI mất 3,6% – nhiều nhất kể từ giữa tháng 7/2019.
Saudi Arabia là yếu tố chính gây biến động giá dầu thế giới trong hầu như suốt tháng 9 này, tạo ra những kỷ lục về mức thay đổi giá hàng tuần cũng như hàng tháng. Báo chí đưa tin quốc gia này đã khôi phục công suất dầu về mức 11,3 triệu thùng/ngày. Tuy nhiên, hãng Aramco chưa lên tiếng xác nhận sản lượng của họ đã được khôi phục hoàn toàn.
Bên cạnh đó, những thông tin cho thấy kinh tế thế giới đang suy yếu xuất phát từ căng thẳng thương mại Mỹ – Trung cũng gây lo ngại nhu cầu sụt giảm, gia tăng áp lực lên mặt hàng dầu.
Chỉ vài ngày sau khi các quan chức thương mại của Mỹ và Trung Quốc kết thúc cuộc đàm phán thương mại cấp thứ trưởng mà không có kết quả tại New York, tại cuộc họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Tổng thống Mỹ Donald Trump cáo buộc Trung Quốc thực hiện các biện pháp thương mại không công bằng, bao gồm các rào cản thị trường, thao túng tiền tệ và đánh cắp tài sản trí tuệ. Điều này cho thấy nỗ lực giải quyết tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới và tiêu thụ nhiên liệu nhiều nhất thế giới vẫn chưa đạt được tiến triển đáng kể nào.
Chưa dừng ở đó, có thông tin cho hay Chính phủ Mỹ đang xem xét khả năng loại các công ty Trung Quốc khỏi các sàn giao dịch chứng khoán của nước này, động thái được cho là sẽ làm gia tăng mạnh căng thẳng thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Trong khi đó, niềm tin tiêu dùng ở Mỹ trong tháng 9/2019 đã giảm mạnh nhất trong chín tháng qua. Tại Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và cũng là nước nhập khẩu dầu thô lớn nhất, nhiều công ty công nghiệp đã ghi nhận lợi nhuận sụt giảm trong tháng Tám. Dữ liệu kinh tế của các nền kinh tế hàng đầu châu Âu và Nhật Bản cũng ảm đạm.
Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) cho biết có thể sẽ hạ dự đoán nhu cầu dầu toàn cầu năm 2019 và 2020 nếu kinh tế thế giới tiếp tục suy yếu.
Kim loại quý: Giá vàng giảm
Giảm mạnh vào đầu phiên vừa qua nhưng giá vàng đã hồi phục gần hết mức giảm đó vào cuối phiên sau thông tin Mỹ đang xem xét đưa các công ty Trung Quốc ra khỏi các sàn giao dịch chứng khoán Mỹ. Các nhà đầu tư lại hướng tới những tài sản an toàn như vàng.
Cuối phiên, vàng giao ngay giảm 0,5% xuống 1.498,07 USD/ounce, sau khi có lúc chạm mức thấp nhất kể từ 19/8 là 1.486,6 USD lúc đầu phiên; tính chung cả tuần vẫn mất khoảng 1,2%. Vàng kỳ hạn tháng 12/2019 giảm 0,6% xuống 1.506,4 USD/ounce.
Chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trumg đang xem xét cấm các công ty Trung Quốc niêm yết trên các sàn chứng khoán của Mỹ và bắt buộc hủy niêm yết với các công ty đã niêm yết trước đó. Các quỹ đầu tư hưu trí của Mỹ cũng sẽ bị hạn chế tiếp cận thị trường Trung Quốc. Cổ phiếu của các tập đoàn Trung Quốc như Alibaba, JD.com, Pinduoduo, Baidu, Vipshop Holdings, Baozun và IQIYI đã giảm từ 2% đến 4% ngay sau khi có thông tin trên.
Số liệu được Ủy ban đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ-Trung công bố cho thấy tính đến cuối tháng 2/2019, giá trị vốn hóa thị trường của 156 công ty Trung Quốc, bao gồm ít nhất 11 công ty nhà nước, được niêm yết trên 3sàn giao dịch lớn nhất của Mỹ đã đạt tới con số 1,2 nghìn tỷ USD.
Về những kim loại quý khác, bạch kim giảm 0,1% xuống 929,02 USD/ounce, tính chung cả tuần giảm mạnh nhất trong vòng một tháng, bạc giảm 1,5% xuống 17,54 USD/oune, trong khi palađi tăng 0,9% lên 1.682,56 USD/ounce và tính chung cả tuần tăng gần 2,5% – tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Kim loại công nghiệp: Giá nhôm giảm, sắt thép biến động trái chiều
Giá nhôm vừa trải qua tuần giảm mạnh nhất kể từ tháng 10 năm ngoái do giá alumina giảm và triển vọng nhu cầu yếu bởi kinh tế sa sút thì những lĩnh vực như vậy tải hay đóng gói – sử dụng nhiều nhôm – cũng kém theo.
Cuối phiên, trên sàn London, nhôm kỳ hạn giao sau 3 tháng giảm 0,1% xuống 1.735 USD/tấn, trong phiên có lúc xuống chỉ 1.721,5 USD, và tính chung cả tuần giảm hơn 3%.
Nhà phân tích Xiao Fu của Bank of China International cho biết, nhu cầu yếu là bởi hoạt động công nghiệp chậm lại, và điều này có thể còn gây áp lực giảm giá hơn nữa. Lợi nhuận của các công ty công nghiệp Trung Quốc sụt giảm trong tháng 8/2019 sau 3 tháng tăng trước đó.
Kẽm tăng trong phiên vừa qua, thêm 0,2% lên 2.303,5 USD/tấn, tính chung cả tuần nhìn chung không thay đổi. Trong khi đó, giá đồng tăng 0,8% lên 5.767 USD/tấn, nickel vững ở 17.205 USD/tấn còn thiếc giảm 1,2% xuống 16.125 USD/tấn.
Giá quặng sắt trên sàn Đại Liên đã tăng 1,6% trong phiên vừa qua lên 642,5 CNY/tấn, mặc dù khối lượng giao dịch ít. Tuy nhiên, quặng sắt hàm lượng 62% nhập khẩu vào Trung Quốc giảm xuống 92,5 USD/tấn từ mức 93 USD/tấn của phiên trước.
Hãng khai mỏ Brazil, Vale SA, vừa hạ dự báo về sản lượng quặng năm 2019 của hãng xuống 43 triệu tấn, từ mức 45 triệu tấn dự báo trước đây, nhưng cho biết điều đó sẽ không ảnh hưởng đến doanh số.
Giá thép không gỉ trên sàn Thượng Hải tăng 0,1% lên 15.7