gioithieu
Trang chủ Tin tức

Tin tức

Giá cà phê hôm nay 13/11: Giao dịch trầm lắng 13/11/2018 07:00 GMT+7

Giá cà phê hôm nay 13/11 tiếp tục không có biến động, thị trường cà phê trong nước và quốc tế trầm lắng.

Giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London giao tháng 11 giao dịch ở mức 1.654 USD/tấn, giảm 0,423% và kỳ hạn giao tháng 1 giao dịch ở mức 1.671 USD/tấn, giảm 0,838%.

Giá cà phê Arabica trên sàn ICE US – New York kỳ hạn giao ngay tháng 12 giảm 1,020 % ở mức 112,70 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3 ở mức 116,50 cent/lb giảm 0,858%.

Thị trường cà phê trong nước, giá cà phê nguyên liệu giao dịch ở mức từ 35.500 – 36.300 đồng/kg. Giá cà phê nhân xô thấp nhất 35.500 đồng/kg tại Lâm Đồng và cao nhất 36.300 đồng/kg tại Gia Lai.

Giá cà phê hôm nay 13/11: Giao dịch trầm lắng

Giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% tại cảng Tp.HCM giao dịch ở mức 1.557 USD/tấn, trừ lùi 110 USD/tấn (FOB).

Giá cà phê đã tăng nhưng vẫn dưới mức trung bình trong giai đoạn tháng 1/2008 – tháng 9/2018, đạt 138,56 US cent/pound. Trái ngược với tháng 9, chỉ số giá tổng hợp hàng ngày duy trì trên 100 US cent/pound trong suốt tháng 10, dao động trong khoảng 101,04 – 116,93 US cent/pound.

Theo ICO, sự tăng giá của đồng real Brazil đóng góp cho sự đi lên của giá nhóm cà phê Arbica Brazil, trong khi nguồn cung thắt chặt từ đầu mùa niên vụ mới tại nhiều quốc gia sản xuất đã ảnh hưởng tới những chỉ số khác.

Nam Hải

Tỷ giá trung tâm tăng, các ngân hàng giảm mạnh giá trao đổi đôla Mỹ

 Sáng nay (12/11), tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng so với mức công bố cuối tuần qua. Các ngân hàng thương mại đã giảm mạnh giá mua – bán USD. Thị trường tự do ngược chiều đi lên.Tỷ giá VND/USD giảm, thị trường tự do ngược chiều đi lên

 

Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, sáng nay tỷ giá trung tâm được áp dụng trong ngày 12/11 ở mức 22.725 đồng/USD, tăng 2 đồng so với mức công bố cuối tuần trước. Theo quy định, biên độ dao động +/-3%, tỷ giá sàn các ngân hàng thương mại được áp dụng trong ngày là 22.043 đồng và tỷ giá trần là 23.407 đồng/USD.

Phiên giao dịch ngày thứ 7 và mở cửa phiên sáng nay, hầu hết các ngân hàng thương mại đều giảm mạnh giá trao đổi đôla Mỹ so với phiên thứ Sáu tuần trước.
Cụ thể, lúc 9 giờ 30, tại Vietcombank niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.245 – 23.335 đồng/USD, giảm 25 đồng/USD so với mức chốt phiên ngày 9/11.
Đây cũng là mức niêm yết giá mua – bán USD. Ngân hàng này đã giảm 30 đồng/USD.
Tại Eximbank niêm yết giá mua – bán đồng USD ở mức 23.220 – 23.320 đồng/USD, giảm 40 đồng/USD.
Tại Techcombank cũng giảm mạnh giá mua – bán đồng USD, niêm yết ở mức 23.220 – 23.335 đồng/USD, giảm 30 đồng chiều mua và giảm 25 đồng/USD chiều bán so với mức niêm yết chốt ngày 9/11.
Tại ACB niêm yết giá mua – bán đồng USD ở mức 23.240 – 23.320 đồng/USD, giảm 40 đồng/USD so với mức niêm yết chốt phiên cuối tuần trước.
Tại Maritime Bank niêm yết giá mua – bán đồng USD bằng tiền mặt ở mức 23.240 – 23.406 đồng/USD, giảm 20 đồng chiều mua và duy trì chiều bán, bám sát mức trần. Ngân hàng duy nhất còn mức giá cao sát trần.
Đồng đôla Mỹ trên thị trường tự do trong nước hôm nay lại quay đầu tăng giá mạnh đi ngược với xu hướng của hệ thống ngân hàng. Cùng thời điểm trên, tại thị trường Hà Nội, giá mua – bán USD ở mức 23.420 – 23.460 đồng/USD, tăng 10 đồng/USD chiều mau những tăng tới 40 đồng/USD chiều bán so với cuối tuần trước.
Cuối tuần qua, chỉ số đo lường sức mạnh đồng USD trên thị trường quốc tế vẫn tăng 0,38% so với 6 đồng tiền chủ chốt trong giỏ thanh toán quốc tế.
Thị trường trong nước, so với tuần trước các ngân hàng đã giảm từ 25-40 đồng/USD. So với tháng trước, đồng USD đã giảm 60-80 đồng/USD.
Các ngoại tệ mạnh khác giao dịch tại thị trường trong nước hôm nay cũng giảm mạnh so với cuối tuần qua.
Đồng bảng Anh giảm mạnh nhất mất 191 đồng/GBP so phiên trước, giao dịch tại Vietcombank mua – bán 29.789 – 30.266 đồng/GBP.
Đồng EURO giảm sâu nhất mất đến 43 đồng/USD, giao dịch lúc 10 giờ ở mức 26.173 – 26.644 đồng/EUR (mua – bán).
Đô Canada giảm 60 đồng/CAD, giao dịch mua – bán ở mức 17.408 – 17.758 đồng/CAD.
Đô Úc giảm 31 đồng/AUD, giao dịch mua – bán ở mức 16.640 – 16.923 đồng/CAD.
Yên Nhật ngang giá so với phiên hôm trước, giao dịch quanh mức 198 – 201 đồng/JPY (mua – bán).
Phiên hôm nay duy nhất có France Thuỵ Sỹ đi ngược xu hướng với thị trường tăng 38 đồng/CHF, giao dịch mua – bán ở mức 22.844 – 23.303 đồng/CHF.

BÍCH HỜI

Giá vàng trong nước và thế giới tiếp đà ‘chìm sâu’

Sáng nay, giá vàng trong nước vẫn tiếp tục giảm, không có bất kỳ một dấu hiệu phục hồi nào. Bên cạnh đó giá vàng thế giới liên tiếp giảm mạnh trong mấy phiên gần đây.

Giá vàng trong nước và thế giới tiếp đà chìm sâu. Ảnh minh họa
Giá vàng trong nước và thế giới tiếp đà chìm sâu. Ảnh minh họa

Đầu tuần, giá vàng vẫn ‘chạm đáy’

Mở cửa lúc 8h30 sáng 13/11, giá vàng miếng trong nước được Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức mức 36.35 – 36.45 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này không đổi so với phiên giao dịch hôm qua 12/11.

Công ty Phú Quý niêm yết vàng miếng SJC với mức giá 36.36 –  36.45 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này tăng 10.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và  không thay đổi ở chiều bán ra so với phiên giao dịch hôm qua (12/11). Vàng 24K niêm yết ở mức 34.40 – 35.00 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra); giảm 10.000 đồng/lượng so với phiên giao dịch hôm qua 12/11.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36.32 – 36.48 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này giảm 30.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 12/11.

Đầu giờ sáng 13/11 (theo giờ Việt Nam), giá vàng thế giới ở mức 1203.1 – 1203.6 USD/ounce (mua vào – bán ra), giảm 7,1 USD/ounce so với phiên giao dịch hôm qua 12/11.

Trên thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ áp dụng ngày 13/11 là  22.727 VND. Mức giá này tăng 2 đồng/USD so với phiên giao dịch hôm qua 12/11.

Tại ngân hàng Vietcombank (hội sở chính) niêm yết quanh mức 22.255 – 23.345 đồng/USD , tăng 10 đồng/USD so với phiên giao dịch hôm qua 12/11.

Ngân hàng Tiên Phong, giá niêm yết USD ở mức 23.244 – 23.348 đồng/USD, tăng 10 đồng/USD ở chiều mua vào và tăng 4 đồng/USD ở chiều bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 12/11.

Theo các chuyên gia nhận định, thị trường chứng khoán thế giới đang có hiện tượng lao dốc trong hai phiên giao dịch gần đây, kéo theo giá vàng thế giới giảm sâu dưới đáy trong mấy ngày qua. Vì vậy giá trong nước rất khó để tăng trở lại trong những phiên giao dịch tiếp theo.

Tăng trưởng kinh tế 2019: Lạc quan nhưng vẫn lo ngại chất lượng

 Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, chỉ tiêu tăng trưởng GDP năm 2019 ở mức 6,6-6,8% là mức tăng thận trọng, hợp lý.

Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về Kế hoạch Phát triển kinh tế – xã hội 2019. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2019 được đặt ra ở mức 6,6 – 6,8%.

Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát là: Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tạo chuyển biến thực chất hơn trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và tận dụng có hiệu quả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

tang truong kinh te 2019: lac quan nhung van lo ngai ve chat luong hinh 1
Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2019 ở mức 6,6-6,8% (Ảnh minh hoạ: KT)

Tăng trưởng hợp lý

Đánh giá chung bức tranh kinh tế 2019 qua các chỉ tiêu Chính phủ đề ra và qua thực tiễn kinh tế 2018, TS. Lê Đình Ân, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc gia nhận định, kinh tế 2019 vẫn trên đà phát triển tích cực, kinh tế vẫn giữ được mức tăng trưởng tốt. Những nỗ lực của Chính phủ trong cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ kiến tạo đã tạo niềm tin và sự phấn khởi trong cộng đồng doanh nghiệp (DN).

TS Ân cho rằng, với các Hiệp định thương mại đã ký kết, cách làm ăn, chiến lược phát triển, tư duy của DN cũng như tư duy trong điều hành kinh tế cũng sẽ được đổi mới, nhờ đó tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh của DN trong nước phát triển. Với riêng Hiệp định CPTPP, trong năm 2019, Hiệp định này chưa tác động gì tới nền kinh tế, nhưng sẽ là yếu tố động viên, tạo không khí phấn khởi trong kinh doanh.

“Chỉ tiêu tăng trưởng GDP 2019 Chính phủ đặt ra theo tôi là khiêm tốn, mục tiêu này nhằm tạo ra sự vững chắc cho tăng trưởng, đồng thời tạo ổn định các cân đối của nền kinh tế”, ông Ân cho hay.

tang truong kinh te 2019: lac quan nhung van lo ngai ve chat luong hinh 2
TS. Lê Đình Ân, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc gia

Theo TS Lê Đình Ân, các yếu tố tăng trưởng của giai đoạn 2017-2018 không ổn định, kinh tế vẫn phụ thuộc vào khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào các thị trường lớn, do đó, xác định tăng trưởng GDP năm 2019 ở mức 6,6% – 6,8% là phù hợp và có khả năng thực hiện hơn nếu tình hình tương đối tốt. Ví dụ, Samsung ổn định sản xuất và có kế hoạch sản xuất tốt, Formosa tăng dây chuyền sản xuất, đưa lọc dầu Nghi Sơn và một số công trình khác vào hoạt động…

“Với các Hiệp định thương mại đã có hiệu lực, Việt Nam có khả năng tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, nếu biết khai thác tốt, có chính sách linh hoạt thì có thể chen chân để tận dụng những cơ hội từ chiến tranh thương mại Mỹ – Trung khi có điều kiện. Với sản xuất công nghiệp tại một số đầu tàu tăng, nông nghiệp giữ vững cơ cấu, xuất khẩu vẫn giữ được thị trường thì tăng trưởng 6,7-6,8% là có cơ sở, chưa nói đến mục tiêu 7% cũng có khả năng đạt được”, TS Lê Đình Ân nhận định.

Các dự báo của các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) mới đây cũng đều có cái nhìn tích cực về kinh tế Việt Nam năm 2019, với mức tăng trưởng dự báo khoảng 6,8%. Trong khi đó, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia đã xây dựng 2 kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2019, với mức tăng trưởng thậm chí lên tới 6,9 – 7,1%, tương ứng với mức lạm phát 4% và 4,5%.

Băn khoăn về chất lượng tăng trưởng

Tuy nhiên, trong khi mục tiêu tăng trưởng được cho là “không làm khó” Chính phủ trong điều hành, TS. Đinh Thế Hiển, chuyên gia kinh tế – tài chính cũng thẳng thắn chỉ ra một số tồn tại, khó khăn của kinh tế năm 2018 có thể sẽ kéo theo sang năm 2019 nếu Chính phủ không có sự thay đổi, khắc phục kịp thời. Đó là, các yếu tố cho tăng trưởng chưa bền vững, vẫn phụ thuộc lớn vào FDI, theo đó, xuất khẩu của khu vực FDI chiếm tới 72% tổng kim ngạch xuất khẩu; tăng trưởng còn phụ thuộc nhiều vào các DN FDI lớn như Samsung, Formosa… Tái cấu trúc, phát triển DN, đặc biệt cổ phần hoá DN nhà nước còn chậm, trong khi đó, các DN tư nhân, DN nhỏ và vừa chưa được chú ý, tạo điều kiện cho họ tiếp cận vốn, đất đai đang rất lúng túng.

tang truong kinh te 2019: lac quan nhung van lo ngai ve chat luong hinh 3
TS. Đinh Thế Hiển, chuyên gia kinh tế – tài chính

TS Đinh Thế Hiển cho rằng, chỉ tiêu tăng trưởng Quốc hội đặt ra sẽ đạt được nhưng nếu chỉ lấy chỉ tiêu tăng trưởng GDP là mục tiêu quan trọng số 1 mà không kèm theo đó là chất lượng của tăng trưởng GDP thì cũng sẽ không đúng với tinh thần của tái cấu trúc nền kinh tế mà Chính phủ đặt ra trong những năm gần đây. Và cũng không đúng với tinh thần của hội nhập, của kinh tế sản xuất và Chính phủ kiến tạo.

“Nếu tăng trưởng GDP chỉ dựa vào những yếu tố như FDI, đầu tư công thì mục tiêu mới đạt được 1 phần. Phải làm sao để các DN sản xuất, kinh doanh nội địa có thể ổn định và tăng trưởng năng lực sản xuất, tăng trưởng chất lượng sản xuất mới là điều quan trọng”, TS Đinh Thế Hiển nêu ý kiến.

Theo TS Hiển, Chính phủ cần tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn nữa, nhưng đó không phải chỉ là những điều kiện ưu đãi, bởi Chính phủ không thể dùng ưu đãi để tạo ra được những DN tốt mà chỉ có thể bằng cách cải thiện môi trường kinh doanh như cải cách các thủ tục hành chính, tăng sự cạnh tranh bình đẳng giữa các khu vực DN, đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN… mới là những điều thực sự cần và phải nỗ lực làm.

Bên cạnh những hạn chế nội tại của nền kinh tế, TS Lê Đình Ân cũng cho rằng, kinh tế thế giới năm 2019 cũng sẽ có nhiều biến động khó lường khiến giá cả những vật liệu chính có thể tăng mạnh, đặc biệt là dầu mỏ. Những xung đột của các nước lớn có thể đẩy giá dầu tăng mạnh, điều này có thể gây áp lực lớn lên tỷ giá và lạm phát của Việt Nam. Bên cạnh đó, các đồng tiền nội tệ của các nước có thể giảm giá, trong đó có Nhân dân tệ (thời gian qua đồng tiền này giảm đến 10% trong 10 tháng) làm ảnh hưởng lớn, áp lực lớn lên giá cả, tỷ giá trong nước, đặc biệt là vấn đề tài chính khi các nước này phải tung tiền ra khôi phục lại tỷ giá và việc khôi phục trị giá đồng tiền của nước họ sẽ làm ảnh hưởng đến Việt Nam.

“Cần hết sức lưu ý chiến tranh thương mại sẽ ảnh hưởng tới Việt Nam khi độ mở của kinh tế Việt Nam là rất lớn. Theo đó, cần chú ý để điều hành linh hoạt, hợp lý. Đây là những vấn đề lớn trong bức tranh kinh tế Việt Nam 2019 cần lưu ý”, ông Ân khuyến cáo./.

Cẩm Tú/VOV.VN

Tổ hợp khoan dầu với hệ thống dẫn khí dài nhất thế giới nằm ở độ sâu 2.000 dưới mặt biển

Ngày 11/11, Chính phủ Angola và Tập đoàn Total khánh thành tổ hợp giàn khoan dầu ngoài khơi trị giá 16 tỷ USD, nhằm nâng cao sản lượng khai thác của quốc gia xuất khẩu dầu thô hàng đầu châu Phi này.

Đây cũng là tổ hợp hợp khoan dầu đầu tiên trên thế giới có hệ thống ống dẫn khí đốt dài tới 300 km, nằm ở độ sâu 2.000 m dưới mặt biển.

Kết quả hình ảnh cho tổ hợp giàn khoan

Ảnh: PHẠM TÂY SƠN – WordPress.com

Tổ hợp giàn khoan mang tên Kaombo có sản lượng khai thác ở mức 230.000 thùng dầu/ngày, chiếm 15% tổng sản lượng khai thác dầu hàng ngày của quốc gia Tây Phi này. Đây là dự án liên doanh đa quốc gia bao gồm Sonangol – công ty dầu khí thuộc sở hữu nhà nước của Angola, Total của Pháp, Sinipec của Trung Quốc, Esso của Mỹ và Galp của Bồ Đào Nha.

Giám đốc điều hành tập đoàn Total Patrick Pouyanne cho biết với sản lượng khai thác trên, tổ hợp Kaombo sẽ giúp nâng tổng sản lượng khai thác của Total trên toàn thế giới lên 600.000 thùng/ngày vào năm 2030. Chính vì vậy, theo ông Patrick, mỏ Kaombo đóng vai trò quan trọng trong đường hướng phát triển của tập đoàn. Hiện tại, 40% sản lượng khai thác dầu tại Angola do Total đảm nhiệm.

Nằm cách thủ đô Luanda của Angola 250km, tổ hợp Kaombo bao gồm hai giàn khoan nổi với tổng chiều dài lên tới 600m sẽ khai thác dầu thô từ 6 giếng dưới đáy biển trải dài trên 800 km2 – tương đương với diện tích thủ đô Paris của Pháp.

Từng chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế 2 con số trong những năm 2000 nhờ vào xuất khẩu dầu thô – lĩnh vực kinh tế đóng góp tới 70% tổng thu ngân sách quốc gia, từ năm 2014, kinh tế Angola rơi vào suy thoái trầm trọng do giá dầu giảm mạnh. Mặc dù giá dầu phục hồi trong thời gian gần đây phần nào giúp vực dậy nền kinh tế nhưng Angola vẫn nằm trong danh sách những quốc gia nghèo nhất châu Phi với hơn nửa số dân hiện đang sống dưới mức nghèo khổ.

Phi Hùng (TTXVN)

Xuất khẩu gạo: Đổi chất, đa dạng hóa thị trường

Từ đầu năm đến nay, xuất khẩu gạo có chuyển biến tích cực và trở thành “điểm sáng” trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam.

Đặc biệt, trong bối cảnh giá gạo tại nhiều thị trường lớn giảm mạnh thì giá gạo xuất khẩu của Việt Nam lại tăng. Đây cũng là lần đầu tiên giá gạo xuất khẩu của nước ta cao hơn Thái Lan, dự báo một năm thành công trong lĩnh vực này. Để tiếp tục tăng giá trị, phát triển bền vững, ngành Nông nghiệp đang tập trung nâng cao chất lượng gạo, đa dạng hóa và thiết lập thị trường ổn định.
Xuất khẩu gạo luôn là “điểm sáng” trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam.
Nâng cao chất lượng

Theo thống kê của Bộ NN& PTNT, 10 tháng năm 2018, khối lượng xuất khẩu gạo chỉ tăng 6,62% song giá trị tăng tới 21% so với cùng kỳ năm 2017. Hiện Việt Nam vẫn giữ vững vị trí thứ 3 và chiếm 15% tổng lượng gạo xuất khẩu trên toàn thế giới. Quyền Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) Nguyễn Quốc Toản cho biết, cơ cấu xuất khẩu gạo đã có những chuyển biến tích cực.

Cụ thể, hiện gạo cao cấp và gạo thơm chiếm khoảng 50% phân khúc gạo xuất khẩu. Đây là định hướng được ngành lúa gạo đề ra trong nhiều năm nay với mục tiêu không chạy theo số lượng mà tập trung vào chất lượng nhằm tăng giá trị xuất khẩu.

Tại hội thảo về sản xuất và xuất khẩu gạo trong giai đoạn mới vừa được Hiệp hội Lương thực Việt Nam tổ chức, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống cho rằng: Không chỉ giải bài toán xuất khẩu mà sản xuất gạo trong nước cần có sự chuyển biến sang gạo chất lượng. Điều này vừa đáp ứng thị trường xuất khẩu và thị trường tiêu thụ nội địa, vừa là giải pháp giúp nâng cao đời sống cho người trồng lúa tại Việt Nam.

Cụ thể, với Cần Thơ, thành phố đang tập trung xây dựng vùng lúa chất lượng cao, liên kết theo cánh đồng mẫu lớn. Cần Thơ phấn đấu đến năm 2020, mở rộng diện tích trồng lúa liên kết theo cánh đồng mẫu lớn đạt bình quân 40.000 ha/vụ và diện tích lúa chất lượng cao sẽ chiếm 95% cơ cấu. Các mô hình sản xuất sẽ tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, tiêu chuẩn về VietGAP và cao hơn nữa…

Mặc dù không phải là địa phương có lượng xuất khẩu gạo lớn, song những năm qua, Hà Nội đã có những chuyển dịch tích cực trong trồng lúa. Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Chu Phú Mỹ cho biết, sản xuất lúa gạo của Hà Nội chủ yếu phục vụ nhu cầu người dân Thủ đô, số ít xuất khẩu sang các nước lân cận như Trung Quốc. Những năm qua, thực hiện tái cơ cấu, trồng lúa tại Hà Nội đã chuyển dần sang lúa chất lượng cao.

Cụ thể, đến nay, Hà Nội đã hình thành 154 cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa chất lượng cao với quy mô từ 100ha trở lên/cánh đồng tại 86 hợp tác xã nông nghiệp của 14 huyện, cho hiệu quả kinh tế cao hơn 25-30% sản xuất lúa truyền thống. Từ nay đến năm 2020, Hà Nội phấn đấu diện tích lúa chất lượng cao đạt từ 55.000 đến 60.000ha canh tác (chiếm khoảng 55-60% tổng diện tích gieo trồng lúa).

Thực tế cho thấy, để phân khúc xuất khẩu gạo chuyển hướng sang gạo chất lượng cao thì việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất tại các địa phương là giải pháp mang tính mấu chốt. Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh, sản xuất lúa gạo cần dựa theo thị trường để có định hướng sản xuất, tránh “cung vượt cầu” hoặc rơi vào phân khúc thị trường thứ cấp sẽ ảnh hưởng đến giá trị xuất xuất khẩu.

Đa dạng hóa thị trường

Mặc dù gạo Việt Nam đã được xuất sang hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, song thị trường vẫn chưa được đa dạng hóa. Hiện châu Á vẫn là thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam, chiếm hơn 60% lượng gạo xuất khẩu; tiếp đến là thị trường châu Phi 22%, châu Mỹ 8%, châu Âu 5% và khu vực khác 5%.

Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) Trần Thanh Hải cho rằng, đối với xuất khẩu gạo hiện nay, ngoài vấn đề thay đổi cơ cấu giống sản xuất, nâng cao chất lượng, đổi mới công nghệ trong phơi, sấy thì thị trường là hạn chế cần sớm được khắc phục.

Để nâng cao sức cạnh tranh cho hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới, Bộ Công Thương đã chủ trì Đề án xây dựng và phát triển thương hiệu gạo. Trong đó, tập trung xây dựng hình ảnh về hạt gạo Việt Nam, quảng bá về nền sản xuất lúa gạo của Việt Nam; đồng thời, giới thiệu những ứng dụng tiên tiến, khẳng định chất lượng gạo Việt.

Cùng với đó, các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu gạo cần chung tay kết nối, quảng bá liên kết trong xuất khẩu gạo. Với những tháo gỡ về chính sách, thị trường từ phía Nhà nước và các bộ, ngành thì các doanh nghiệp cần hoạt động theo mục tiêu chung, trong đó liên kết với nông dân để hình thành chuỗi sản xuất khép kín; mở rộng tìm kiếm thị trường, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Theo mục tiêu của ngành lúa gạo, đến năm 2030, thị trường châu Á chiếm khoảng 50%, châu Phi 25%, châu Mỹ 10%, châu Âu 6% và khu vực khác 9%…

Để giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, thời gian tới, Bộ Công Thương và Bộ NN&PTNT sẽ đẩy mạnh xúc tiến đến các thị trường khác, đặc biệt là khu vực châu Phi, Trung Đông, các nước Tây Á, Nam Á; tiếp đó là khu vực thị trường châu Âu, Nga…

“Đây là khối thị trường khá tiềm năng. Dù khối lượng gạo tiêu thụ có thể không lớn bằng các thị trường truyền thống, song đây là thị trường tiêu thụ các loại gạo cao cấp. Điều này sẽ góp phần rất lớn trong việc nâng cao giá trị xuất khẩu gạo Việt Nam”, ông Trần Thanh Hải khẳng định.

Đỗ Minh

Giá cà phê hôm nay 12/11: Áp lực mới từ mùa vụ

Giá cà phê hôm nay 12/11 thay đổi, thị trường cà phê trong nước đang đứng trước áp lực của mùa vụ thu hoạch.

Giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London giao tháng 11 giao dịch ở mức 1.650 USD/tấn, giảm 0,667% và kỳ hạn giao tháng 1 giao dịch ở mức 1.689 USD/tấn, tăng 0,237%.

Giá cà phê Arabica trên sàn ICE US – New York kỳ hạn giao ngay tháng 12 tăng 0,088% ở mức 113,95 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3 ở mức 117,50 cent/lb giảm 0,759%.

Thị trường cà phê trong nước, giá cà phê nguyên liệu giao dịch ở mức từ 35.500 – 36.300 đồng/kg. Giá cà phê nhân xô thấp nhất 35.500 đồng/kg tại Lâm Đồng và cao nhất 36.300 đồng/kg tại Gia Lai.

Giá cà phê hôm nay 12/11: Áp lực mới từ mùa vụ

Giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% tại cảng Tp.HCM giao dịch ở mức 1.557 USD/tấn, trừ lùi 110 USD/tấn (FOB).

Năm nay mưa nhiều nên cà phê không lo tình trạng thiếu nước và phát triển tốt; do đó sản lượng sẽ cao hơn năm trước. Mùa thu hoạch ở Đắk Nông đã bắt đầu vào cuối tháng 10. Các khu vực khác, bao gồm “thủ đô” cà phê Đắk Lắk, sẽ bắt đầu thu hoạch hạt cà phê vào giữa tháng 11/2018.

Thời tiết hanh khô và nắng nóng gần đây ở Việt Nam khá thuận lợi để thu hoạch và phơi khô hạt cà phê trong mùa vụ mới, theo RCMA.

Dự trữ cuối mùa của nông dân cũng bằng với mức của 1 năm về trước và mức trung bình 5 năm, dựa trên cuộc khảo sát từ cuối tháng 10/2018.

Những người trồng cà phê khả năng bán được 1,75 triệu tấn vào cuối tháng 10/2018 dựa trên mức sản lượng 1,785 triệu tấn của mùa trước (tức 98% sản lượng của vụ thu hoạch).

Thế nhưng, giá cà phê xuống thấp nhất trong 4 năm qua thì điệp khúc được mùa nhưng mất giá đang tái lặp.

Nam Hải

Giá vàng ngày 12/11: Thị trường tăng trở lại trong ngắn hạn

Giá vàng thế giới đầu giờ sáng nay hiện đã tăng nhẹ trở lại ở mức 1209 USD/Oz.

Vàng thế giới đi lên trong bối cảnh chứng khoán Mỹ đổi chiều giảm điểm sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung sẽ gây hại cho tăng trưởng toàn cầu.

Trong khi đó, chỉ số đồng USD – thước đo đánh giá đồng bạc xanh với rổ tiền tệ chính, cũng đã rời khỏi mức đỉnh của bảy tuần qua, càng tạo thêm động lực đi lên cho giá vàng.

Cục Dự trữ liên bang Mỹ đã nâng lãi suất ba lần trong năm 2018 và dự kiến nâng lãi suất lần thứ tư vào tháng 12/2018, qua đó có thể tạo ra rào cản đối với đà tăng của vàng bởi vì lãi suất tăng cao có thể giúp đồng USD hưởng lợi song lại khiến vàng mất giá.

Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC vào phiên cuối tuần đã được tập đoàn DOJI chốt tại ngưỡng mua vào là 36,35 triệu đồng/lượng, còn bán ra ở ngưỡng 36,45 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, công ty VBĐQ Bảo Tín Minh Châu cũng chốt phiên giao dịch ở mức mua vào và bán ra lần lượt là 36,36 triệu đồng/lượng và 36,44 triệu đồng/lượng.

Cùng thời điểm, công ty VBĐQ Sài Gòn cũng niêm yết giá vàng SJC ở chiều mua vào là 36,34 triệu đồng/lượng còn chiều bán ra là 36,5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trong nước cũng đã chịu ảnh hưởng bởi thị trường thế giới, khi liên tục suy giảm sau mỗi phiên giao dịch, các nhà đầu tư dần quay lại đồng USD mặc cho việc đồng tiền này mang tính rủi ro cao hơn.

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng đầu năm 2018

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước tính đạt 378,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước.

Kết quả hình ảnh cho bán lẻ hàng hóa

Ảnh VOV.

Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 286,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% và tăng 14,2%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 44,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,3% và tăng 8,4%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,3 nghìn tỷ đồng, giảm 3,8% và tăng 5,6%; doanh thu dịch vụ khác đạt 44,1 nghìn tỷ đồng, giảm 0,1% và tăng 5,6%.

Tính chung 10 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.612,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,31% (cùng kỳ năm 2017 tăng 8,79%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng năm nay ước tính đạt 2.719,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,3% tổng mức và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 13%; may mặc tăng 12,6%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 12%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 11,6%; phương tiện đi lại tăng 11,6%.

Một số địa phương có mức tăng khá: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,3%; Thanh Hóa tăng 13,2%; Bình Định tăng 12,7%; Thái Nguyên tăng 12,6%; Bắc Giang tăng 12,6%; Hải Dương tăng 11,9%; Nam Định và Hà Nội cùng tăng 11,8%; Lâm Đồng tăng 10,6%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 10 tháng ước tính đạt 440,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,2% tổng mức và tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bình Định tăng 14%; Lâm Đồng tăng 11,5%; Quảng Bình tăng 10,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,8%; Lào Cai tăng 8,2%; Cần Thơ tăng 7,3%; Kiên Giang tăng 5,4%; Hà Nội tăng 2,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành 10 tháng năm nay ước tính đạt 33,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước.

Một số địa phương có mức tăng khá: Hải Phòng tăng 21,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 19,3%; Nghệ An tăng 17,6%; Hà Tĩnh tăng 17,5%; Quảng Nam tăng 15,2%; Quảng Ninh tăng 15%; Lâm Đồng tăng 12,8%; Đà Nẵng tăng 11,2%; Hà Nội tăng 9,9%.

Doanh thu dịch vụ khác 10 tháng ước tính đạt 420 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tổng mức và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó doanh thu của Bình Thuận tăng 13,5%; Thanh Hóa tăng 12,8%; Đà Nẵng tăng 12,6%; TP.  Hồ Chí Minh tăng 11,6%; Kiên Giang tăng 11,4%; Kon Tum tăng 10,5%; Hà Nội tăng 4,6%.

Theo gso.gov.vn

Festival Lúa gạo Việt Nam lần III và công bố LOGO thương hiệu gạo Việt Nam

Ngày 6/11, tại TP HCM, Hội Nông dân Việt Nam, Bộ NN-PTNT và UBND tỉnh Long An đã tổ chức họp báo giới thiệu về “Festival Lúa gạo Việt Nam – Lần III – Long An, năm 2018” và “Lễ công bố LOGO thương hiệu gạo Việt Nam”, sẽ được tổ chức tại TP Tân An (Long An) từ 18-24/12/2018.

Toàn cảnh buổi họp báo. (Ảnh: Đại Đoàn Kết)

Đây là một trong những hoạt động nhằm cung cấp các giải pháp XTTM trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và phát triển nông thôn, hỗ trợ các doanh nghiệp và nông dân hoạt động hiệu quả và giúp ngành hàng lúa gạo Việt Nam tăng sức cạnh tranh trên thương trường.

“Festival Lúa gạo Việt Nam – Lần III – Long An, năm 2018” và “Lễ Công bố LOGO thương hiệu gạo Việt Nam” được diễn ra gồm một chuỗi các hoạt động liên hoàn bổ trợ lẫn nhau trong một chương trình tổng thể với nhiều chương trình hoạt động đa dạng, phong phú, hấp dẫn và ý nghĩa như: Lễ khai mạc Festival và Lễ công bố LOGO thương hiệu gạo Việt Nam; hoạt động hội chợ triển lãm (triển lãm thành tựu trong sản xuất, kinh doanh lúa gạo Việt Nam qua các thời kỳ; Long An tiềm năng đầu tư và phát triển; triển lãm Hạt gạo làng ta vươn ra thế giới; triển lãm máy móc, thiết bị, phục vụ sản xuất và chế biến nông sản nói chung, lúa gạo nói riêng; triển lãm giống, vật tư nông nghiệp …); hoạt động hội nghị, hội thảo với các nội dung “Thực trạng xâm nhập mặn và khô hạn – Giải pháp ứng phó – Bảo vệ cây lúa – Phát triển của hạt gạo Việt Nam”, “Gạo sạch Việt Nam – khẳng định vị trí – vươn tầm quốc tế”, Hội thi “Gạo ngon thương hiệu Việt” …

Festival là nhịp cầu kết nối các hoạt động giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh trên các lĩnh vực kinh tế – văn hóa – xã hội của tỉnh Long An – ĐBSCL đến với vùng miền trên phạm cả nước và bạn bè quốc tế; Là dịp để các tổ chức, doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước gặp gỡ, trao đổi với chính quyền, doanh nghiệp của tỉnh địa phương, nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư và phát triển kinh doanh.

THANH SƠN

Xuất khẩu thuỷ sản 10 tháng năm 2018 ước đạt 7,24 tỷ USD

Giá trị xuất khẩu thuỷ sản 10 tháng năm 2018 ước đạt 7,24 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2017. Dự kiến, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2018 sẽ đạt 8,9 tỷ USD.

Theo TTXVN

Tỷ giá ngoại tệ ngày 7/11: USD thế giới giảm mạnh, trong nước tăng

Giá USD trên thị trường thế giới giảm mạnh sáng nay, trong khi đó giá USD tại nhiều ngân hàng trong nước tăng.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng đô la Mỹ với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) sáng nay đang ở mức 95,94 điểm, giảm mạnh so với mức 96,15 điểm cùng thời điểm hôm qua. Chỉ số giá USD hôm qua dao động trong biên độ từ 95,79 điểm đến 96,23 điểm.

Theo Bloomberg, hiện USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1437 USD; 113,29 yen đổi 1 USD và 1,3106 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,9194 Nhân dân tệ (CNY).

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.727 đồng/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.408 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.046 VND/USD.

Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.357 đồng/USD, tăng 2 đồng so cùng thời điểm hôm qua; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và CNY ở mức 1 CNY đổi 3.259,75 VND, không đổi.

Trên thị trường tự do, giá mua – bán USD hiện đang là 23.405- 23.415 đồng/USD, giảm 45 đồng mỗi chiều giao dịch.

Giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại biến động nhẹ so với cùng thời điểm hôm qua. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.275-23.365VND/USD, không đổi; VietinBank niêm yết giá 23.278-23.368 VND/USD, không đổi; BIDV niêm yết giá 23.280-23.360 VND/USD, tăng 15 đồng mua vào, giảm 10 đồng bán ra./.

PV/VOV.VN

Giá vàng tiếp tục chìm sâu

Sau khi giảm mạnh 70 nghìn đồng/lượng vào sáng hôm qua, sáng nay (7/11) giá vàng miếng trong nước tiếp tục giảm 20-30 nghìn đồng/lượng.

Giá vàng tiếp tục chìm sâu

Ảnh minh họa.

Khảo sát lúc 8h30 sáng nay (7/11) giá vàng miếng SJC tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đang niêm yết ở mức 36,36 – 36,52 triệu đồng/lượng, giảm 30 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và 20 nghìn đồng/lượng ở chiều bán ra so với sáng hôm qua (6/11).
Chênh lệch giá mua – bán tăng lên mức 160 nghìn đồng/lượng.
Trong khi đó, Tập đoàn Doji đang niêm yết giá vàng miếng ở mức 36,38- 36,48 triệu đồng/lượng, giảm 30 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào – bán ra.

 Diễn biến giá vàng giao ngay trên thị trường New York. Biểu đồ: Kitco 
Cùng thời điểm, giá vàng giao ngay trên sàn Kitco tăng, hiện đang được niêm yết ở mức 1.226,4 USD/ounce, giảm 3,3 USD, tương đương 0,27% so với giá khảo sát sáng 6/11.
Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank sáng nay, hiện giá vàng thế giới khoảng 34,52 triệu đồng/lượng, rẻ hơn giá vàng SJC trong nước khoảng 2 triệu đồng/lượng.
Phiên giao dịch thứ Ba, giá vàng giao kỳ hạn giảm và đóng cửa ở mức thấp nhất trong gần 1 tuần.
Đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Ba, trên thị trường New York, giá vàng giao kỳ hạn tháng 12/2018 giảm 6 USD/ounce tương đương 0,5% xuống 1.226,3 USD/ounce.

HOÀNG HÀ

Quý III/2018, doanh thu và lợi nhuận của PV Machino (PVM) tăng mạnh

Doanh thu quý III/2018 của PVMachino tăng hơn 50% so với cùng kỳ, còn lợi nhuận sau thuế cũng tăng 25%.

CTCP Máy – Thiết bị dầu khí (PV Machino – mã chứng khoán PVM: sàn UPCoM) vừa công bố Báo cáo tài chính quý III/2018.

Theo đó, doanh thu quý III/2018 của Công ty đạt 180,7 tỷ đồng, tăng 57% so với cùng kỳ năm ngoái, doanh thu tài chính 11,3 tỷ đồng, tăng 46% so với cùng kỳ năm 2017. Lợi nhuận sau thuế quý III/2018 đạt 11,1 tỷ đồng, tăng 25% so với 8,9 tỷ đồng của quý III/2017.

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2018, PVM đạt doanh thu 622,8 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ 2017, lợi nhuận sau thuế đạt 32,2 tỷ đồng, tăng 40% so với cùng kỳ.

Theo PVM, doanh thu và lợi nhuận tăng mạnh trong quý III/2018 là do hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính trong quý III đem lại hiệu quả cao hơn so với cùng kỳ năm trước.

Tại ngày 30/9/2018, PVM có tiền và tương đương tiền 34,6 tỷ đồng, xấp xỉ số đầu năm. Các khoản phải thu ngắn hạn khách hàng 339,8 tỷ đồng (giảm 20% so với con số 425 tỷ đồng vào 1/1/2018), dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi 215,9 tỷ đồng, các khoản đầu tư tài chính dài hạn 253 tỷ đồng, dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn 17,2 tỷ đồng, tăng 6% so với đầu năm.

PV Machino có vốn điều lệ 386,38 tỷ đồng, cổ đông Nhà nước nắm giữ 51% vốn là Tổng công ty Điện lực dầu khí – PV Power, đơn vị vừa IPO thành công vào cuối tháng 1/2018.

Theo Bản công bố thông tin IPO của PV Power, sau khi cổ phần hóa, công ty mẹ PV Power sẽ thoái toàn bộ vốn tại PVM.

Tại ĐHCĐ thường niên 2018 của PVMachino, đại diện PV Power cho biết, Tổng công ty sẽ thoái toàn bộ vốn tại PVM trên sàn UPCoM trong năm 2018 theo phương thức công khai, đảm bảo lợi ích của nhà nước và đang lựa chọn thời điểm thị trường tốt hơn để có thể thoái vốn ở mức giá tốt.

Trên sàn UPCoM, cổ phiếu PVM hiện có giá dao động 10.000 – 10.500 đồng/cổ phiếu với thanh khoản không cao.
Bùi Trang

10 điểm mới về kinh doanh xuất khẩu gạo

Bộ Công Thương vừa tổ chức Hội nghị phổ biến, tuyên truyền Nghị định 107/2018/NĐ-CP (NĐ 107) về kinh doanh XK gạo.

Với nhiều điểm rất mới so với NĐ 109, NĐ 107 được kỳ vọng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn sự phát triển của ngành gạo Việt Nam.

10 điểm mới

Theo ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ Công Thương, trong 8 năm qua, Nghị định 109/2010/NĐ-CP (NĐ 109) đã phát huy tích cực, đóng góp quan trọng đảm bảo an ninh lương thực, bình ổn thị trường nội địa, thúc đẩy phát triển sản xuất, XK gạo bền vững, nâng cao vị thế, uy tín của XK gạo Việt Nam. Tuy nhiên, NĐ 109 cũng bộ lộ ra nhiều vấn đề gây khó khăn, vướng mắc, rào cản cho thương nhân khi tham gia thị trường XK gạo, nhất là các DN vừa và nhỏ, DN tìm được thị trường ngách cho những sản phẩm gạo đặc thù như gạo hữu cơ, gạo tăng cường các vi chất dinh dưỡng…

11-01-00_kdxk_go_cung_phi_nhu_nong_sn_khc
XK gạo qua cảng Sài Gòn

Chính vì vậy, việc Chính phủ ban hành Nghị định 107/2018/NĐ-CP (NĐ 107) về kinh doanh XK gạo để thay thế cho NĐ 109 là để tháo gỡ rào cản, vướng mắc cho các DN, đảm bảo tự do kinh doanh của các DN trong ngành gạo, giúp cho công tác điều hành XK gạo phù hợp hơn với thị trường hiện nay và trong những năm tới.

Trên tinh thần đó, ông Trần Xuân Long, Trưởng phòng XNK hàng nông lâm thủy sản (Cục XNK, Bộ Công Thương), cho biết, so với NĐ 109, NĐ 107 có 10 điểm mới. Điểm thứ nhất là không bắt buộc thương nhân kinh doanh XK gạo phải sở hữu kho chứa, cơ sở xay xát, chế biến lúa gạo, mà có thể thuê các cơ sở này để đáp ứng điều kiện kinh doanh.

Điểm thứ 2: Không quy định quy mô kho chứa lúa, gạo, công suất cơ sở xay xát, chế biến, không bắt buộc phải có dây chuyền xay lúa; không hạn chế địa bàn đầu tư; chỉ quy định kho chứa, cơ sở xay xát, chế biến lúa, gạo phải bảo đảm đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Điểm thứ 3: Xây dựng cơ chế khuyến khích, tạo thuận lợi cho XK các mặt hàng có chất lượng, giá trị cao; quy định mặt hàng gạo hữu cơ, gạo đồ, gạo tăng cường vi chất dinh dưỡng được tự do XK, không hạn chế số lượng, không cần đáp ứng điều kiện kinh doanh, không cần cấp giấy chứng nhận.

Điểm thứ 4: Bãi bỏ thủ tục kiểm tra, xác nhận kho chứa, cơ sở xay xát, chế biến lúa, gạo của Sở Công Thương cấp tỉnh; thương nhân tự kê khai thông tin, tự chịu trách nhiệm về đáp ứng điều kiện dinh doanh, thực hiện cơ chế hậu kiểm.

Điểm thứ 5: Quán triệt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh nội dung Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh XNK gạo.

Điểm thứ 6: Bãi bỏ quy định thủ tục bắt buộc thương nhân phải đăng ký hợp đồng XK gạo tại Hiệp hội Lương thực Việt Nam; bỏ quy định thương nhân phải có lượng gạo tồn kho tối thiểu tương được 50% lượng gạo trong hợp đồng đăng ký.

Điểm thứ 7: Bãi bỏ quy định giá sàn gạo XK và các quy định yêu cầu tuân thủ giá sàn XK trong giao dịch, ký kết hợp đồng.

Điểm thứ 8: Điều chỉnh giảm quy định lượng gạo dự trữ lưu thông từ 10% xuống còn 5% lượng gạo mà thương nhân đã XK trong 6 tháng trước đó.

Điểm thứ 9: Bổ sung quy định về khuyến khích, hỗ trợ thương nhân tăng cường liên kết với người sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, bảo đảm chất lượng gạo XK, công tác phát triển thị trường, ký kết các thỏa thuận về thương mại gạo với các nước, giao dịch, ký kết và tổ chức thực hiện hợp đồng tập trung.

Điểm thứ 10: Bổ sung một số quy định trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương liên quan trong điều hành XK gạo; điều chỉnh, bổ sung quy định cụ thể chế độ báo cáo của thương nhân, các bộ, ngành và cơ quan hải quan để kịp thời có thông tin, số liệu phục vụ công tác điều hành XK chung.

Gạo không cần cơ chế quản lý đặc biệt

Ông Phạm Thái Bình, GĐ Cty Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An, cho rằng với những quy định mới, NĐ 107 đã cởi trói cho DN XK gạo khi bỏ đi nhiều quy định không còn phù hợp. Vì vậy, hy vọng trong thời gian tới, XK gạo sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến băn khoăn rằng sự thông thoáng của NĐ 107 liệu có đưa ngành kinh doanh XK gạo Việt Nam trở lại với thời điểm trước khi có NĐ 109 (trước năm 2010) khi bất cứ thương nhân nào cũng có thể tham gia XK gạo làm hỗn loạn thị trường? NĐ 107 có làm suy yếu công tác điều hành XK chung cho ngành hàng gạo Việt Nam? NĐ 107 có làm ảnh hưởng tới an ninh lương thực quốc gia?…

Trả lời những ý kiến này, ông Trần Quốc Khánh đặt ra câu hỏi: Tại sao các mặt hàng nông sản khác như rau quả, tiêu, điều, cà phê… đều đang được tự do kinh doanh bao lâu nay và vẫn mang về giá trị XK hàng tỷ USD, thì ngành gạo lại vẫn cứ đòi hỏi phải hạn chế kinh doanh, phải có cơ chế quản lý riêng?

Theo ông Khánh, gạo không phải là mặt hàng đặc biệt để áp dụng cơ chế quản lý riêng biệt như trong 8 năm qua với NĐ 109. Sản lượng gạo hàng năm của nước ta vẫn đang dư ra tới 6 – 7 triệu tấn so với nhu cầu nội địa, thì không việc gì phải lo lắng về an ninh lương thực. Việc cởi trói cho các thương nhân tham gia thị trường gạo, tất nhiên sẽ lại xuất hiện những hiện tượng không lành mạnh như có những DN đua nhau chào giá thấp để có hợp đồng… Nhưng đó mới là thị trường. Những DN làm ăn nghiêm túc sẽ luôn biết chào giá như thế nào để đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Còn những DN cố tình chào những mức giá mà họ không thể thực hiện nổi thì sẽ bị mất uy tín, bị đào thải ra khỏi thị trường gạo. Dần dà, thị trường gạo sẽ ổn định và phát triển bền vững khi chỉ còn lại những DN làm ăn nghiêm túc, đàng hoàng. Đây là sự chọn lọc tự nhiên theo đúng đặc thù của kinh tế thị trường. Vì vậy, với NĐ 107, Chính phủ sẽ không can thiệp sâu vào thị trường gạo như trước nữa, mà chỉ đảm bảo sự tự do kinh doanh, XK gạo phải nằm trong khuôn khổ pháp luật.

Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh, dù có nhiều thay đổi trong công tác điều hành, kinh doanh, XK gạo, nhưng trong những năm tới, ngành gạo vẫn phải đáp ứng 3 mục tiêu chính: Tiêu thụ hết lúa gạo hàng hóa cho nông dân; ổn định được thị trường gạo trong nước, không để giá gạo biến động ảnh hưởng tới chỉ số CPI; XK gạo phải đảm bảo được giá tốt nhất có thể, không để xảy ra tình trạng phá giá gạo XK.
THANH SƠN

Đồng Nai đứng thứ 3 cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài

 Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai, hiện địa phương này đang đứng thứ 3 trong cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, sau TP.Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương.


Một doanh nghiệp có vốn đầu tư từ Hàn Quốc tại Đồng Nai
(Nguồn: Báo Đồng Nai)

Cũng theo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai, đến nay tỉnh này đã thu hút trên 1.850 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 33,4 tỷ USD. Trong đó, có gần 1.400 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 28,3 tỷ USD.

Tính từ đầu năm 2018 đến nay, tỉnh Đồng Nai cũng đã thu hút được gần 1,6 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, vượt gần 60% so với kế hoạch năm. Trong đó, cấp mới 101 dự án với tổng vốn gần 804 triệu USD; 87 dự án điều chỉnh vốn tăng thêm hơn 789 triệu USD.

Những quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư mới, tăng vốn vào Đồng Nai nhiều trong năm 2018 là Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc)…. Trong đó, Hàn Quốc dẫn đầu về vốn đầu tư tại Đồng Nai. Cụ thể, Hàn Quốc hiện có 377 dự án đang hoạt động tại tỉnh Đồng Nai, với tổng vốn đăng ký khoảng 5,8 tỷ USD. Các doanh nghiệp của Hàn Quốc hoạt động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ở nhiều lĩnh vực như công nghiệp, dịch vụ, logistics, nông nghiệp. Khoảng 5 năm trở lại đây, đầu tư của Hàn Quốc vào Đồng Nai tăng khá nhanh.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Đồng Nai đều đạt kết quả tốt. Hàng năm, tỉnh Đồng Nai đều tổ chức hội nghị đối thoại, gặp gỡ trực tiếp với các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có các buổi đối thoại, gặp gỡ riêng với các doanh nghiệp Hàn Quốc nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp khi hoạt động tại tỉnh.

Theo ông Lim Jae Hoon, Tổng lãnh sự Hàn Quốc tại TP. Hồ Chí Minh, hiện các doanh nghiệp của Hàn Quốc đang hoạt động tại Đồng Nai đã nhận được sự hỗ trợ của chính quyền và môi trường đầu tư thuận lợi của tỉnh này. Một số tập đoàn lớn của Hàn Quốc đã đến Đồng Nai đầu tư như Hyosung, Samsung, CJ, Changshin, LG…, tỉnh Đồng Nai cũng đã ký kết thỏa thuận hợp tác trên nhiều lĩnh vực với tỉnh Gyeongnam của Hàn Quốc. Thời gian tới, khi một số tuyến đường đường cao tốc hoàn thiện, cùng với Cảng hàng không quốc tế Long Thành đi vào hoạt động hứa hẹn sẽ có làn sóng doanh nghiệp Hàn Quốc đến Đồng Nai đầu tư trên các lĩnh vực. Phía Lãnh sự quán sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp thông tin về chính sách thu hút đầu tư, những ngành nghề mà tỉnh Đồng Nai đang ưu tiên mời gọi./.

K.V

Tỷ giá ngoại tệ ngày 6/11: Giá USD tăng nhẹ

Giá USD tại các ngân hàng hôm nay (6/11) tăng nhẹ sau khi NHNN điều chỉnh tỷ giá trung tâm tăng thêm 2 đồng so với hôm qua, lên mức 22.725 VND/USD.

Tỷ giá trung tâm hôm nay (6/11) được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.725 VND/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua.

Hiện Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.355 đồng/USD, giá mua vào vẫn duy trì là 22.700 đồng/USD.

Theo niêm yết của Ngân hàng Nhà nước, hôm nay tỷ giá giữa VND và  CNY ở mức 1 CNY đổi 3.259,75 VND, không đổi so với phiên liền trước.

ty gia ngoai te ngay 6/11: gia usd tang nhe hinh 1
Giá USD hôm nay tăng nhẹ. (Ảnh minh họa)

Tại nhiều ngân hàng thương mại, giá USD biến động nhẹ so với cùng thời điểm hôm qua, phổ biến dao động quanh ngưỡng 23.265- 23.380 đồng/USD.

Cụ thể, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.275 23.365VND/USD.

VietinBank niêm yết tỷ giá ở mức 23.278-23.368 VND/USD, tăng 6 đồng  so với hôm qua.

BIDV niêm yết giá 23.265-23.370 VND/USD, tăng 5 đồng so với phiên trước.

Trên thị trường thế giới, đồng USD đang giữ ở mức ổn định kể từ khi dữ liệu về việc làm của Mỹ mới đây khẳng định dự báo của thị trường về việc tăng lãi suất.

Đầu phiên giao dịch ngày 6/11 (theo giờ Việt Nam), chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 96,61 điểm.

USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1371 USD; 113,25 yen đổi 1 USD  và 1,2989 USD đổi 1 bảng Anh./.

Trần Ngọc/VOV.VN

Giá vàng hôm nay 6/11 quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay 6/11 giảm so với phiên trước đó.

Giá vàng hôm nay giảm. Ảnh minh họa: TTXVN

Cụ thể, trong phiên giao dịch hôm nay 6/11, giá vàng SJC trên thị trường Hà Nội thời điểm 8 giờ 55 phút được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giao dịch ở ngưỡng 36,39 – 36,56 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này giảm 50 nghìn đồng mỗi lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với cuối phiên trước đó.

Trong khi đó, tại Công ty Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC được niêm yết ở mức, 36,44 -36,51 triệu đồng/lượng, không biến động so với phiên trước đó. Còn giá vàng thương hiệu Rồng Thăng Long được doanh nghiệp này niêm yết ở mức 35,04 – 35,49 triệu đồng/lượng.

Tại Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI, thời điểm 8 giờ 53 phút, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 36,41 – 36,51 triệu đồng/lượng. Mức giá này cũng cũng giảm 20 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều so với cuối phiên trước đó.

Trên thị trường vàng thế giới, trong phiên giao dịch ngày 5/11, giá vàng đi xuống do giới đầu tư bán ra chốt lời sau sự tăng giá gần đây của mặt hàng này và tâm lý cẩn trọng của giới đầu tư.

Giới phân tích nhận định một số hoạt động bán ra kiếm lời đã gây sức ép đối với giá kim loại quý này. Bên cạnh đó, các nhà quan sát cho biết giá vàng phiên 5/11 giao dịch trong biên độ hẹp vì tâm lý cẩn trọng của giới đầu tư trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ Quốc hội tại Mỹ.

Theo chiến lược gia Bob Haberkorn, thuộc RJO Futures, thị trường khá yên ắng khi nhiều người chờ đợi diễn biến mới xung quanh cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ Quốc hội ở Mỹ diễn ra ngày 6/11.

Thời điểm 9 giờ 16 phút sáng nay, giá vàng trên thị trường châu Á giao dịch ở mức 1.233,7 USD/ounce. Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank (chưa tính thuế và các khoản phí), giá vàng trong nước hiện đắt hơn giá vàng thế giới hơn 1,8 triệu đồng/lượng.

Thùy Linh/BNEWS/TTXVN

Các mặt hàng nông sản đều tăng giá phiên cuối tuần qua

Giá các mặt hàng nông sản trên sàn giao dịch hàng hóa Chicago (CBOT, Mỹ) đều tăng trong phiên giao dịch 2/11, trong đó giá đậu tương giao kỳ hạn đạt mức cao nhất của hai tuần.

Cụ thể, giá ngô giao tháng 12/2018 tăng 4,5 xu Mỹ (1,23%) lên 3,7125 USD/bushel; giá lúa mỳ giao cùng kỳ tiến 0,75 xu Mỹ (0,15%) lên 5,0875 USD/bushel. Còn giá đậu tương giao tháng 1/2019 tăng 5,75 xu (0,65%) lên 8,8775 USD/bushel. (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg, 1 bushel ngô = 25,4 kg).

Các mặt hàng nông sản đều tăng giá phiên cuối tuần qua. Ảnh minh họa: Reuters

Giá ngô giao kỳ hạn cũng tăng nhờ đồn đoán Bộ Nông nghiệp Mỹ sẽ hạ dự báo sản lượng mùa màng trong báo cáo hàng tháng sắp công bố. Trong khi đó, giá lúa mỳ nhích lên, “nối gót” diễn biến của giá ngô.

Theo Cơ quan dự báo thời tiết quốc gia, có khả năng sẽ lại xảy ra mưa bão ở các vùng của khu vực Midwest (Trung tây nước Mỹ), do đó sẽ có mưa lớn ở một số khu vực vào cuối tuần.

Minh Hằng (Theo THX)

Tỷ giá ngoại tệ ngày 5/11: Giá USD lao dốc sáng đầu tuần

Sáng nay, tỷ giá trung tâm VND/USD giảm và giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại cũng đồng loạt giảm.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng đô la Mỹ với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) sáng nay đang ở mức 96,27 điểm, cao hơn mức 96,17 điểm cùng thời điểm phiên cuối tuần trước, nhưng đang giảm nhẹ so với chốt phiên tuần trước hôm 2/11, ở mức 96,35 điểm. Chỉ số giá USD tuần vừa qua dao động trong biên độ từ 95,84 điểm đến 96,96 điểm.

Theo Bloomberg, hiện USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1392 USD; 113,19 yen đổi 1 USD và 1,2996 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,8907 Nhân dân tệ (CNY).

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.723 đồng/USD, giảm 2 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.404 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.042 VND/USD.

Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.355 đồng/USD, giảm 4 đồng so cùng thời điểm cuối tuần trước; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và  CNY ở mức 1 CNY đổi 3.259,75 VND, không đổi.

PV/VOV.VN

Ngành hàng lúa gạo đang đi đúng hướng

Mới đây, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) kết hợp với Bộ Công Thương, Bộ NN-PTNT tổ chức hội thảo “Sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam trong giai đoạn mới”.

Gạo thơm XK tăng cao

Theo Tổng cục Hải quan, ước khối lượng gạo XK trong tháng 10/2018 đạt 264,5 ngàn tấn, kim ngạch 135,56 triệu USD, so với cùng kỳ 2017 tăng 22,96% về lượng và tăng 31,8% về giá trị. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2018, ước khối lượng gạo XK đạt 5,15 triệu tấn gạo với kim ngạch 2,6 tỷ USD. So với cùng kỳ tăng 6,62% về lượng và tăng 21,49% về kim ngạch.

10-52-54_nh_1_-_xut_khu_go_o_dbscl
Hiện nay gạo Việt XK đang có giá cao

Qua đó cho thấy ngành gạo đang đi đúng theo chiến lược phát triển thị trường của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2017-2020, định hướng đến 2030, với mục tiêu là giảm dần về số lượng nhưng vẫn giữ ổn định và tăng về giá trị. Cùng với đó, ngành nông nghiệp đã đẩy mạnh SX các giống lúa chất lượng cao và tăng lượng gạo thơm ngon.

Cơ cấu gạo XK có sự chuyển dịch tích cực, giảm mạnh ở phân khúc gạo cấp trung bình và cấp thấp; tăng mạnh ở dòng gạo cao cấp, có chất lượng và giá trị cao. Chủng loại gạo XK thay đổi rất rõ, theo đó, gạo cao cấp 1,050 triệu tấn, gạo trung bình là 870,56 triệu tấn gạo; gạo cấp thấp 91,52 ngàn tấn; gạo thơm các loại 1,437 triệu tấn; gạo nếp đạt 637,484 ngàn tấn; gạo Japonica 86,86 ngàn tấn… Có được kết quả này là nhờ những thay đổi tích cực trong chiến lược xuất khẩu.

10-52-54_nh_2_-_sn_xut_lu_cht_luong_co
Ngành nông nghiệp ĐBSCL đã đẩy mạnh SX các giống lúa chất lượng cao và tăng lượng gạo thơm ngon để XK

Cụ thể phấn đấu vào năm 2030, tỷ trọng gạo trắng thường chỉ chiếm khoảng 25%, trong đó gạo phẩm cấp thấp và trung bình không vượt quá 10% tổng lượng gạo XK; gạo thơm, gạo đặc sản, gạo japonica chiếm khoảng 40%, gạo nếp chiếm khoảng 25%; tăng dần tỷ trọng các sản phẩm gạo có giá trị gia tăng cao như gạo tăng cường vi chất dinh dưỡng, gạo đồ, gạo hữu cơ, bột gạo, sản phẩm chế biến từ gạo, cám gạo và một số phụ phẩm khác từ lúa gạo (khoảng trên 10%).

Vẫn phải quy hoạch lại

Ông Trần Văn Công, Phó Cục trưởng Cục chế biến và phát triển thị trường nông sản (Bộ NN-PTNT), trong số 4,686 triệu tấn gạo XK trong 10 tháng đầu năm, gạo phẩm cấp cao, chất lượng cao chiếm tới 80% cơ cấu XK. Đặc biệt, gạo thơm các loại có khối lượng XK lớn nhất, chiếm đến 1,438 triệu tấn. Qua đó cho thấy chúng ta đã và đang làm rất tốt công tác mở rộng thị trường, đa dạng hóa không phụ thuộc vào 1 thị trường, đã tạo ra cú hích với những thị trường mới, một số nước như Indonesia, Trung Đông và Châu Phi có thể là điều kiện thuận lợi cho việc XK gạo của Việt Nam trong thời gian tới.

Tuy nhiên, chất lượng gạo thơm hiện nay chưa đồng nhất mà có sự pha trộn, có thể làm ảnh hưởng đến uy tín gạo thơm của Việt Nam. Có một vấn đề đặt ra khi chuyển đổi cơ cấu diện tích trồng lúa từng địa phương chưa có một sự gắn kết, và thiếu quy hoạch đồng bộ cho nên diện tích trồng lúa thơm diễn ra manh mún.

Ông Nguyễn Ngọc Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng, hiện nay bà con trồng nhiều giống lúa thơm khác nhau nên khi thu hoạch không tạo ra được sản phẩm hàng hóa lớn, mỗi loại chỉ xuất bán được một vài container là hết hàng, muốn xuất bán số lượng lớn khoảng 30 – 40 ngàn tấn/tàu như trước đây thì không được vì không có đủ sản lượng.

10-52-54_nh_3_nhung_nm_gn_dy_nong_dn_dbscl_d_chuyen_sng_sx_lu_go_theo_tinh_hieu_thi_truong
Những năm gần đây nông dân ĐBSCL đã chuyển sang SX lúa gạo theo tính hiệu thị trường

“Để có khối lượng lớn, các DN phải đi mua gom các giống lúa thơm khác nhau trộn lại như vậy chất lượng sẽ không đồng nhất, làm ảnh hưởng tới chất lượng gạo thơm XK và ảnh hưởng uy tín DN. Nếu chất lượng gạo thơm không ổn định sẽ là một nguy cơ đối với thị trường và như vậy việc tạo dựng thương hiệu gạo thơm của Việt Nam sẽ có vấn đề”, ông Nam nói.

LÊ HOÀNG VŨ

Giá vàng hôm nay 5/11/2018: Vàng SJC tăng 50.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay 5/11/2018: Giá vàng SJC tại Tập đoàn Doji được giao dịch ở mức  mua vào – bán ra lần lượt là 36,460 – 36,580 triệu đồng/lượng, tăng 50.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với cuối phiên trước đó.

Đầu giờ sáng nay (5/11), tại thị trường Hà Nội, giá vàng SJC đang được Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn – SJC niêm yết dao động ở ngưỡng 36,460 – 36,630  triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), tăng 30.000 đồng mỗi lượng ở chiều mua vào và tăng 40.000 đồng mỗi lượng ở chiều bán ra so với cuối phiên trước đó.

Tại TP.HCM, vàng SJC niêm yết ở mức giá là 36,460 – 36,610 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra, tăng 40 nghìn đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm phiên trước đó.

Trong khi đó, tại Hà Nội, giá vàng SJC tại Tập đoàn Doji được giao dịch ở mức  mua vào – bán ra lần lượt là 36,460 – 36,580 triệu đồng/lượng, tăng 50.000 đồng/lượng ở cả hai chiều so với cuối phiên trước đó.

Tại TP.HCM, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 36,500 – 36,580 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Giá vàng hôm nay 5/11/2018: Vàng SJC tăng 50.000 đồng/lượng - Ảnh 1

Giá vàng hôm nay 5/11/2018: Vàng SJC tăng 50.000 đồng/lượng. Ảnh minh họa

Tại Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Quý, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 36,470 – 36,570 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm nhẹ 10.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào – bán ra so với phiên giao dịch trước.

Tới đầu giờ sáng 5/11 (giờ Việt Nam),  vàng thế giới đứng ở mức 1.234,32 USD/Ounce, tăng nhẹ 1 USD so với chốt phiên giao dịch cuối tuần trước.Trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchanghe, giá vàng thế giới giao tháng 12/2018 đứng ở mức 1.235,6 USD/Ounce.

Như vậy, mở cửa phiên giao dịch đầu tuần, giá vàng thế giới tiếp tục có xu hướng tăng nhẹ bất chấp đồng USD phục hồi ở mức cao.

Trước đó, tính tới cuối phiên giao dịch 4/11, giá vàng trong nước chốt phiên giao dịch ngày hôm qua, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 36,45 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,55 triệu đồng/lượng (bán ra).

Tại Công ty SJC, giá vàng niêm yết chiều mua vào là 36,44 triệu đồng/lượng, ở chiều bán ra có mức giá là 36,62 triệu đồng/lượng. Tại thị trường TP.HCM, chiều bán ra niêm yết ở mức giá 36,60 triệu đồng/lượng.

Vũ Đậu (T/h)

Sản lượng dầu của OPEC tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2016

OPEC đã tăng sản lượng dầu trong tháng 10/2018 lên mức cao nhất kể từ năm 2016, sản lượng tăng được dẫn dắt bởi UAE và Libya bù cho sự sụt giảm của Iran do các lệnh trừng phạt của Mỹ.

Sản lượng dầu của OPEC tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2016

15 nước thành viên OPEC đã bơm 33,31 triệu thùng dầu mỗi ngày trong tháng này, tăng 390.000 thùng/ngày so với tháng 9/2018 và cao nhất của tổ chức này kể từ tháng 12/2016.
OPEC hồi tháng 6/2018 đã đồng ý bơm thêm dầu sau áp lực từ Tổng thống Mỹ Donald Trump hạn chế giá đang tăng và bù cho sự thiếu hụt được dự kiến trong xuất khẩu của Iran. Giá dầu đã đạt mức cao nhất 4 năm tại 86,74 USD/thùng vào ngày 3/10/2018, nhưng kể từ đó đã giảm xuống 76 USD do lo ngại về nguồn cung thắt chặt đang dịu đi.
Carsten Fritsch, nhà phân tích tại ngân hàng Commerzbank, Frankfurt cho biết “các nhà sản xuất dầu đang bù thành công cho nguồn cung thiếu hụt từ Iran và Venezuela”.
Hiệp ước hồi tháng 6/2018 đã liên quan tới OPEC, Nga và các thành viên khác ngoài OPEC khác để đưa mức tuân thủ cắt giảm sản lượng về 100%, sau nhiều tháng sản xuất dưới mức tại Venezuela, Angola và những nơi khác đã khiến mức tuân thủ lên trên 160%.
Trong tháng 10/2018, 12 nước thành viên OPEC bị ràng buộc bởi thỏa thuận hạn chế nguồn cung đã giảm mức tuân thủ xuống 107% từ 122% trong tháng 9/2018, do sản lượng tăng. Đây là mức tuân thủ gần nhất với 100% kể từ thỏa thuận tháng 6/2018.
Sự gia tăng sản lượng lớn nhất trong tháng này từ UAE. Sản lượng trong tháng 10/2018 tăng 200.000 thùng/ngày lên 3,25 triệu thùng/ngày và có thể tăng tiếp do UAE cho biết công suất của họ sẽ đạt 3,5 triệu thùng/ngày vào cuối năm nay.
Libya là nước có sự gia tăng lớn thứ hai, sản lượng đạt trung bình 1,22 triệu thùng/ngày, tăng 170.000 thùng/ngày. Sản lượng của Libya vẫn biến động do bất ổn, những câu hỏi tăng lên về sự ổn định sản lượng hiện tại của OPEC.
Saudi Arabia, sau khi mở cửa khai thác trong tháng 6/2018 và quay lại quy mô khai thác thêm, đã cung cấp 10,65 triệu thùng/ngày trong tháng 10/2018, nhiều hơn trong tháng 6/2018 và gần mức cao kỷ lục.
Saudi Arabia, nhà sản xuất hàng đầu của OPEC cho thấy họ đã lo ngại về tiềm năng dư cung, nâng triển vọng điều chỉnh sản xuất tiếp của mình có thể hạnchế sản lượng.
Nhà sản xuất lớn thứ hai của OPEC, Iraq cũng nâng sản lượng trong tháng 10/2018. Sản lượng của Iraq có thể tăng tiếp nếu chính phủ mới của Iraq đạt được một thỏa thuận với chính phủ khu vực Kurdistan (KRG) để khôi phục xuất khẩu dầu thô Kirkuk sang Thổ Nhĩ kỳ qua KRG
Angola, nơi sự sụt giảm tự nhiên tại các mỏ đã hạn chế sản lượng trong những năm gần đây đã tăng nguồn cung trong tháng 10/2018 do sản lượng từ một giếng mới. Sản lượng vẫn thấp hơn nhiếu mục tiêu của OPEC.
Sản lượng tại Nigeria tăng 30.000 thùng/ngày. Như Libya, Nigeria không trong hiệp ước nguồn cung của OPEC vì họ thường đối mặt với tình trạng thiếu hụt bất ngờ từ bất ổn.
Sản lượng tại Kuwait giảm. Nước này đã nâng sản lượng trong tháng 7/2018 sau thỏa thuận OPEC và giữ sản lượng ổn định trong tháng 8 và tháng 9/2018.
Tại các nước sản lượng giảm, giảm mạnh nhất 100.000 thùng/ngày là Iran. Xuất khẩu giảm do các lệnh trừng phạt của Mỹ sắp tới không khuyến khích các công ty mua dầu thô từ nước này, mặc dù sự sụt giảm thấp hơn so với một số nhà phân tích dự đoán.
Sản lượng cũng giảm tiếp tại Venezuela, nơi thiếu tiền cho ngành dầu mỏ vì khủng hoảng kinh tế tại nước này đang cắt giảm hoạt động lọc dầu và xuất khẩu dầu thô.
Bất chấp sự sụt giảm này, sản lượng của OPEC trong tháng 10/2018 đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 12/2016, tháng trước khi hiệp ước cắt giảm sản lượng có hiệu lực.
Một số lượng dầu bổ sung từ cộng hòa Congo và Guinea xích đạo, nước tham gia OPEC lần lượt trong năm 2018 và 2017.
Trước khi Congo tham gia, OPEC có mục tiêu sản lượng năm 2018 là 32,78 triệu thùng/ngày dựa vào sự cắt giảm chi tiết trong cuối năm 2016. Theo khảo sát này, sản lượng của OPEC không tính Congo cao hơn mục tiêu 530.000 thùng/ngày trong tháng 10/2018.
Khảo sát này nhằm theo dõi nguồn cung ra thị trường và dựa vào số liệu vận chuyển được cung cấp bởi các nguồn bên ngoài, số liệu của Thomson Reuters và thông tin được cung cấp từ công ty dầu, OPEC và công ty tư vấn.
Nguồn: VITIC/Reuters

H. Lan – Vinanet

Giá năng lượng thế giới ngày 01/11/2018

Giá năng lượng thế giới ngày 01/11/2018

Giá năng lượng thế giới ngày 01/11/2018

Dầu thô (USD/bbl)

Mặt hàngGiáChênh lệch% thay đổi
Dầu WTI giao ngay65,12-0,19-0,29%
Dầu Brent giao ngay74,82-0,22-0,29%

Khí gas tự nhiên (USD/MMBtu)

Mặt hàngGiáChênh lệch% thay đổi
Khí gas kỳ hạn Nymex3,28+0,02+0,58%

Xăng dầu (USD/gal)     

Mặt hàngGiáChênh lệch% thay đổi
Xăng kỳ hạn Nymex RBOB176,80-3,79-2,10%
Dầu đốt kỳ hạn Nymex226,18+0,20+0,09%

Phạm Hòa

Nhập khẩu máy móc thiết bị, phụ tùng 9 tháng gần 24,6 tỷ USD

Nhập khẩu máy móc, phụ tùng 9 tháng đạt 24,58 tỷ USD, chiếm 14,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước.

Nhập khẩu máy móc thiết bị, phụ tùng 9 tháng gần 24,6 tỷ USD

Kim ngạch nhập khẩu máy móc, phụ tùng các loại vào Việt Nam tháng 9/2018 giảm nhẹ 3,8% so với tháng 8/2018 nhưng tăng 5% so với cùng tháng năm ngoái, đạt 2,77 tỷ USD, nâng kim ngạch nhập khẩu cả 9 tháng lên 24,58 tỷ USD, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 14,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của cả nước.

Nhập khẩu máy móc, thiết bị từ thị trường Trung Quốc – thị trường lớn nhất, tháng 9/2018 tăng 0,7% so với tháng 8/2018 và tăng 11,9% so với tháng 9/2017, đạt 1,06 tỷ USD. Tính chung cả 9 tháng đạt 8,65 tỷ USD, chiếm 35,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, so với cùng kỳ tăng 6,1% về kim ngạch.

Nhập khẩu từ thị trường Hàn Quốc – thị trường đứng thứ 2 về kim ngạch, đạt 4,6 tỷ USD, chiếm 18,7% trong tổng kim ngạch, giảm 33% so với cùng kỳ; trong đó riêng tháng 9 tăng 5,3% so với tháng trước đó, đạt 455,68 triệu USD.

Thị trường lớn thứ 3 là Nhật Bản với 326 tỷ USD, chiếm 13,2% trong tổng kim ngạch, tăng 3,1% so với cùng kỳ; riêng tháng 9/2018 kim ngạch giảm 14,7%, đạt 332,67 triệu USD.

Nhìn chung trong tháng 9/2018 nhập khẩu máy móc, phụ tùng sụt giảm ở đa số các thị trường; trong đó giảm mạnh nhất là nhập khẩu từ Brazil giảm 81,2% kim ngạch, đạt 0,71 triệu USD; tiếp đến nhập khẩu từ thị trường Belarus, Nga, Nam Phi, Na Uy, Israel cũng giảm rất mạnh lần lượt là 69,4%, 60%, 59,6% và 59,1% so với tháng trước đó. Tuy nhiên, nhập khẩu từ Ukraine, Canada, Bỉ, Hungari lại tăng mạnh lần lượt 453%, 156%, 132% và 60,8% về kim ngạch.

Tính chung trong cả 9 tháng đầu năm nay, nhập khẩu nhóm hàng này từ đa số các thị trường đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó các thị trường góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng kim ngạch gồm có: NewZealand tăng 168%, đạt 9,09 triệu USD, Philippines tăng 107,9%, đạt 108,14 triệu USD, Hungari tăng 101,8%, đạt 57,05 triệu USD, Ukraine tăng 78,2%, đạt 11,37 triệu USD, Séc tăng 75,6%, đạt 52,85 triệu USD.

Ngược lại, nhập khẩu từ Nam Phi sụt giảm mạnh nhất 87,5% so với cùng kỳ, đạt 1,77 triệu USD. Nhập khẩu từ Hồng Kông cũng giảm mạnh 43,6%, đạt 123,85 triệu USD.

Nhập khẩu máy móc, phụ tùng 9 tháng đầu năm 2018

Thị trườngT9/2018+/- so với T8/2018(%)*9T/2018+/- so với cùng kỳ (%)*
Tổng kim ngạch NK2.771.401.964-3,824.583.934.345-3,14
Trung Quốc1.058.402.4830,688.648.757.0356,07
Hàn Quốc455.681.2805,324.596.872.944-33,14
Nhật Bản332.670.471-14,693.255.685.9693,1
Đức172.365.567-12,251.345.540.90536,82
Đài Loan (TQ)135.380.610-5,581.138.420.29813,64
Mỹ95.996.26923,61739.566.6478,75
Thái Lan84.755.3730,34699.818.9306,56
Malaysia55.543.342-31,36591.328.00831,61
Italia61.035.485-3,57511.319.0124,36
Ấn Độ37.798.793-12,94353.659.727-7,84
Singapore24.957.700-32,67288.285.67610,1
Anh17.230.411-0,79159.431.6331,8
Indonesia19.744.634-10,03158.340.6419,56
Thụy Điển9.965.972-55,8145.024.505-12,53
Thụy Sỹ9.883.117-52,52144.874.1366,32
Pháp20.068.48522,25143.685.016-8,73
Hồng Kông (Trung Quốc)15.714.93318,58123.850.729-43,58
Hà Lan9.607.250-20,42114.340.056-0,76
Philippines10.389.532-23,67108.142.098107,85
Phần Lan10.814.4397,2103.494.628-27,07
Nga784.829-60,0794.978.91442,16
Mexico8.857.2551,2578.539.2134,91
Áo3.732.380-56,1577.055.1437,11
Tây Ban Nha5.790.163-51,9276.615.0162,95
Hungary10.870.99360,7557.051.365101,75
Đan Mạch4.256.1023,5153.721.78816,02
Séc3.187.069-53,0252.851.22275,62
Israel3.322.194-58,649.597.03844,7
Bỉ8.654.692132,2344.765.72925,68
Ba Lan3.707.747-34,0341.807.98940,57
Canada8.329.222156,340.260.606-12,55
Australia3.654.17313,6239.972.7653,58
Na Uy1.358.082-59,1334.524.694-16,12
Thổ Nhĩ Kỳ5.585.04347,132.237.699-27,09
Ireland2.587.584-27,4929.126.9230,64
Brazil706.927-81,1814.754.59819,21
Ukraine2.449.653453,4911.367.79478,23
New Zealand329.400-36,069.085.066168,34
Belarus171.227-69,373.230.293-6,12
U.A.E306.93920,591.933.99235
Nam Phi21.637-59,61.773.856-87,49

(*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Thủy Chung – Vinanet

Hàng hóa TG sáng 2/11/2018: Giá dầu và đường giảm, cà phê và vàng tăng

Phiên 1/11/2018 trên thị trường quốc tế (kết thúc vào rạng sáng 2/11/2018 giờ VN), giá dầu giảm khá mạnh, trong khi vàng tăng nhiều.

Hàng hóa TG sáng 2/11/2018: Giá dầu và đường giảm, cà phê và vàng tăng

Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mạnh do gia tăng lo ngại nhu cầu dầu trên toàn cầu sẽ yếu đi trong lúc sản lượng của các nước sản xuất dầu lớn tăng mạnh.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc giảm 2,15 USD, hay 2,9%, lên 72,89 USD/thùng, dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 1,62 USD, hay 2,5% xuống 63,69 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 9/4/2018. Tháng 10 vừa qua, cả hai loại dầu trên đều giảm nhiều nhất kể từ tháng 7/2016, trong đó dầu Brent giảm 8,8% còn giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ giảm gần 11%. Giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ đã giảm 17% so với các mức cao ghi nhận đầu tháng 10/2018. Giới phân tích dự đoán hoạt động bán ra sẽ gia tăng trong những ngày tới, đồng thời cho biết dầu đang không tận dụng sự yếu đi của đồng USD hay sự phục hồi của các thị trường chứng khoán.
Bộ Năng lượng Mỹ mới đây cho biết tổng sản lượng dầu thô của Mỹ đã chạm mức cao kỷ lục 11,35 triệu thùng/ngày trong tháng 8/2018 và được dự đoán sẽ còn tiếp tục tăng. Trong khi đó, Nga đang sản xuất 11,41 triệu thùng/ngày, và một cuộc khảo sát của hãng tin Reuters cho thấy sản lượng dầu hàng ngày của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tăng dần kể từ năm 2016.
Sản lượng dầu cao đang lấn át những lo ngại rằng thị trường sẽ không thể bù đắp cho việc lượng dầu xuất khẩu của Iran sụt giảm, khi lệnh trừng phạt của Mỹ bắt đầu có hiệu lực vào tuần tới.
Bên cạnh đó, dầu cũng đang chịu áp lực trước những lo ngại gia tăng về khả năng kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại khi căng thẳng thương mại Mỹ – Trung vẫn chưa được giải quyết và bắt đầu ảnh hưởng đến các nền kinh tế thị trường mới nổi.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng gần 2% giữa bối cảnh đồng USD giảm mạnh khiến vàng trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác.
Vàng giao ngay cuối phiên tăng 1,7% lên 1.234,18 USD/ounce sau khi có lúc tăng 1,9% lên 1.237,39 USD/ounce, cao nhất kể từ ngày 26/10; vàng giao tháng 12/2018 tăng 23,6 USD (1,94%) lên 1.238,60 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD, thước đo đồng tiền này so với giỏ tiền tệ gồm sáu đồng tiền lớn khác, đã giảm 0,9% sau khi vọt lên mức cao nhất trong 16 tháng trong phiên trước, nhờ số liệu khả quan về kinh tế Mỹ. Bên cạnh đó, sự đi xuống của lợi suất trái phiếu chính phủ của Mỹ và sự cải thiện của đồng NDT cũng là những yếu tố chính tác động đến thị trường vàng. Chiến lược gia Bart Melek, thuộc TD Securities, nhận định đồng bạc xanh giảm mạnh là chất xúc tác đáng kể thúc đẩy giá vàng trong phiên đầu tháng Mười Một.
Về những kim loại quý khác, giá bạch kim tăng 2,8% lên 859,40 USD/ounce sau khi có lúc tăng lên 860,90 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 27/6/2018; giá bạc tăng 3,7% lên 14,74 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm tăng trở lại từ mức thấp nhất 15 tháng, do hoạt động mua vào kiếm lời sau khi giá nhôm giảm mạnh.
Nhôm giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,6% lên 1.966 USD/tấn, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ tháng 8/2017 (1.953 USD/tấn) trong phiên trước đó. Giá nhôm được hỗ trợ bởi các biện pháp kích thích kinh tế của Trung Quốc – nước tiêu thụ kim loại hàng đầu thế giới – cam kết sẽ thúc đẩy chi tiêu cơ sở hạ tầng trong nước để chống lại sự suy thoái kinh tế. Trong khi đó, dự trữ nhôm tại LME giảm 1.825 tấn xuống 723.900 tấn.
Giá nickel tăng cao khỏi mức thấp nhất 10 tháng đạt được trong phiên trước đó, tăng 2,7% lên 11.785 USD/tấn, khi công ty Nhật Bản, Sumitomo Corp giảm mức dự báo của họ về sản lượng nickel tại dự án Ambatovy ở Madagascar còn trên 40.000 tấn trong năm tính đến 31/3, thấp hơn dự báo 48.000 tấn đưa ra hồi tháng 5/2018.
Giá thép tại Trung Quốc giảm phiên thứ 4 liên tiếp xuống thấp nhất 3 tuần, do các nhà đầu tư lo ngại về tăng trưởng sản xuất chậm lại, bất chấp nước này đưa ra các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế.
Giá thép cây kỳ hạn giao sau trên sàn Thượng Hải giảm 1,9% xuống 4.057 CNY (583,5 USD)/tấn, trong phiên có lúc giảm 2,6%, mức giảm mạnh nhất kể từ ngày 28/9/2018.
Chỉ số quản lý sức mua (PMI) của Caixin/Markit cho biết, tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc trong tháng 10/2018 chỉ tăng nhẹ lên 50,1 từ mức 50 tháng trước đó.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 1,55 US cent tương đương 1,4% lên 1,1425 USD/lb và giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 1/2019 tăng 15 USD tương đương 0,9% lên 1.690 USD/tấn.
Giá đường giảm xuống mức thấp nhất 3,5 tuần, do hoạt động bán ra mạnh và nguồn cung dồi dào, trong khi đồng real Brazil tăng mạnh đẩy giá cà phê tăng. Đường trắng kỳ hạn tháng 12/2018 giảm 3,7 USD tương đương 1% xuống 352 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 350,3 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 9/10/2018. Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,06 US cent tương đương 0,5% xuống 13,13 US cent/lb.
Giá cacao kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn New York tăng 26 USD tương đương 1,2% lên 2.260 USD/tấn, do đồng USD suy yếu thúc đẩy giá. Tuy nhiên, giá cacao giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 8 GBP tương đương 0,5% xuống 1.687 GBP/tấn, do đồng bảng Anh tăng.
Giá đậu tương tăng gần 4%, do kỳ vọng cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ dịu xuống, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, cuộc đàm phán thương mại với Bắc Kinh sẽ tích cực hơn.
Giá đậu tương kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Chicago tăng 30-1/4 US cent tương đương 3,6% lên 8,83-3/4 USD/bushel, tăng mạnh nhất gần 4 tháng.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo giảm, do giá dầu thô giảm và các yếu tố cơ bản suy yếu, ngay cả khi giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải hồi phục khỏi chuỗi giảm 3 phiên liên tiếp. Giá cao su kỳ hạn tháng 4/2019 trên sàn TOCOM giảm 1,7 JPY (0,0151 USD) xuống 161,3 JPY/kg. Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 45 CNY (6,47 USD) lên 11.265 CNY/tấn.
Cao Lu, nhà phân tích cao cấp thuộc Orient Futures cho biết: “Giá cao su chịu áp lực giảm một mặt do giá dầu, mặt khác do các yếu tố cơ bản về cao su yếu và không có sự cải thiện. Ngoài ra, tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đối với xuất khẩu lốp xe trở nên rõ hơn”.
Giá hàng hóa thế giới
Mặt hàngĐVTGiá+/-+/- (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng63,68-1,62-2,50%
Dầu BrentUSD/thùng72,89-2,15-2,9%
Dầu thô TOCOMJPY/kl49.680,00-1.290,00-2,53%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu3,24+0,00+0,06%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon171,10-0,55-0,32%
Dầu đốtUS cent/gallon219,13-0,95-0,43%
Dầu khíUSD/tấn671,50-2,00-0,30%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl65.230,00-1.390,00-2,09%
Vàng New YorkUSD/ounce1.233,80-4,80-0,39%
Vàng TOCOMJPY/g4.448,00+45,00+1,02%
Bạc New YorkUSD/ounce14,71-0,07-0,45%
Bạc TOCOMJPY/g53,30+1,60+3,09%
Bạch kimUSD/ounce863,38+4,06+0,47%
PalađiUSD/ounce1.094,78+0,07+0,01%
Đồng New YorkUS cent/lb271,75-0,40-0,15%
Đồng LMEUSD/tấn6.090,00+98,00+1,64%
Nhôm LMEUSD/tấn1.966,00+12,50+0,64%
Kẽm LMEUSD/tấn2.540,00+47,00+1,89%
Thiếc LMEUSD/tấn19.100,000,000,00%
NgôUS cent/bushel366,00-0,75-0,20%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel506,75-1,25-0,25%
Lúa mạchUS cent/bushel282,75+1,50+0,53%
Gạo thôUSD/cwt10,63-0,03-0,28%
Đậu tươngUS cent/bushel880,00-2,00-0,23%
Khô đậu tươngUSD/tấn311,50-1,90-0,61%
Dầu đậu tươngUS cent/lb28,18-0,14-0,49%
Hạt cải WCECAD/tấn488,90-0,70-0,14%
Cacao MỹUSD/tấn2.287,00+34,00+1,51%
Cà phê MỹUS cent/lb117,80+5,10+4,53%
Đường thôUS cent/lb13,190,000,00%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb138,30+0,70+0,51%
BôngUS cent/lb78,89-0,14-0,18%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet326,00+15,00+4,82%
Cao su TOCOMJPY/kg162,40+1,10+0,68%
Ethanol CMEUSD/gallon1,290,00-0,16%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg        

Thu Hải – Vinanet

3 xu hướng thay đổi bộ mặt ngành tài chính

Có 3 xu hướng rất quan trọng đã diễn ra trong thời gian qua, mà tôi cho rằng đã có những tác động toàn diện tới bức tranh ngành tài chính.

3 xu hướng thay đổi bộ mặt ngành tài chính

Đây là thế giới nơi mà các tổ chức có được nguồn nhân lực tốt nhất sẽ tiến xa nhất.

Quy mô tăng trưởng siêu tốc

Xét về khía cạnh đầu tư, 5 năm qua, đã có 100 tỷ USD được đầu tư vào công cuộc chuyển đổi ngành tài chính. Số tiền khổng lồ này đã tạo ra ba xu hướng chính, xu hướng đầu tiên là tăng trưởng tài chính với quy mô siêu tốc.

ảnh 1

 Ông Nguyễn Triệu Huy,CEO The Disruptive Group, đồng sáng lập Center for Finance, Technology and Entrepreneurship (CFTE), UK .

Tăng trưởng tài chính với quy mô siêu tốc là gì? Đó chính là cách mà ngành tài chính đang bắt đầu tăng trưởng theo một phương thức hoàn toàn khác biệt so với những gì chúng ta chứng kiến trong một khoảng thời gian rất dài.

Ví dụ, tại lĩnh vực ngân hàng, những tổ chức với quy mô rất lớn cần thời gian dài để phát triển như hiện tại. Chẳng hạn, Citibank đang có 200 triệu khách hàng, nhưng họ phải mất 200 năm để đạt được con số này.

Nhưng hiện nay, điều này hoàn toàn khác biệt trong thế giới internet, bởi các mức trần đã có sự thay đổi chóng mặt. Facebook là một ví dụ, chỉ sau hơn 10 năm hoạt động, mạng xã hội này có tới 2 tỷ khách hàng. Hay như LinkedIn, Amazon, Google, tất cả các công ty này đều ghi nhận số lượng khách hàng từ 500 triệu tới 1 tỷ chỉ sau 10 – 20 năm phát triển.

Thực tế, quy mô tăng trưởng diễn ra rất khác trong thế giới internet. Chúng ta có tài chính, có công nghệ số. Vậy bạn suy nghĩ thế nào về tài chính công nghệ số? Ai cho rằng, tài chính công nghệ số sẽ phát triển giống như tài chính truyền thống? Liệu tài chính công nghệ số có phát triển giống như công nghệ số, như internet? Không ai có được câu trả lời chắc chắn.

Hãy để tôi chia sẻ về tài chính công nghệ số ở châu Á. Khi nói tới vấn đề này, không thể không nói tới Zhong An – công ty bảo hiểm công nghệ số mới được thành lập cách đây 5 năm (2013) và hiện đã có tới 600 triệu khách hàng.

Alipay xuất thân từ đế chế tài chính Ant Financial với 500 triệu khách hàng. Paytm, công ty thanh toán của Ấn Độ với 300 triệu khách hàng sau 10 năm hoạt động.

Tất nhiên, không chỉ ở châu Á mà ở Mỹ cũng vậy. Nếu tôi hỏi bạn: “Bạn đã từng nghe nói về Credit Karma?”. Hầu hết câu trả lời sẽ là có. Credit Karma được thành lập chưa đầy 10 năm và số lượng khách hàng đã lên tới hơn 1/3 dân số Hoa Kỳ.

Tăng trưởng với quy mô siêu tốc đã và đang diễn ra trong ngành tài chính. Điều này hết sức quan trọng vì cách chúng ta tư duy về ngành tài chính sẽ hoàn toàn thay đổi.

Chúng ta không thể tiếp tục tư duy về ngành tài chính theo mô hình truyền thống, khi phải mất tới 20 đến 50 năm để xây dựng lên các công ty lớn. Hiện nay, trong ngành tài chính, bạn có thể xây dựng các công ty lớn, rất lớn trong vòng 5 đến 10 năm, bởi công cụ có được từ internet và công nghệ số đang được áp dụng rộng rãi trong ngành tài chính hiện nay.

Vậy kết quả là gì? Xét về mặt vốn hoá thị trường, hiện nay, Ant Finance chưa được niêm yết trên thị trường chứng khoán, nhưng nếu niêm yết, công ty tài chính của Alibaba này có thể trở thành 1 trong 10 tổ chức tài chính lớn nhất thế giới chỉ trong vòng 10 năm.

Đó là những gì mà mô hình tăng trưởng siêu tốc mang lại cho ngành tài chính. Mô hình này có khả năng biến một công ty khởi nghiệp nhỏ bé thành một trong những tổ chức tài chính lớn nhất thế giới, cạnh tranh với JP Morgan, CitiBank hay ICBC.

Vài năm trước, chúng ta đã nhận định công nghệ sẽ có tác động to lớn tới ngành tài chính. Câu hỏi đặt ra lúc đó là “khi nào”, không phải “có tác động hay không”.

Hiện nay, vấn đề đặt ra không phải là “khi nào” hoặc “có hay không” nữa, mà điều đó đã thực sự xảy ra. Đây là điều đầu tiên mà tôi muốn bạn ghi nhớ, đó là quy mô tăng trưởng siêu tốc. Khi bạn nghĩ về ngành tài chính ngày nay, đừng nghĩ tới tài chính truyền thống, bởi ngành tài chính đang phát triển theo một cách rất khác.

Tách nhóm và tái lập

Xu hướng thứ hai mà tôi muốn chia sẻ với các bạn là “tách nhóm” (unbundling) và “tái lập nhóm” (rebundling). Đó là quá trình đổi mới mà bạn đã chứng kiến trong nhiều lĩnh vực, trong đó có tài chính.

Trên thị trường, có hàng trăm công ty cùng cạnh tranh trong một ngành dọc, với định vị giá trị hết sức đơn giản, đó là nhanh hơn, rẻ hơn, tốt hơn bằng cách ứng dụng công nghệ nhiều hơn. Xu thế tách nhóm đầu tiên diễn ra vài năm trước.

Chẳng hạn, lấy ví dụ về một doanh nghiệp trong lĩnh vực khác là Amazon. Ban đầu, Amazon bắt đầu hoạt động kinh doanh với sách, theo thời gian, khi Công ty phát triển thì quá trình “tái lập nhóm” diễn ra, khi Amazon tiến hành cung cấp các sản phẩm đa dạng trong nhiều lĩnh vực. Chúng tôi nhận định, điều tương tự cũng diễn ra trong ngành tài chính.

Tất nhiên, rất nhiều công ty khởi nghiệp khởi đầu bằng tách nhóm sẽ tái lập nhóm ở một thời điểm nào đó. Revolut là một ví dụ điển hình về việc tách nhóm và tái lập nhóm. Revolut là thẻ ghi nợ trả trước, về cơ bản cho phép người dùng trả ít phí hơn khi đi du lịch nước ngoài.

Một định vị giá trị hết sức đơn giản, cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng và tổ chức phát hành thẻ tín dụng. Họ đã bắt đầu một vài năm trước chỉ với định vị giá trị đơn giản như vậy: Cung cấp thẻ ghi nợ trả trước dùng cho du lịch. Theo đó, Revolut đã khởi nghiệp từ phía “tách nhóm”.

Điều gì diễn ra sau đó? Từ năm ngoái, Revolut bắt đầu tái lập nhóm, bởi doanh nghiệp ngày càng có nhiều kế hoạch và phát triển thêm sản phẩm bảo hiểm du lịch, tiền điện tử. Kết quả là gì? Hiện nay, Revolut là tổ chức tài chính phát triển nhanh nhất ở Anh, một công ty chưa đầy 4 năm tuổi được định giá 1,7 tỷ USD.

Ðiểm tới hạn

Và vấn đề thứ ba là một số ngân hàng đã nhận thức được thực trạng này, nhưng một số thì chưa. Xu thế này bắt đầu từ năm 2013, 2014, khi rất nhiều ngân hàng hàng bắt đầu công cuộc đổi mới của mình, bằng việc thành lập các bộ phận nghiên cứu đổi mới, tăng tốc trong công cuộc đổi mới, đầu tư vào các công ty khởi nghiệp. Trong đó, Goldman Sachs là một ví dụ thú vị về việc các ngân hàng tích cực đầu tư vào FinTech.

Cụ thể, nhà băng này đã đầu tư vào 37 công ty trong vài năm qua. Điều tương tự cũng diễn ra với Citibank và JP Morgan.

Dù vậy, đầu tư là chìa khóa cho sự đổi mới, nhưng không phải là chìa khóa duy nhất. Đó còn là tăng cường kiến thức nội bộ về công nghệ, về đổi mới.

Chẳng hạn, vào khoảng năm 2000, Goldman Sachs đã đầu tư vào Kensho khoảng 15 triệu USD, số tiền rất nhỏ. Đổi lại, họ thu về nhiều hơn thế. Bởi Kensho là cánh cửa để Goldman Sachs tiếp cận công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, có được bí quyết của công ty khởi nghiệp rất thông minh này.

Mới đây, Kensho đã được bán với giá 550 triệu USD cho S&P. Nếu xét về đầu tư, đây là một một thương vụ hiệu quả của Goldman Sachs, nhưng không chỉ vậy, nó còn là một thỏa thuận tuyệt vời về sở hữu trí tuệ.

Goldman Sachs đã học được rất nhiều trong quá trình hợp tác với những công ty khởi nghiệp phát triển nhanh này và tất nhiên, lợi nhuận của khoản đầu tư cũng không hề nhỏ.

Vậy câu hỏi được đặt ra là: “Làm thế nào để các tổ chức lớn chuyển đổi theo hướng công nghệ số?”. Câu trả lời là để thực hiện chuyển đổi theo hướng công nghệ số, các nhà băng cần ba yếu tố: Công nghệ, quy trình và quan trọng nhất là con người, bởi chúng ta đang đề cập tới một ngành mà nguồn nhân lực đóng vai trò chủ đạo.

Hiện tại, một vài ngân hàng đã nhận thức được điều này. Hai trong số các đối tác của chúng tôi là DBS và OCBC đang đầu tư những khoản tiền khổng lồ vào công tác đào tạo toàn bộ nhân sự của họ. Bởi vì trong thế giới công nghệ số, bạn không thể giỏi về tài chính nếu không am hiểu công nghệ, cho dù bạn thuộc bộ phận trung gian, nghiệp vụ, hay bán hàng.

Theo đó, chúng ta đang chứng kiến tất cả các tổ chức tài chính chuyển đổi từ việc đầu tư vào startups, tạo ra các phòng thí nghiệm đổi mới sang đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực. Thực tế, đây là thế giới nơi mà các tổ chức có được nguồn nhân lực tốt nhất sẽ tiến xa nhất.

Khi chúng ta bàn về công nghệ số, rất nhiều người nói: “Công nghệ số giúp tôi cắt giảm chi phí”. Đây không phải là những gì chúng ta thấy tại DBS. Bởi tại đây, công nghệ số cho phép họ tăng doanh thu lên gấp đôi. Như vậy, với cùng một mức chi phí, lợi nhuận của họ đã tăng gấp ba lần nhờ có công nghệ số.

Và điều này chỉ diễn ra khi các tổ chức bắt tay vào làm. Đó là khi điểm “tới hạn” (the tipping point) trong ngành tài chính đã diễn ra. Theo đó, chúng ta đã và đang chứng kiến nhiều tổ chức bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, đầu tư rất nhiều vào công nghệ trong những năm qua.

Nhờ vậy, họ bắt đầu gặt hái những thành công từ công cuộc đó, với lợi nhuận liên tục gia tăng. Đồng thời, chúng ta cũng chứng kiến nhiều tổ chức đã hoàn toàn từ bỏ, khi nhận thấy công cuộc đổi mới quá khó khăn và quyết định không làm gì cả.

Lược dịch bài phát biểu “Fintech: Beyond the Tipping Point” của ông Nguyễn Triệu Huy

Kim ngạch xuất khẩu tiếp tục duy trì đà xuất siêu

Ngày 31-10, thông tin từ Tổng cục thống kê cho thấy, tính đến hết tháng 10-2018 cán cân thương mại nước ta đạt xuất siêu 6,4 tỷ USD, cao hơn mức xuất siêu của 9 tháng 1,01 tỷ USD.

Kết quả hình ảnh cho xuất khẩu

Ảnh: VnEconomy

Cụ thể, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 200,27 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2017. Một số mặt hàng chủ lực vẫn duy trì kim ngạch xuất khẩu tăng là điện thoại và linh kiện, hàng dệt may, điện tử, máy tính và linh kiện, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng, giày dép…

Đặc biệt, trong tháng 10 cũng ghi nhận mức tăng trưởng trở lại của các mặt hàng nông sản, thủy sản. Riêng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng hạt điều, hạt tiêu vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc.

Về thị trường, Hoa Kỳ hiện vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 39 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Kế đến là Trung Quốc đạt 32,1 tỷ USD, tăng 21,3%; ASEAN đạt 20,6 tỷ USD, tăng 14,5%; Nhật Bản đạt 15,3 tỷ USD, tăng 10,6%; Hàn Quốc đạt 15 tỷ USD, tăng 23,5%.

Còn xét về thị trường hàng hóa nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 52,9 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2017, tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 39,2 tỷ USD, tăng 2,1%; ASEAN đạt 26 tỷ USD, tăng 13,1%; Nhật Bản đạt 15,5 tỷ USD, tăng 14,6%; EU đạt 11,2 tỷ USD, tăng 12,1%; Hoa Kỳ đạt 10,6 tỷ USD, tăng 37,5%.

MINH XUÂN

Nông sản ngày 1/11: Cà phê, hồ tiêu đều giảm giá

Phiên giao dịch ngày 1/11, giá cà phê nguyên liệu tiếp tục xu hướng giảm, hiện giá cà phê Tây Nguyên hiện dao động trong khoảng 35.500 – 36.000 đồng/kg. Giá hồ tiêu cũng giảm

Khảo sát giá cả trên trang Diễn đàn của người làm cà phê, các mặt hàng nông sản như cà phê Robusta, hồ tiêu đang có diễn biến tiêu cực.

Cà phê liên tiếp giảm giá nhiều phiên

Mở cửa phiên giao dịch hôm nay, giá cà phê nguyên liệu tiếp tục xu hướng giảm. Hiện, giá cà phê Tây Nguyên dao động trong khoảng 35.500 – 36.000 đồng/kg.

Giá cà phê Tây Nguyên dao động trong khoảng 35.500 – 36.000 đồng/kg

Tại các địa phương, giá cà phê huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) ở mức 35.500 đồng/kg, giá cà phê tại Di Linh, Lâm Hà ở mức 35.400 đồng/kg.

Giá cà phê hôm nay tại huyện Cư M’gar (Đắk Lắk), Ea H’leo (Đắk Lắk) dao động trong khoảng 35.900 – 36.000 đồng/kg. Tại huyện Buôn Hồ, giá cà phê ở mức 35.800 đồng/kg. Tại Gia Lai, cà phê có giá 36.000 đồng/kg. Tương tự, giá cà phê tại Kon Tum và Đắk Nông ở mức 35.700 đồng/kg.

Thị trường cà phê thế giới, phiên giao dịch hôm nay, giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London đang giảm mạnh

Giá cà phê robusta kỳ hạn tại London đang giảm, với giá hợp đồng giao tháng 9 giảm 10 USD (giảm 0,6%) đứng ở mức 1658 USD/tấn. Trong khi tại New York, giá cà phê arabica giảm 1,85 USD, mức giảm 1,62% đứng ở mức 112.4 cent/lb.

Hồ tiêu ngưng xu hướng tăng giá

Phiên giao dịch hôm nay, giá hồ tiêu khu vực Tây Nguyên và miền Nam giảm 1.000 đồng/kg vài địa phương. Hiện, giá tiêu dao động ở mức từ 59.000 – 61.000 đồng/kg.

Tại các địa phương, giá tiêu tại Chư Sê ( Gia Lai) hôm nay ở mức 59.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Châu Đức (Bà Rịa- Vũng Tàu) giảm 1.000 đồng/kg nhưng đây vẫn là địa phương có giá cao nhất khu vực khi giữ ở mức 60.000 đồng/kg.

Giá tiêu dao động ở mức từ 59.000 – 61.000 đồng/kg

Giá tiêu hôm nay tại tỉnh Đắk Lắk (Ea H’leo), Đắk Nông (Gia Nghĩa) giảm 1.000 đồng/kg ở mức 60.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Đồng Nai tăng 1.000 đồng/kg giữ mức 59.000 đồng/kg. Giá tiêu Bình Phước giảm 1.000 đồng/kg ở mức 60.000 đồng/kg.

Hiện tại, nhiều hộ nông dân tại các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bình Thuận…đã tiến hành chuyển dịch cây trồng vì hồ tiêu tuột giá và bị dịch bệnh tấn công.

HỒNG TRÂM

Giá dầu thế giới 1/11: Giá dầu đồng loạt giảm mạnh

Giá dầu thế giới ngày 1/11 tiếp tục giảm nhẹ do chịu tác động từ thông tin sản lượng khai thác dầu trên thị trường tăng, trong khi nhiều dự báo cho thấy nhu cầu dầu trên thị trường có xu hướng giảm.

Ảnh minh họa.

Đầu giờ sáng 1/11, theo giờ Việt Nam, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 12/2018 trên sàn New York Mercantile Exchanghe ở mức 65,17 USD/thùng, giảm 14 cent trong phiên phiên nhưng giảm tới 1,32 USD/thùng.

Trong khi đó, giá dầu brent giao tháng 1/2019 đứng ở mức 74,84 USD/thùng, giảm 20 cent trong phiên.

Còn theo ghi nhận trên ifcmarketc, đầu giờ ngày 1/11, giá dầu WTI được giao dịch ở mức thấp nhất là 65,14 USD/thùng và cao nhất là 65,20 USD/thùng. Đóng cửa phiên giao dịch trước, giá dầu WTI đứng ở mức 65,04 USD/thùng, giảm 2,25%.

Với dầu brent, đầu giờ ngày 1/11, giá dầu brent được giao dịch ở mức thấp nhất là 74,76 USD/thùng và cao nhất là 74,79 USD/thùng. Đóng cửa phiên giao dịch trước, giá dầu WTI đứng ở mức 74,58 USD/thùng, giảm 2,15%.

Giá dầu thế giới tiếp tục giảm chủ yếu do thông tin sản lượng khai thác dầu trên thị trường tăng, trong khi những dự báo về nhu cầu dầu trên thi trường giảm.

Theo báo cáo mới nhất của Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA), sản lượng khai thác dầu đá phiến Mỹ sẽ tăng thêm 98.000 thùng/ngày trong tháng 11/2018 và sẽ còn tăng thêm 300.000 thùng/ngày, lên mức 11,8 triệu thùng/ngày. Việc giá dầu tăng cao trong thời gian qua sẽ thúc đẩy các nhà sản xuất tăng sản lượng và chi nhiều tiền hơn cho việc đầu tư máy móc, phương tiện vận chuyển.

Xuất khẩu dầu của Mỹ vẫn ổn định bất chấp căng thẳng thương mại Mỹ – Trung. Trong thời gian gần đây, các nhà đầu tư quan ngại rằng, căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có thể sẽ ảnh hưởng đến việc nhập khẩu dầu Mỹ của Trung Quốc – thị trường lớn nhất châu Á và lớn thứ hai thế giới về tiêu thụ dầu thô. Số liệu trong tháng 8 đã phản ánh việc này khi Trung Quốc giảm nhập khẩu dầu thô của Mỹ từ 384.000 thùng/ngày xuống còn 0 thùng. Tuy nhiên, rất nhanh chóng, các doanh nghiệp Mỹ đã chuyển hướng sang các khách hàng mới và lượng dầu thô xuất khẩu của Mỹ đã hồi phục hoàn toàn trong tháng 9/2018.

Một yếu tố nữa là xuất khẩu dầu thô từ Iran khó có thể giảm thêm. Thực tế, xuất khẩu dầu thô từ Iran đã giảm liên tục từ tháng 4/2018. Tuy nhiên, nửa tháng 10 trôi qua nhưng dầu thô xuất khẩu của Iran vẫn đạt 2,2 triệu thùng/ngày, tăng gần 200.000 thùng/ngày so với tháng 9. Chỉ còn vài ngày nữa là lệnh trừng phạt của Mỹ có hiệu lực nhưng dường như lượng dầu thô xuất khẩu của Iran khó có thể giảm thêm.

Hà Lê

IFC đầu tư 65 triệu USD vào quỹ Altus để hỗ trợ doanh nghiệp Đông Á

Tổ chức tài chính quốc tế (IFC – thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới) cùng Quỹ Phát triển các định chế tài chính của IFC và Quỹ Châu Á mới nổi của IFC, hai quỹ do Công ty Quản lý tài sản IFC (AMC) quản lý, cho biết sẽ đầu tư 65 triệu USD vào Altus Special Situations Asia 1 LP.

 

Ảnh minh họa: Internet

Ảnh minh họa: Internet

Mức góp vốn của IFC, Quỹ Phát triển các định chế tài chính và Quỹ châu Á mới nổi tương ứng là 15 triệu USD, 25 triệu USD và 25 triệu USD. Cộng với khoản đóng góp trị giá 7,5 triệu USD của Công ty Altus Capital, Quỹ Altus Special Situations Asia 1 LP sẽ có tới 272,5 triệu USD vốn lưu động có thể dùng để triển khai các hoạt động đầu tư.

Theo IFC, khoản đầu tư sẽ được dùng để hỗ trợ tài chính cho các công ty tại các thị trường mới nổi ở Đông Á đang gặp khó khăn có thể thực hiện được các nghĩa vụ tài chính, lấy lại được tín nhiệm tín dụng, và duy trì việc làm cho người lao động, qua đó đóng góp vào tăng trưởng bền vững.

Trần Nam

Giá vàng chịu áp lực từ USD lại giảm sâu

Sáng nay 1/11, giá vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm mạnh, do đồng USD tăng giá.

Giá vàng quay đầu giảm, căng thẳng Mỹ - Trung có thể sớm đưa vàng đi lên

 

Đóng cửa phiên giao dịch tại thị trường Mỹ vào rạng sáng nay theo giờ Hà Nội, giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.216 USD/OZ, giảm 4 USD so với chốt phiên trước. Giá vàng giao tháng 12 cũng mất 4 USD xuống còn 1.218 USD /oz.

Nguyên nhân khiến vàng giảm mạnh 3 phiên liền là do chỉ số đo lường sức mạnh đồng USD tiếp tục tăng trên thị trường quốc tế. Chỉ số việc làm và nhiều số liệu kinh tế của Mỹ khả quan. Thêm nữa, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đưa ra gói hỗ trợ lãi suất cho đối với các DN nhỏ và vừa nhằm tăng cường sản xuất, hạn chế ảnh hưởng từ chiến tranh thương mại với Trung Quốc.
Sáng nay, lúc 8 giờ 15 (giờ Hà Nội), giá vàng thế giới và tại thị trường châu Á giao dịch quanh mức 1.217 USD /oz, giảm hơn 3 USD so với giao dịch cùng thời điểm này sáng qua.
Mở cửa phiên sáng nay, giá vàng trong nước cũng đi theo xu hướng thế giới, giảm nhẹ 20.000 đồng một lượng so với chốt phiên trước. Cụ thể, lúc 8 giờ 30 giá vàng SJC giao dịch trên thị trường tự do mua-bán ở TP Hồ Chí Minh quanh mức 36,34-36,48 triệu đồng một lượng.
Cùng lúc, giá vàng trên thị trường Hà Nội và Đà Nẵng giao dịch quanh mức 36,34-36,5 triệu đồng một lượng.
Các DN sáng nay niêm yết ngang giá so với chốt phiên trước. Cụ thể, Tập đoàn Doji niêm yết giá mua – bán vàng SJC ở mức 36,35-36,45 triệu đồng một lượng.
Công ty Phú Quý niêm yết giá mua – bán vàng miếng SJC ở mức 36,36-36,45 triệu đồng một lượng.

Sáng nay vàng nhẫn cũng được các DN giảm giá mua – bán. Cụ thể, vàng nhẫn Rồng Thăng Long được Công ty Bảo Tín Mình Châu niêm yết giá mua – bán ở mức 34,68-35,15 một lượng, giảm 30.000 đồng một lượng chiều mua và 10.000 đồng một lượng chiều bán.
Nhẫn phú quý 24k được Công ty Phú Quý niêm yết mua – bán ở mức 34,8-35,2 triệu đồng một lượng, giảm 50.000 đồng một lượng so với chốt phiên trước.
Chuyên gia cho rằng, nếu đồng bạc xanh tiếp tục tăng sẽ khiến vàng còn đi xuống. Thêm nữa, thị trường chứng khoán đang khởi sắc khiến nhà đầu tư bán vàng đầu tư tài sản sinh lời,có thể đẩy vàng mất giá sâu xuống dưới 1200 USD.
BÍCH HỜI – Kinhtedothi 

Việt Nam một trong những thị trường mô tô-xe máy lớn nhất khu vực Đông Nam Á

Số liệu thống kê từ Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM), 9 tháng đầu năm 2018 tiêu thu xe máy tăng gấp hơn 12 lần so với ô tô, bên cạnh đó, kim ngạch nhập khẩu cũng tăng đáng kể.

Việt Nam một trong những thị trường mô tô-xe máy lớn nhất khu vực Đông Nam Á

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, tháng 9/2018 kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng xe máy và linh kiện, phụ tùng đạt 52,5 triệu USD, giảm 14,2% so với tháng 8/2018.Tính chung 9 tháng đầu năm 2018 lên 677,2 triệu USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch nhập khẩu xe máy và linh kiện phụ tùng 9 tháng tính từ đầu năm 2018
 Kim ngạch

(USD)

+/- so với tháng trước
Tháng 148.476.839+33,7
Tháng 231.897.210-34,2
Tháng 345.939.341+44,0
Quý 1/2018*126.313.690-37,5
Tháng 440.177.660-12,5
Tháng 559.239.161+47,4
Tháng 646.635.763-21,3
Quý 2/2018*176.052.584-71,6
Tháng 759.817.479+28,3
Tháng 861.282.392+2,4
Tháng 952.561.521-14,2
Quý 3/2018*173.661.392-80,1
9 tháng 2018445.106.120+35,6


(* So với cùng kỳ năm trước)

Nguồn số liệu: Thống kê sơ bộ của TCHQ

Như vậy, kể từ đầu năm đến nay tình trạng nhập khẩu xe máy và linh kiện phụ tùng xu hướng tăng, mặc dù kim ngạch cộng dồn trong các quý đều suy giảm so với cùng kỳ năm 2017.
Cùng với nhập khẩu, tiêu thụ xe máy cũng tăng đáng kể. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) công bố, trong quý 3/2018 (tính từ tháng 7 đến 9/018), 5 thành viên thuộc VAMM gồm: Honda, Yamaha, Suzuki, Piaggio, SYM đã bán ra thị trường 864.958 xe máy các loại, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2017. Với con số này, các thành viên VAMM đã xác lập kỷ lục quý bán hàng đạt doanh số cao nhất kể từ đầu năm đến nay, cao hơn cả quý I.2018 (đạt 803.204 xe) vốn được xem là mùa cao điểm của thị trường mô tô – xe máy Việt Nam.
Theo các đại lý kinh doanh mô tô xe máy, lượng tiêu thụ xe máy gia tăng trong quý 3/2018 xuất phát từ nhu cầu ngày càng cao của người dân. Bên cạnh xu hướng chuyển đổi từ xe máy số phổ thông sang các dòng xe tay ga, quý 3/2018 trùng với mùa nhập học của các trường đại học nên lượng tiêu thụ các dòng xe số có mức giá dưới 25 triệu đồng cũng khá tốt.
Như vậy, cộng dồn 9 tháng đầu năm 2018, người Việt đã sắm 2,452 triệu xe máy mới, tăng gần 3,3% xe so cùng kỳ năm 2017, đồng thời cao gấp 1,8 lần so với tổng lượng xe máy bán ra tại Thái Lan (1,365 triệu xe). Tính trung bình, mỗi ngày có thêm 9.081 xe máy mới lăn bánh tại Việt Nam. Với con số này, Việt Nam tiếp tục trở thành một trong những thị trường mô tô – xe máy lớn nhất khu vực Đông Nam Á.
Trên thực tế, lượng tiêu thụ xe máy tại VN trong 9 tháng đầu năm 2018 còn cao hơn nhiều lần số liệu mà VAMM công bố, bởi trên thị trường còn có gần 10 thương hiệu xe mô tô phân khối lớn cùng các đơn vị nhập khẩu tư nhân đang phân phối sản phẩm. Trong số này, Honda vẫn giữ vững vị trí số một về doanh số bán xe máy trên thị trường Việt Nam. Chỉ riêng hai tháng 7 và 8/2018, lượng xe máy Honda bán ra (430.067 xe) đã chiếm hơn 50% tổng doanh số của VAMM trong quý 3/2018. Trong đó, dòng xe tay ga Vision cùng xe máy số Wave Alpha là 2 dòng sản phẩm bán chạy nhất của Honda.
Trong 9 tháng đầu năm 2018, lượng tiêu thụ xe máy tại Việt Nam gấp 12,6 lần so với ô tô các loại. Điều này tạo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống giao thông, đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM tình trạng kẹt xe vẫn thường xuyên xảy ra. Vì vậy, từng có một số ý kiến cho rằng, về lâu về dài để phát triển giao thông, giải pháp hạn chế xe máy là cần thiết. Tuy nhiên, việc làm này cần có lộ trình, hướng giải quyết thay thế hợp lý, nhất là khi xe gắn máy vẫn đang gắn liền với cuộc sống, sinh hoạt của người dân.
Với mức tăng trưởng tính từ đầu năm đến hết quý 3/2018, các thành viên VAMM dự báo sẽ doanh số bán xe máy tại Việt Nam trong năm 2018 sẽ vượt mốc 3,27 triệu xe của trong năm 2017.
Nguồn: VITIC tổng hợp/Thanhnien.vn

Hương Nguyễn – Vinanet

TT dầu TG ngày 30/10/2018: Giá giảm do nguồn cung tăng, thị trường toàn cầu tồi tệ

Giá dầu giảm trong ngày hôm nay, bởi sự suy yếu tiếp diễn trong các thị trường chứng khoán toàn cầu và những dấu hiệu nguồn cung toàn cầu đang tăng bất chấp các lệnh cấm vận xuất khẩu dầu thô của Iran sắp diễn ra.

TT dầu TG ngày 30/10/2018: Giá giảm do nguồn cung tăng, thị trường toàn cầu tồi tệ

Dầu thô Brent giao tháng đầu giảm 56 US cent hay 0,8% so với đóng cửa phiên trước xuống 76,78 USD/thùng. Dầu thô WTI giao sau ở mức 66,78 USD/thùng, giảm 26 US cent hay 0,4%.
Dầu đang bắt kịp sự sụt giảm trong thị trường tài chính toàn cầu, với chứng khoán giảm một lần nữa trong ngày 29/10/2018 sau khi các báo cáo cho thấy Mỹ dự định bổ sung thuế trị giá 257 tỷ USD với các hàng hóa Trung Quốc nếu các cuộc đàm phán sắp tới giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tập Cận Bình không thể kết thúc cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này. Giá dầu cũng bị áp lực giảm bởi những dấu hiệu nguồn cung đang tăng từ các nhà sản xuất hàng đầu.
Ole Hansen, giám đốc chiến lược hàng hóa tại ngân hàng Saxo cho biết “một cam kết của Saudi sản xuất càng nhiều dầu càng tốt và thị trường chứng khoán biến động đã giảm mạnh lo ngại về việc thực thi các lệnh cấm vận của Mỹ chống lại Iran từ ngày 4/11/2018”.
Nga cũng chỉ ra rằng họ sẽ cam kết đủ dầu để đáp ứng nhu cầu khi các lệnh trừng phạt của Mỹ với Iran trong tuần tới.
Trong một dấu hiệu nguồn cung dầu vẫn dồi dào bất chấp các lệnh trừng phạt của Mỹ chống lại xuất khẩu dầu mỏ của Iran, sản lượng dầu thô từ 3 nhà sản xuất hàng đầu thế giới, Nga, Mỹ và Saudi Arabia, đạt 33 triệu thùng/ngày lần đầu tiên trong tháng 9/2018, theo số liệu của Refinitiv Eikon.
Số liệu đó tăng 10 triệu thùng/ngày kể từ đầu thập kỷ này và nghĩa là chỉ riêng 3 nhà sản xuất này hiện nay đáp ứng 1/3 nhu cầu dầu thô toàn cầu.
Bấp chấp điều đó, Hansen cho biết “do những tác động chưa biết về khả năng sản xuất và xuất khẩu của Iran (trong bối cảnh bị cấm vận) … chúng tôi có thể thấy xuất hiện mua đầu cơ trước ngày 4/11”.
Xuất khẩu dầu thô bằng đường biển của Iran qua các hợp đồng đã giảm từ mức đỉnh năm 2018 trên 2,5 triệu thùng/ngày hồi tháng 5 xuống khoảng 1,5 triệu thùng/ngày trong tháng 9 và tháng 10/2018, theo số liệu của Eikon.
Nguồn: VITIC/Reuters

H. Lan – Vinanet

Kim ngạch xuất khẩu xi măng, clinker sang Trung Quốc tăng gấp 90 lần

Xuất khẩu xi măng clinker sang Trung Quốc tăng gấp 77,4 lần về lượng và tăng gấp 90,1 lần về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Kim ngạch xuất khẩu xi măng, clinker sang Trung Quốc tăng gấp 90 lần

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 9/2018 cả nước xuất khẩu 2,76 triệu tấn xi măng, thu về 113,1 triệu USD, giảm 7,9% về lượng và giảm 7,7% về kim ngạch so với tháng trước đó, nhưng tăng rất mạnh 80,1% về lượng và tăng 110,4% về kim ngạch so với cùng tháng năm ngoái.

Giá xi măng xuất khẩu trong tháng 9/2018 đạt trung bình 41 USD/tấn, tăng 0,2% so với tháng 8/2018 và tăng 16,8% so với tháng 9/2017.

Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu xi măng clinker tăng 7,9% về giá, tăng 71,4% về lượng và tăng 84,8% về kim ngạch, đạt 23,39 triệu tấn, tương đương 890,8 triệu USD, giá trung bình 38,1 USD/tấn.

Trung Quốc dẫn đầu về tiêu thụ xi măng, clinker của Việt Nam, với 6,56 triệu tấn, tương đương 235,43 triệu USD, chiếm 28% trong tổng lượng và chiếm 26,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu xi măng của cả nước, tăng gấp 77,4 lần về lượng và tăng gấp 90,1 lần về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng tháng 9/2018 xuất sang thị trường này giảm trên 26% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 8/2018, đạt 861.665 tấn, tương đương 32,43 triệu USD. Giá xuất khẩu sang Trung Quốc 9 tháng đạt trung bình 35,9 USD/tấn, tăng 16,4% so với cùng kỳ.

Philippines đứng thứ 2 về thị trường tiêu thụ, đạt 4,75 triệu tấn, tương đương 218,35 triệu USD, chiếm 20,3% trong tổng lượng và chiếm 24,5% trong tổng kim ngạch, tăng 38,5% về lượng và tăng 42,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Giá xuất khẩu tăng nhẹ 2,9%, đạt 46 USD/tấn.

Xếp thứ 3 là thị trường Bangladesh chiếm 24% trong tổng lượng và chiếm 20,9% trong tổng kim ngạch, đạt 5,64 triệu tấn, tương đương 186,21 triệu USD, tăng 2% về lượng và tăng 14,6% về kim ngạch. Giá tăng 12,4%, đạt 33 USD/tấn.

Trong 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu xi măng, clinker sang đa số các thị trường đều tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài thị trường Trung Quốc tăng đột biến như trên, còn rất nhiều thị trường đạt mức tăng mạnh như: Malaysia tăng 83% về lượng và tăng 101% về kim ngạch, đạt 636.966 tấn, tương đương 22,08 triệu USD; Pê Ru tăng 97,9% về lượng và tăng 89,9% về kim ngạch, đạt 863.925 tấn, tương đương 39,02 triệu USD; Đài Loan tăng 57,5% về lượng và 79,3% về kim ngạch, đạt 1,23 triệu tấn, tương đương 41,84 triệu USD. Kenya tăng 48,2% về lượng và tăng 66,5% về kim ngạch, đạt 141.864 tấn, tương đương 4,54 triệu USD.

Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Australia, Sri Lanka và Mozambique  sụt giảm rất mạnh, với mức giảm tương ứng 67,5%, 66,1% và 60,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Xuất khẩu xi măng, clinker 9 tháng đầu năm 2018

Thị trường9T/2018+/- so với cùng kỳ (%) *
Lượng (tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Tổng cộng23.388.193890.798.83671,3584,81
Trung Quốc6.559.591235.425.3517.639,028.909,03
Philippines4.752.279218.354.62338,4942,48
Bangladesh5.641.545186.213.1981,9814,63
Đài Loan (TQ)1.226.39741.839.72157,579,28
Pê Ru863.92539.020.57397,9189,86
Malaysia636.96622.079.67783,1101,06
Campuchia230.20611.887.78032,4830,37
Chile211.7057.058.910  
Lào102.7816.929.250-20,69-19,27
Mozambique156.1205.136.461-64,73-60,61
Kenya141.8644.542.96648,1666,48
Sri Lanka128.0594.230.609-69,79-66,1
Australia68.0603.576.092-79,03-67,5
Saudi Arabia51.2122.208.507  

(*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Thủy Chung  – Vinanet

Thị trường cà phê Việt tỉnh giấc

Thị trường cà phê Việt tỉnh giấc

Sau khi Công ty CP Thực phẩm dinh dưỡng NutiFood ra mắt sản phẩm Nuticafé- cà phê sữa đá tươi thì trung tuần tháng 10, Coca- Cola  cho ra đời sản phẩm cà phê lon Georgia Coffee Max với nguyên liệu là loại cà phê hàng đầu thế giới- Robusta của Việt Nam. Trước đó, vào tháng 7, Tập đoàn Nestlé cũng ra mắt dây chuyền sản xuất viên nén NESCAFÉ Dolce Gusto tại Nhà máy Nestlé Trị An tỉnh Đồng Nai, rồi là Ajinomoto tung ra thị trường đồ uống Việt với sản phẩm cà phê lon Birdy…

Có thể nói chưa bao giờ thị trường Việt Nam có sự bùng nổ các sản phẩm cà phê chế biến mạnh mẽ như hiện nay. Đó là chưa kể, nhiều thương hiệu cà phê đóng gói mới được ra đời, đặc biệt hàng loạt chuỗi nhà hàng cà phê thương hiệu Việt cũng như chuỗi mang thương hiệu nước ngoài liên tục khai trương và mở rộng tại thị trường Việt Nam.

Giá cà phê hôm nay 31/10: Giảm 900 đồng/kg

Là nước đứng đầu thế giới về sản lượng và xuất khẩu cà phê hạt nhưng sản lượng sản phẩm cà phê chế biến tại Việt Nam còn rất nhỏ bé. Sự bùng nổ trên cho thấy ngành công nghiệp cà phê Việt đang bừng tỉnh trước nhu cầu lớn của thị trường. Sự góp mặt của các thương hiệu lớn nước ngoài trên vựa cà phê Việt chứng tỏ nguồn nguyên liệu cà phê nước ta đã khẳng định về uy tín, nay là lúc các nhà vườn, cơ quan quản lý ngành bắt tay vào việc sản xuất ra những lô hạt cà phê chất lượng hơn, đạt các tiêu chuẩn quốc tế để làm tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp. Cơ hội liên kết giữa nhà nông và doanh nghiệp chế biến đang ngày một rộng mở với người trồng cà phê.

Trong số các “gương mặt” tham gia thị trường, nếu như các thương hiệu ngoại thiên về việc chiếm lĩnh thị trường tiêu dùng trong nước thì một số thương hiệu Việt lại đặt ra mục tiêu xuất khẩu. Đây là bài toán khó đối với doanh nghiệp nội bởi có chinh phục được người tiêu dùng trong nước thì sản phẩm mới có thể vươn ra thị trường quốc tế. Do đó, ngoài việc bung ra sản phẩm mới, các thương hiệu Việt cần tìm ra nét đặc trưng riêng, phong vị riêng để giành thị phần. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, dung lượng thị trường tiêu dùng cà phê Việt Nam còn rất lớn, nhất là trong bối cảnh GDP của nền kinh tế không ngừng tăng cao, đối tượng người tiêu dùng cà phê là giới trẻ ngày càng đông đảo. Bên cạnh những thách thức thì cơ hội đang rất rộng mở đối với các thương hiệu cà phê Việt lớn mạnh và thành công trong thời gian tới.

Hiệp Hòa – (HQ Online)

Giá vàng ngày 31/10: Thị trường giảm sâu do ảnh hưởng của đồng USD

Đầu giờ sáng nay, giá vàng miếng giao ngay trên thị trường thế giới hiện đã giảm sâu xuống mức 1222 USD/Oz.

Ông Benjamin Lu, nhà phân tích hàng hóa của Phillip Futures cho biết:

“Hiện tại có một chút áp lực từ đồng đô la. Nhưng, giá vàng tổng thể nhìn về cơ bản được hỗ trợ. Tâm lý thị trường vẫn rất thận trọng. Chúng tôi cảm thấy tiềm năng tăng giá vàng lên mức $1255 là rất khả thi”.

Giá vàng đã bắt đầu thấy một số sức mạnh, không giống như hai quý trước, từ các yếu tố địa lý chính trị. Đồng đô la vẫn rất mạnh và có thể hạn chế tăng giá vàng. Nhưng trông có vẻ vàng sẽ không bị áp lực quá mạnh do sức mạnh đồng đô la ngay lúc này.

Giá vàng đã tăng khoảng 6% kể từ khi giảm xuống mức thấp $1159,96/oz vào giữa tháng 8, mức thấp nhất kể từ tháng 1/2017. Sự bán tháo trên thị trường chứng khoán toàn cầu tuần trước đã đẩy vàng lên mức $1243,32 hôm thứ Sáu tuần trước – mức cao nhất kể từ ngày 17/7.

Tuy nhiên, kim loại vàng vẫn giảm khoảng 10% so với đỉnh tháng 4 sau khi các nhà đầu tư quay sang đồng đô la như một nơi ẩn náu an toàn khi cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra trên nền tảng lãi suất cao của Mỹ.

Tại thị trường trong nước, giá vàng miếng SJC vào cuối ngày 31/10 tại sàn giao dịch DOJI đã được niêm yết ở ngưỡng 36,38 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,46 triệu đồng/lượng (bán ra).

Giá vàng SJC cũng được Công ty VBĐQ Sài Gòn chốt phiên giao dịch ở chiều mua vào là 36,38 triệu đồng/lượng còn ở chiều bán ra là 36,52 triệu đồng/lượng.

Cùng thời điểm đó, Công ty VBĐQ Bảo Tính Minh Châu cũng niêm yết giá vàng SJC vào cuối ngày tại mức 36,39 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,46 triệu đồng/lượng.

Các chuyên gia và nhiều nhà đầu tư giàu kinh nghiệm dự đoán giá vàng xu hướng tăng trong những phiên sắp tới. Vì thế người dân và nhà đầu tư nên mua vàng tại thời điểm hiện tại. Như vậy nhà đầu tư đợi giá vàng lên bán sẽ có lời, còn người dân mua được vàng giá tốt.

Mỹ – thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam

Xuất khẩu sang Mỹ 9 tháng đầu năm 2018 đã đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước trên 35 tỷ USD, tăng 13,01% so với cùng kỳ, trong đó dệt may là mặt hàng chủ lực dẫn đầu kim ngạch, chiếm 29,4% tỷ trọng.

Mỹ - thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, trong 9 tháng đầu năm 2018 Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đặc biệt, tốc độ tăng trưởng vào thị trường này cao hơn cùng kỳ năm ngoái.
Cụ thể, mặc dù tháng 9 trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ giảm 13,72% so với tháng 8/2018 chỉ đạt 4,22 tỷ USD, nhưng tính chung 9 tháng đầu năm tăng 13,02% so với cùng kỳ năm trước, tương đương cao hơn 3,6 điểm phần trăm so với mức tăng của cùng kỳ năm 2017, đạt 35,02 tỷ USD.
Kể từ khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ có hiệu lực từ năm 2000 đến nay, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ liên tục tăng trưởng ở mức cao. Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chỉ vào khoảng 730 triệu USD, thì đến năm 2017 con số này đã lên đến 41,6 tỷ USD.
So với năm 2017, trong 9 tháng qua, Việt Nam có 7 nhóm hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD, giảm 1 nhóm hàng (do kim ngạch xuất khẩu hàng túi xách, ví va li, mũ, ô dù chỉ đạt 952 triệu USD).
Dệt may là nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ. Trong tháng 9, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này là 1,22 tỷ USD, giảm 12,97% so với tháng 8/2018 nhưng tăng 10,11% so với tháng 9/2017, tính chung 9 tháng đạt 10,33 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm gần 46% tỷ trọng.
Đứng thứ hai về kim ngạch là mặt hàng giày dép, trong 9 tháng 2018 đã thu về 4,2 tỷ USD chiếm 12,2% tỷ trọng, tăng 13,47% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2018 đạt 461,8 triệu USD, giảm 10,19% so với tháng 8/2018 nhưng tăng 13,87% so với tháng 9/2017.
Kế đến là điện thoại các loại và linh kiện chiếm 11,8% tỷ trọng đạt 4,1 tỷ USD, tăng 43,58% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2018 đạt 619 triệu USD giảm 21,79% so với tháng 8/2018 nhưng tăng 81,43% so với tháng 9/2017.
Tiếp theo là gỗ và sản phẩm; máy vi tính sản phẩm điện tử chiếm lần lượt 7,8% và 5,9% tỷ trọng, đạt tương ứng 2,73 tỷ USD (tăng 15,7%) và 2,07 tỷ USD (giảm 14,1%).
Hai nhóm hàng còn lại đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (2,34 tỷ USD, tăng mạnh 29,6%); hàng thủy sản (1,14 tỷ USD, tăng 9,2%).
Qua bảng số liệu thống kê của TCHQ, cũng cho thấy giá trị hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ Mỹ trong 9 tháng qua đạt 9,55 tỷ USD, tăng 36,9% so với cùng kỳ 2017 và chiếm 5,5% tổng trị giá hàng hóa nhập khẩu của cả nước.

Hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Mỹ 9 tháng năm 2018

Mặt hàng9T/2018+/- so với cùng kỳ 2017 (%)*
Lượng (Tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Tổng 35.021.289.682 13,01
Hàng thủy sản 1.142.248.851 9,25
Hàng rau quả 99.295.550 30,78
Hạt điều104.03973.542.63212,434,55
Cà phê140.381264.507.431-3,61-20,02
Chè4.7665.493.8521,322,56
Hạt tiêu34.179120.863.0147,22-35,18
Gạo14.0488.958.616-17,94-3,68
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc 40.475.733 30,22
Thức ăn gia súc và nguyên liệu 30.073.096 57,05
Dầu thô132.67168.423.923-38,59-19,18
Hóa chất 24.241.879 4,55
Sản phẩm hóa chất 23.735.940 3,39
Sản phẩm từ chất dẻo 348.706.444 24,86
Cao su22.97831.796.047-12,64-22,95
Sản phẩm từ cao su 107.090.072 26,37
Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù 951.920.685 -8,73
Sản phẩm mây, tre, cói và thảm 48.404.714 24,29
Gỗ và sản phẩm gỗ 2.730.458.849 15,75
Giấy và các sản phẩm từ giấy 84.726.766 19,14
Xơ, sợi dệt các loại28.20334.878.168112,5889,53
Hàng dệt, may 10.325.909.366 11,60
Vải mành, vải kỹ thuật khác 138.154.530 16,98
Giày dép các loại 4.267.872.192 13,47
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 29.902.740 -8,45
Sản phẩm gốm, sứ 55.237.200 18,58
Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh 48.070.380 1,44
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm 281.229.593 38,02
Sắt thép các loại717.613613.064.64989,76102,41
Sản phẩm từ sắt thép 355.660.739 30,21
Kim loại thường khác và sản phẩm 252.741.369 33,19
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 2.068.114.534 -14,06
Điện thoại các loại và linh kiện 4.155.099.110 43,58
Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện 49.307.559 8,85
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác 2.342.106.202 29,56
Dây điện và dây cáp điện 63.429.737 10,75
Phương tiện vận tải và phụ tùng 951.111.865 9,99
Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận 346.696.245 11,21

(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)

Hương Nguyễn – Vinanet

TT ngoại tệ ngày 29/10/2018: Tỷ giá trung tâm tăng, USD quốc tế và bitcoin giảm

Tỷ giá trung tâm tăng; giá USD tại các ngân hàng thương mại không đổi so với cuối tuần qua.

TT ngoại tệ ngày 29/10/2018: Tỷ giá trung tâm tăng, USD quốc tế và bitcoin giảm

*Đồng USD trên thị trường quốc tế giảm trong bối cảnh lãi suất tăng cao. Trong ngắn hạn, USD và chứng khoán Mỹ cũng dang đối mặt với rủi ro lớn từ cuộc bầu cử Quốc hội Mỹ giữa kỳ.
*Giá bitcoin giảm xuống vùng 6.400 USD khi sụt giảm liên tục trong cuối tuần.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.722 đồng/USD, tăng 3 đồng so với cuối tuần qua.

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.403 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.041 VND/USD.
Các ngân hàng thương mại, sáng nay, lúc 9h00 giá mua – bán USD như sau: Ngân hàng Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.300 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi so với tuần qua.
Tại BIDV, giá USD cũng đang được niêm yết ở mức 23.300 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra).
Tại Vietinbank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.297 – 23.392 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 2 đồng ở cả 2 chiều so với cuối tuần qua.
Tại ngân hàng Techcombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.280 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra).
Còn tại ngân hàng ACB tiếp tục niêm yết giá đồng USD ở mức 23.310 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra).
Tại ngân hàng Eximbank tiếp tục niêm yết giá đồng USD ở mức 23.290 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra).
Ngân hàng Đông Á niêm yết giá đồng USD ở mức 23.315 – 23.385 VND/USD (mua vào – bán ra).
Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN
Tỷ giá áp dụng cho ngày 29/10/2018
Ngoại tệTên ngoại tệMuaBán
USDĐô la Mỹ22.70023.354
EURĐồng Euro25.10326.656
JPYYên Nhật197209
GBPBảng Anh28.26730.015
CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.07823.444
AUDĐô la Úc15.62316.590
CADĐô la Canada16.82017.860
Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định trị giá tính thuế
Ngân hàng Nhà nước thông báo tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực kể từ ngày 25/10/2018 đến 31/10/2018 như sau:
STTNgoại tệTên ngoại tệTỷ giá
1EURĐồng Euro25.924,66
2JPYYên Nhật202,05
3GBPBảng Anh29.380,53
4CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.784,8
5AUDĐô la Úc16.088,74
6CADĐô la Canada17.352,22
7SEKCuron Thuỵ Điển2.502,4
8NOKCuron Nauy2.730,1
9DKKCuron Đan Mạch3.476,18
10RUBRúp Nga345,7
11NZDĐô la Newzealand14.861,81
12HKDĐô la Hồng Công2.897,64
13SGDĐô la Singapore16.475,24
14MYRRingít Malaysia5.459,15
15THBBath Thái691,24
16IDRRupiah Inđônêsia1,5
17WONWon Hàn Quốc20,06
18INRRupee Ấn độ310,29
19TWDĐô la Đài Loan733,98
20CNYNhân dân tệ TQuốc3.273,87
21KHRRiêl Cămpuchia5,58
22LAKKíp Lào2,67
23MOPPataca Macao2.816,54
24TRYThổ Nhĩ Kỳ3.960,92
25BRLRin Brazin6.150,12
26PLNĐồng Zloty Ba Lan6.029,35
Trên thị trường tự do, lúc 09h20 giá USD niêm yết ở mức mua vào là 23.455 đồng/USD và bán ra là 23.470 đồng/USD.
Diễn biến giá USD trên thị trường tự do

 

Thế giới
Tính đến đầu phiên giao dịch (giờ Việt Nam), trên thị trường thế giới, chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,25% ở mức 96.
Gói kích thích tài khóa của chính quyền Trump vẫn đang hỗ trợ cho nền kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, tác động này sẽ giảm dần vì lãi suất của FED đang tăng cao. Theo đó, GDP của Mỹ dự kiến chỉ đạt dưới 2% trong năm tới. Điều này sẽ buộc FED phải chấm dứt tăng lãi suất vào giữa năm 2019, sớm hơn dự kiến.
Hiện tại, thị trường đang đặt cược xác suất 67% Fed sẽ tăng lãi suất vào tháng 12. Dù con số này giảm so với 80% hồi tuần trước, mức độ kỳ vọng vẫn đang cao.
Ông Bob Haberkorn, chiến lược gia thị trường của công ty RJO Futures, nhận định rằng các nhà đầu tư tìm kiếm sự an toàn cũng sẽ lựa chọn trái phiếu chính phủ.
Tỷ giá GBP/USD tăng 0,12% lên mức 1,2833 USD từ mức thấp nhất trong hai tháng. Anh và Liên minh châu Âu có thể đạt được một sự đồng thuận về thỏa thuận Brexit.
Hiện, vấn đề chính trị là trở ngại lớn nhất cho bảng Anh. Nếu vấn đề này được giải quyết, theo đánh giá của các chuyên gia, tỷ giá GBP/USD giao dịch dưới 1,30 USD.
Tỷ giá EUR/USD đã tăng 0.18% lên 1,1385 USD từ mức thấp 1,1336 USD.
Tỷ giá USD/JPY đã giảm 0,35% xuống 112,05 yên.
Giá bitcoin hôm nay ghi nhận vào thời điểm 5h40 là 6.416,33 USD, giảm 0,23% so với 24 giờ trước.
Trên thị trường tiền kỹ thuật số, có 70 đồng tiền trong nhóm 100 đồng tiền hàng đầu theo giá trị thị trường tăng giá so với 24 giờ trước.
Trong đó, top 10 chứng kiến 7/10 đồng tiền tăng giá so với 24 giờ trước, tuy nhiên mức độ biến động không cao.
Ethereum tăng 0,01% lên 204,32 USD, gần như không đổi so với mức giá 24 giờ trước. Ripple tăng 0,84% lên 0,4609 USD. Bitcoin cash giảm 0,19% xuống còn 437,05 USD.
Tăng nhiều nhất trong top 10 là stellar với mức tăng 1,1% len 0,2315 USD.
Tổng giá trị thị trường tiền kỹ thuật số ghi nhận được vào thời điểm 5h47 là 209,35 tỉ USD, theo CoinMarketCap.
Khối lượng giao dịch tăng 2,8% lên 9,5 tỉ USD, so với con số 9,2 tỉ USD của ngày 28/10/2018.

Hương Nguyễn

Vinanet

Tập trung triển khai cho thị trường bán buôn điện cạnh tranh

Đó là chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng tại Hội nghị tổng kết vận hành Thị trường phát điện cạnh và Thị trường bán buôn điện canh tranh thí điểm giai đoạn 1/7/2017 đến 30/6/2018, diễn ra ngày 8/10.

Tập trung triển khai cho thị trường bán buôn điện cạnh tranh

Công suất tăng 2,8 lần
Sau hơn 6 năm thị trường phát điện cạnh tranh chính thức vận hành đã đảm bảo hoạt động điện lực được công khai, minh bạch và đặc biệt duy trì cung cấp điện an toàn, tin cậy cho hệ thống điện.
Báo cáo từ Cục Điều tiết điện lực cho biết, thực hiện lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thị trường phát điện cạnh tranh chính thức đưa vào vận hành từ ngày 1/7/2012. Đến nay, đã có 87 nhà máy điện tham gia giao dịch trên thị trường, với tổng công suất đặt gần 23.000MW, tăng gần 3 lần so với thời điểm mới vận hành (chỉ có 31 nhà máy điện).
Ông Phạm Quang Anh, Phó Trưởng phòng phát điện, Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công Thương) đánh giá, thị trường phát điện cạnh tranh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, cụ thể: Hệ thống điện đã được vận hành an toàn tin cậy, cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế xã hội; không có sự cố có nguyên nhân từ việc vận hành thị trường điện bảo đảm cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia. “Việc vận hành thị trường phát điện cạnh tranh đã góp phần tăng tính minh bạch, công bằng trong việc huy động các nguồn điện, thông qua bản chào giá của nhà máy để đưa ra lịch huy động, các nhà máy có giá chào thấp sẽ được huy động trước sau đó đến các nhà máy có giá chào cao hơn cho đến khi đáp ứng được nhu cầu của phụ tải”, ông Phạm Quang Anh khẳng định.
Nhìn nhận về thị trường điện cạnh tranh, ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Tổng giám đốc Công ty Nhiệt điện Hải Phòng cho hay, khi tham gia vào thị trường điện, doanh nghiệp ký hợp đồng bán buôn nên có nhiều thuận lợi trong việc chủ động lập kế hoạch. Như trong mùa khô, vừa có thể phát sản lượng cao và lợi nhuận cao, có kế hoạch trong sửa chữa máy. Mùa mưa, doanh nghiệp bố trí sửa chữa các tổ máy để phục vụ trong mùa khô phát công suất cao.
Đối với thị trường bán buôn điện cạnh tranh vận hành thí điểm, đến nay đã có 99% (633/639) số điểm đo thuộc phạm vi ranh giới được thu thập trực tiếp từ xa về Trung tâm điều độ A0; Chất lượng số liệu đo đếm từng bước cải thiện, công tác công bố, đối soát, xác nhận số liệu đo đếm từng bước đi vào khuôn khổ, cơ bản đáp ứng yêu cầu. Tham gia thị trường này, các đơn vị phát điện đã nhận thức được tầm quan trọng, chủ động hơn trong công tác vận hành, rút ngắn thời gian sửa chữa bảo dưỡng, cắt giảm chi phí vận hành, chủ động trong chào giá nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả chung của toàn hệ thống.
Ông Nguyễn Xuân Khu – Phó Giám đốc Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia thông tin thêm, sau 1 năm vận hành thí điểm thị trường bán buôn điện cạnh tranh, các tổng công ty điện lực đã nâng cao được kiến thức và năng lực dự báo phụ tải được nâng lên đáng kể, sai số phụ tải được cải thiện (sai số chủ yếu rơi vào thời điểm có diễn biến thời tiết biến động như nắng nóng gay gắt).
Còn nhiều việc phải làm
Tuy nhiên, theo đánh giá của Cục Điều tiết điện lực, không thể phủ nhận quá trình xây dựng, vận hành thị trường điện cũng phát sinh một số vấn đề khó khăn như hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ vận hành hệ thống điện – thị trường điện còn những hạn chế nhất định; các nhà máy thủy điện chiếm tỷ lệ lớn, trong khi các yếu tố đầu vào thủy văn thường bất định, khó dự báo, do vậy công tác lập kế hoạch vận hành thị trường điện hàng năm, hàng tháng cũng ẩn chứa nhiều yếu tố phức tạp.
Đại diện Cục Điều tiết điện lực cũng bày tỏ, việc xác nhận số liệu đo đếm của các tổng công ty điện lực cần thời gian thêm vì phạm vi số lượng số liệu đo đếm rất lớn, kiểm tra phương thức giao nhận điện năng khi có sự thay đổi lớn, cập nhật; xác nhận sản lượng của các nhà máy vùng sâu, vùng xa chậm do việc thu thập số liệu trực tiếp khó khăn dẫn đến việc xác nhận các bảng kê ngày chậm 2-3 ngày so với thời gian biểu quy định hiện hành.
Với thị trường bán buôn điện cạnh tranh, ông Nguyễn Anh Tuấn – Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực cho biết, việc vận hành thí điểm thị trường bán buôn điện cạnh tranh trong thời gian vừa qua là cơ sở để đánh giá tính phù hợp của các cơ chế vận hành thị trường bán buôn điện theo thiết kế chi tiết đã được phê duyệt; đồng thời, các đơn vị thành viên thị trường đã từng bước làm quen với các cơ chế mới, đào tạo nâng cao năng lực. “Qua thí điểm, các đơn vị bước đầu đã làm quen thị trường bán buôn, chúng tôi đã chuẩn bị cơ sở hạ tầng, đào tạo, các văn bản pháp lý cần thiết. Thời gian tới, chúng ta cần phải hoàn thiện sớm hành lang pháp lý cho thị trường bán buôn. Khó khăn lớn nhất là làm sao xây dựng cơ chế bù chéo cho các tổng công ty điện lực, vì hiện nay khâu phát điện – đầu vào chúng ta đã tiến hành thị trường, trong khi giá bán lẻ – đầu ra chúng ta vẫn tiếp tục điều tiết”, ông Nguyễn Anh Tuấn nói.
Trong khi đó, theo các chuyên gia, để đảm bảo vận hành thị trường điện một cách công bằng, minh bạch và đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư vào năng lượng tái tạo, cơ quan quản lý cũng cần tính tới các phương án xây dựng cơ sở pháp lý và các hạ tầng thiết yếu đảm bảo cho các nhà máy điện có công suất nhỏ hơn 30MW, nhà máy điện năng lượng tái tạo cũng có thể tham gia vào thị trường điện trong thời gian tới.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho hay, về thị trường điện, vẫn còn khá mới mẻ và nhiều việc cần phải làm. Thứ trưởng yêu cầu các đơn vị tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để thị trường điện lực đưa vào vận hành đầy đủ các cấp độ, an toàn tin cậy, cung ứng điện đảm bảo hiệu quả kinh tế.
Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng cũng đề nghị các đơn vị liên quan hoàn thành Thông tư quy định vận hành thị trường bán buôn điện, đồng thời tích cực đẩy mạnh công tác hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cũng như tiếp tục triển khai đào tạo nâng cao năng lực cho các đơn vị thành viên đáp ứng yêu cầu vận hành thị trường điện.
Trước mắt, để triển khai đưa thị trường bán buôn điện cạnh tranh vào vận hành chính thức từ năm 2019, Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng yêu cầu Cục Điều tiết điện lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia và các đơn vị liên quan tập trung thực hiện hoàn thành tốt giai đoạn vận hành thí điểm các tháng cuối năm 2018.
Nguồn: Lan Anh- Nhật Quang/Báo Công Thương

9 tháng, Hòa Phát đạt lợi nhuận sau thuế hơn 6.800 tỷ đồng

9 tháng năm 2018, Công ty CP Tập đoàn Hòa Phát (HPG) đạt 41.988 tỷ đồng doanh thu và 6.833 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng tương ứng 24% và 22% so với cùng kỳ năm trước.

Dự án Khu liên hợp sản xuất gang thép tại Dung Quất của Hòa Phát đang được tích cực hoàn thiện (ảnh internet)

Dự án Khu liên hợp sản xuất gang thép tại Dung Quất của Hòa Phát đang được tích cực hoàn thiện (ảnh internet)

Với kết quả trên, Hòa Phát đã hoàn thành 85% kế hoạch lợi nhuận năm 2018.

Riêng quý III/2018, doanh thu bán hàng và lợi nhuận sau thuế hợp nhất của Công ty đạt lần lượt 14.394 tỷ đồng và 2.408 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2017.

Cùng với doanh thu và lợi nhuận tăng cao, trong 9 tháng năm 2018, các nhóm ngành kinh doanh đều giữ vững nhịp tăng trưởng. Hòa Phát đã cho ra thị trường gần 1,7 triệu tấn thép xây dựng, tăng gần 7% so với cùng kỳ năm 2017. Dự kiến, năm 2018, Hòa Phát sẽ cho ra thị trường 2,3 triệu tấn.

Công ty đang tập trung hoàn thiện Khu liên hợp sản xuất gang thép tại Dung Quất nhằm đạt tổng công suất 4 triệu tấn thép xây dựng vào năm 2019 và 5 triệu tấn thép xây dựng từ năm 2020. Sau khi Dự án hoạt động ổn định, Hòa Phát dự kiến sẽ chiếm ít nhất 30% thị phần thép xây dựng. Ngoài ra, Hòa Phát còn sản xuất và cung cấp hàng ngàn tấn dây thép rút chất lượng cao cho thị trường bằng nguồn nguyên liệu thép cuộn của Khu liên hợp gang thép Hòa Phát Hải Dương.

Bên cạnh đó, nhóm sản phẩm công nghiệp khác như: nội thất, điện lạnh hoạt động ổn định, có nhiều sản phẩm mới được thị trường đón nhận tích cực.

Việt Anh

Giá vàng hôm nay đi xuống

Dù giới đầu tư đặt nhiều kỳ vọng vào việc giá vàng tuần này sẽ tiếp đà tăng của 4 tuần trước đó, tuy nhiên đồng USD mạnh lên đã đẩy giá quý kim này đi xuống.

Tuần trước, giá vàng chứng kiến một tuần khởi sắc, nhờ hoạt động mua vào tài sản an toàn của giới đầu tư trước sự sụt giảm trên các thị trường chứng khoán. Đó cũng là tuần tăng giá thứ 4 của giá vàng, nhưng sang tuần này, đà tăng đã không giữ được.

Giá vàng hôm nay đi xuống

Giá vàng thế giới giao ngay hôm nay đã giảm 4,2 USD/ounce xuống còn 1.229,6 USD/ounce.

Cụ thể, trong phiên giao dịch hôm nay (30/12), giá vàng giao ngay đã giảm 4,2 USD/ounce, tương đương 0,34%, xuống còn 1.229,6 USD/ounce.

Giá vàng giao tháng 12/2018 tại sàn giao dịch kim loại Comex của Mỹ giảm 8,2 USD (0,66%) xuống đóng phiên ở mức 1.227,6 USD/ounce.

Giá vàng trong nước cũng đi theo đà giảm của giá vàng thế giới. Cụ thể, giá vàng trong nước sáng nay (30/10) được các doanh nghiệp điều chỉnh hạ thêm 70 nghìn đồng/lượng. Hiện giá SJC bán ra đang niêm yết ở mức dưới 36 triệu đồng/lượng.

Cụ thể, lúc 9h sáng nay, giá vàng SJC của Tập đoàn vàng bạc đá quý DOJI niêm yết mua vào ở mức 36,42 triệu đồng/lượng, bán ra là 36,52 triệu đồng/lượng, giảm tương đương ở chiều mua vào là 90 nghìn đồng/lượng và bán ra là 70 nghìn đồng/lượng so với giá phiên trước đó.

Cùng thời điểm, tại Công ty TNHH vàng bạc đá quý Sài Gòn, giá vàng SJC niêm yết ở mức 36,42 triệu đồng/lương – 36,58 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm tương đương 60 nghìn đồng/lượng.

Dù đa phần chuyên gia dự đoán giá vàng tuần này sẽ tăng, nhưng vẫn có một số ý kiến cho rằng giá vàng chưa thể tăng liên tục mà vẫn có những phiên điều chỉnh chốt lời. Nhiều nhà đầu tư và các quỹ lớn đều chọn biện pháp an toàn hoặc phòng thủ thông qua việc mua trái phiếu.

Lan Trần

Giá dầu thế giới 29/10: Đồng loạt tăng

Giá dầu thế giới ngày 29/10 đồng loạt tăng nhẹ trước thời điểm lệnh trừng phạt của Mỹ với Iran có hiệu lực.

gia vang the gioi 2910 dong loat tang
Ảnh minh họa.

Đầu giờ ngày 29/10, theo giờ Việt Nam, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 12/2018 trên sàn New York Mercantile Exchanghe ở mức 67,94 USD/thùng, tăng 35 cent trong phiên. Trong khi đó, giá dầu brent giao tháng 12/2018 đứng ở mức 78,01 USD/thùng, tăng 39 cent trong phiên.

Còn theo ghi nhận trên ifcmarketc, đầu giờ ngày 29/10, giá dầu WTI được giao dịch ở mức thấp nhất là 67,89 USD/thùng và cao nhất là 67,96 USD/thùng. Đóng cửa phiên giao dịch trước, giá dầu WTI đứng ở mức 67,71 USD/thùng, tăng 1,08%.

Với dầu brent, đầu giờ ngày 29/10, giá dầu brent được giao dịch ở mức thấp nhất là 77,01 USD/thùng và cao nhất là 77,96 USD/thùng. Đóng cửa phiên giao dịch trước, giá dầu WTI đứng ở mức 77,77 USD/thùng, tăng 1,6%.

Giá dầu thế giới tăng nhẹ trong 2 phiên gần đây chủ yếu do thị trường lại dấy lên những lo ngại về khả năng thiếu hụt nguồn cung, đặc biệt là trước thời điểm (ngày 4/11) lệnh trừng phạt của Mỹ với Iran có hiệu lực.

Trong một tuyên bố mới nhất ngày 28/10, Phó Tổng thống thứ nhất của Cộng hòa Hồi giáo Iran Eshaq Jahangiri cho rằng Mỹ “đang lừa dối cả thế giới” và không thể ngăn chặn việc xuất khẩu dầu của Iran, bởi không có bất cứ sự thay thế nào cho nguồn dầu mỏ Iran trên thị trường.

Eshaq Jahangiri nhấn mạnh: Hiện nay, các quan chức Mỹ đang nói dối cả thế giới rằng, Saudi Arabia và các nước khác có thể thay thế nguồn dầu mỏ Iran để giá dầu không tăng. Nhưng nếu người Mỹ đủ sức ngăn chặn việc xuất khẩu dầu mỏ của Iran, giá dầu sẽ đạt mốc 100 USD/thùng.

Ông cũng nói rằng Tehran đã xuất khẩu 2,5 triệu thùng dầu mỗi ngày trong vài tháng qua đồng thời bày tỏ hi vọng Mỹ sẽ không ép Iran giảm lượng xuất khẩu xuống dưới 1 triệu thùng/ngày.

Hà Lê

10 tháng, 27,9 tỷ USD vốn FDI vào Việt Nam

Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính chung trong 10 tháng năm 2018, tổng vốn FDI vào Việt Nam (gồm vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần) là 27,9 tỷ USD, bằng 98,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Tính đến ngày 20/10, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân 15,1 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2017. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng đã đầu tư vào 18 ngành lĩnh vực, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm với tổng số vốn đạt 13,2 tỷ USD, chiếm 47,5% tổng vốn đầu tư đăng ký.  Lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 5,7 tỷ USD, chiếm 20,4% tổng vốn đầu tư đăng ký. Đứng thứ ba là lĩnh vực bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,3 tỷ USD, chiếm 8,5% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Trong số 105 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam thì Nhật Bản đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư 7,6 tỷ USD, chiếm 27,5% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký 6,5 tỷ USD, chiếm 23,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Singapore đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 3,9 tỷ USD, chiếm 14% tổng vốn đầu tư.

Về địa bàn đầu tư, trong 59 tỉnh, thành phố thì Hà Nội thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với tổng số vốn đăng ký 6,15 tỷ USD, chiếm 22% tổng vốn đầu tư. Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký 4,6 tỷ USD…

H.N.

Nhu cầu mua lớn, giá vàng đi lên

Giá vàng tiếp tục đứng ở mức cao, có xu hướng đi lên khi nhu cầu vàng trên thị trường tăng.

Mở đầu phiên giao dịch sáng nay (29/10), Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 36,48 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,58 triệu đồng/lượng (bán ra).

Tại Công ty Vàng bạc Đá quý SJC, giá vàng niêm yết chiều mua vào là 36,48 triệu đồng/lượng, ở chiều bán ra có mức giá là 36,64 triệu đồng/lượng.

Đầu giờ ngày 29/10, theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.233,46 USD/ounce. Trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchange, giá vàng thế giới giao tháng 12/2018 đứng ở mức 1.235,3 USD/ounce.

images2232257_gia_vangNhu cầu mua vào lớn, giá vàng đi lên. Ảnh minh họa

So với phiên giao dịch đầu năm 2018, giá vàng thế giới giao ngay giảm 69 USD/Ounce. Quy đổi theo giá USD ngân hàng, vàng thế giới có giá 34,63 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới duy trì ở mức cao và có xu hướng tăng chủ yếu nhu cầu trên thị trường tăng mạnh.

Chứng khoán Mỹ chứng kiến đợt suy giảm, kéo theo đó là thị trường chứng khoán toàn cầu. Chứng khoán Trung Quốc đang đối mặt vòng xoáy đi xuống với hàng tỷ USD cổ phiếu có nguy cơ bị bán tháo.

Đồng USD tăng giá, chỉ số Bloomberg Dollar Spot trong tuần đã đạt đỉnh kể từ tháng 6/2017, là lý do then chốt tạo ra các lo ngại. Chính điều này dẫn đến xu hướng bán tháo tài sản tại thị trường mới nổi, gia tăng áp lực lên đồng nhân dân tệ.

12 trong số các nhà đầu tư chuyên nghiệp, tương đương 67%, trả lời khảo sát của Kitco News dự báo giá vàng sẽ tăng trong tuần này Trong khi 5 người đoán giá giảm (28%) và 1 (6%) đoán giá đi ngang.

Trong khi đó, 291 nhà đầu tư nghiệp dư, chiếm 66% số được khảo sát, dự đoán giá vàng tăng tuần tới, 106 (24%) dự đoán giảm và 47 (11%) trung lập.

Một số nhà phân tích cho rằng thị trường vàng có thể sớm bắt đầu chuẩn bị cho đợt tăng lãi suất lần thứ 4 trong năm nay của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vào tháng 12 tới. Trong lịch sử, giá vàng có xu hướng giảm trước đợt tăng lãi suất cơ bản do lợi suất trái phiếu tăng và đồng USD mạnh lên.

Hiện tại, thị trường đang định giá ở mức 67% cơ hội Fed tăng lãi suất vào tháng 12 tới. Mặc dù con số này đã giảm so với mức 80% được đưa ra vào tuần trước, nhưng mức độ kỳ vọng vẫn đang cao.

Mức kỳ vọng Fed tăng lãi suất vào cuối năm có thể trở thành yếu tố ảnh hưởng chính lên giá vàng tuần tới sau khi báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 10 của Mỹ được công bố vào thứ 6.

Tỷ giá ngoại tệ ngày 29/10: USD giảm mạnh so với nhiều đồng tiền khác

So với cuối tuần trước, hiện chỉ số giá USD giảm mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác, như: Bảng Anh, Nhân dân tệ, Euro, Yên Nhật.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng đô la Mỹ với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đang ở mức 96,27 điểm, đang tăng trở lại so với mức 96,09 điểm chốt phiên tuần trước. Chỉ số giá USD tuần vừa qua dao động trong biên độ từ 95,22 điểm đến 96,57 điểm.

Theo Bloomberg, hiện USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1390 USD; 111,97 yen đổi 1 USD và 1,2825 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,9435 Nhân dân tệ (CNY). So với cuối tuần trước, hiện chỉ số giá USD giảm so với các đồng tiền chủ chốt. Phiên cuối tuần trước, 1 euro đổi 1,1367 USD; 112,41 yen đổi 1 USD và 1,2817 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,9489 Nhân dân tệ (CNY).

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.722 đồng/USD, giảm 1 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.403 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.041 VND/USD.

Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.355 đồng/USD, tăng 2 đồng so với cùng thời điểm cuối tuần trước; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và  CNY ở mức 1 CNY đổi 3.273,87 VND, giá không đổi so với cùng thời điểm cuối tuần trước.

Trên thị trường tự do, giá mua – bán USD hiện đang là 23.455- 23.465đồng/USD, tăng 5 đồng mua vào, giá bán ra giảm 5 đồng.

Giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại biến động nhẹ so với cùng thời điểm hôm qua. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.300-23.390 VND/USD, không đổi; VietinBank niêm yết giá 23.302-23.392 VND/USD, tăng 13 đồng mua vào, tăng 4 đồng bán ra; BIDV niêm yết giá 23.300-23.390 VND/USD, không đổi./.

Sáng nay, chỉ số USD trên thị trường thế giới đang tăng, giá USD tại ngân hàng thương mại trong nước cũng tăng nhưng biên độ hẹp.
PV/VOV.VN

Xuất nhập khẩu 9 tháng vượt cả năm 2016

Mới qua 3/4 chặng đường của năm nhưng tổng kim ngạch XNK cả nước đã vượt cả năm 2016. Đáng chú ý, thặng dư thương mại đạt được con số “xưa nay hiếm” với hơn 6,3 tỷ USD.

Xuất nhập khẩu 9 tháng vượt cả năm 2016

Theo Tổng cục Hải quan, hết tháng 9/2018, tổng kim ngạch XNK cả nước đạt 352,61 tỷ USD, tăng 13,7% (tương ứng tăng 42,44 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước và vượt mức kim ngạch của cả năm 2016 (351,38 tỷ USD). Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 179,47 tỷ USD, tăng 15,8% và nhập khẩu đạt 173,14 tỷ USD, tăng 11,6%.

Như vậy, mức xuất siêu của Việt Nam trong 9 tháng/2018 lên con số kỷ lục hơn 6,3 tỷ USD. Đóng góp quan trọng vào thành tích XNK cả nước nói chung, nhất là con số xuất siêu ấn tượng phải kể đến 7 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch tăng thêm từ 1 tỷ USD trở lên trong 9 tháng qua. Đó là: Điện thoại và linh kiện; dệt may; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị; sắt thép; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện; giày dép các loại.

Cụ thể, điện thoại các loại và linh kiện đạt 36,69 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường xuất khẩu chính là EU (28 nước), đạt 10,14 tỷ USD, tăng 10,9%; Trung Quốc tăng gấp 2,4 lần, đạt gần 5,78 tỷ USD; Hoa Kỳ đạt 4,16 tỷ USD, tăng 43,7%; Hàn Quốc đạt 3,34 tỷ USD, tăng 17,1%…

Hàng dệt may đạt 22,45 tỷ USD, tăng 16,5%. Đây cũng là mức tăng khả quan của ngành hàng quan trọng này trong nhiều năm trở lại đây. Trong đó Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất với trị giá đạt 10,33 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 46% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước. Ngoài ra, dệt may cũng tìm được sự tăng trưởng cao ở nhiều thị trường chủ lực như EU đạt 3,08 tỷ USD, tăng 11,4%; Nhật Bản là 2,8 tỷ USD, tăng 24,2%…

Máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện là nhóm hàng xuất khẩu có quy mô kim ngạch lớn thứ 3 với trị giá đạt 21,58 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng qua, Trung Quốc là thị trường lớn nhất với trị giá hơn 6 tỷ USD, tăng 28,8%; tiếp đến là EU đạt 4,05 tỷ USD, tăng 21,1%; Hoa Kỳ đạt 2,07 tỷ USD giảm 14,1%; Hàn Quốc đạt 1,94 tỷ USD, tăng 48,5% …

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng,  đạt 12,14 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Hoa Kỳ đạt 2,34 tỷ USD, tăng 29,5%; EU đạt 1,63 tỷ USD, tăng 24,7%; Nhật Bản với 1,34 tỷ USD, tăng 6,2%… đặc biệt, riêng thị trường Ấn Độ với 1,48 tỷ USD ghi nhận sự tăng trưởng kỷ lục gấp 5,9 lần.

Giày dép các loại không đạt được con số ấn tượng như các nhóm hàng chủ lực nhưng cũng có sự tăng trưởng đáng ghi nhận ở mức 2 con số với kim ngạch đạt 11,74 tỷ USD, tăng 10,2%. Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản… là những thị trường xuất khẩu quan trọng hàng đầu và đều có được mức tăng trưởng cao.

Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,37 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện đạt 3,49 tỷ USD, tăng 46,9% so với cùng thời gian năm trước.  Các thị trường ở châu Á như Trung Quốc; Hồng  Kông; Hàn Quốc… là những nơi tiêu thụ chính của nhóm hàng này.

Sắt thép là nhóm hàng có kim ngạch và sản lượng xuất khẩu tăng cao với 4,61 triệu tấn, trị giá 3,39 tỷ USD, tăng 39,4% về lượng và 55,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, Campuchia là thị trường lớn nhất với 976 nghìn tấn, tăng 53,6%. Tiếp đến là Hoa Kỳ đạt 718 nghìn tấn, tăng 89,8%; Indonesia đạt 452 nghìn tấn, tăng 9,6%; Malaysia đạt 478 nghìn tấn, tăng 76,6%; EU đạt 431 nghìn tấn, tăng 48%.

Bên cạnh đó, 9 tháng qua ghi nhận 6 nhóm hàng nhập khẩu có kim ngạch tăng thêm từ 1 tỷ USD. Đó là, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; nguyên phụ liệu dệt may, da giày; kim loại thường; xăng dầu; dầu thô; chất dẻo nguyên liệu.

Đa dạng hóa thị trường

Cùng với quy mô kim ngạch tăng cao, thị trường XNK của nước ta cũng ngày một đa dạng với sự phát triển ổn định ở nhiều thị trường chủ lực. Có thể thấy, 9 tháng qua Việt Nam có rất nhiều đối tác thương mại “tỷ đô”.

Về thị trường xuất khẩu, trong 9 tháng, hàng hóa của Việt Nam xuất sang thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ có mức tăng cao trên 20% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, thị trường Trung Quốc là 28,81 tỷ USD, tăng 29,9%; Hàn Quốc là 13,45 tỷ USD, tăng 26,1%; Ấn Độ là 5,18 tỷ USD, tăng mạnh 88,6%.

Bên cạnh đó, các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, EU và ASEAN cũng đều đạt tốc độ tăng trưởng 2 con số, lần lượt là 13,2%, 10,5% và 14,5%. Trong đó, thị trường Hoa Kỳ đạt 35,02 tỷ USD, tăng 4,08 tỷ USD; EU đạt 31,2 tỷ USD, tăng 2,96 tỷ USD; ASEAN đạt 18,3 tỷ USD, tăng 2,3 tỷ.

Về thị trường nhập khẩu, hết tháng 9 có 58 thị trường chính có kim ngạch nhập khẩu từ 100 triệu USD trở lên. Trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc, Nhật Bản đều có tốc độ tăng hai con số, trong khi thị trường Hàn Quốc chỉ tăng nhẹ.

9 tháng qua, nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc là 47,26 tỷ USD tăng 12,8%; Hàn Quốc là 35,07 tỷ USD, tăng 1,6% và Nhật Bản là 13,87 tỷ USD, tăng 14,6%.

Hiện nay, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất cung cấp hàng hóa vào Việt Nam. Các nhóm hàng chính Việt Nam nhập khẩu từ thị trường này trong 9 tháng qua là: Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 8,65 tỷ USD, tăng 5,7%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 6,09 tỷ USD, tăng 7,5%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 5,48 tỷ USD, tăng 7,8%…

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 9, nhóm hàng nông sản (bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) xuất khẩu đạt 1,26 tỷ USD, giảm 20,6% so với tháng trước. Hết tháng 9 đạt 13,63 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2017.

Xuất khẩu nhóm hàng nông sản sang Trung Quốc đạt kim ngạch lớn nhất với 4,74 tỷ USD, giảm 2,3%; Hoa Kỳ đạt 1,51 tỷ USD giảm 4,6%; sang Indonesia đạt 527 triệu USD, tăng 7,4 lần so với cùng kỳ năm 2017…

Nguồn: Baohaiquan.vn

Thủy Chung

TT ngoại tệ ngày 24/10: Tỷ giá trung tâm tăng, USD quốc tế chững lại, bitcoin ổn định

Tỷ giá trung tâm VND/USD tăng so với cùng thời điểm sáng ngày 23/10/2018. Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại không biến động nhiều.

TT ngoại tệ ngày 24/10: Tỷ giá trung tâm tăng, USD quốc tế chững lại, bitcoin ổn định

*Đồng USD trên thị trường thế giới chùng xuống trước những diễn biến bất ngờ trong quan hệ Mỹ với các đồng minh, trong khi đồng euro giảm mạnh.
*Giá bitcoin hôm nay tiếp tục giao dịch với biên độ biến động nhỏ và khối lượng giao dịch thấp.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.721 đồng/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua.

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.402 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.040 VND/USD.
Các ngân hàng thương mại, sáng nay, lúc 9h00 giá mua – bán USD như sau: Ngân hàng Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.300 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra), không đổi so với hôm qua.
Tại BIDV, giá USD cũng đang được niêm yết ở mức 23.300 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra).
Tại Vietinbank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.294 – 23.389 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 2 đồng ở cả 2 chiều so với hôm qua.
Tại ngân hàng Techcombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.280 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra).
Còn tại ngân hàng ACB tiếp tục niêm yết giá đồng USD ở mức 23.310 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra).
Tại ngân hàng Eximbank tiếp tục niêm yết giá đồng USD ở mức 23.290 – 23.390 VND/USD (mua vào – bán ra).
Ngân hàng Đông Á niêm yết giá đồng USD ở mức 23.310 – 23.380 VND/USD (mua vào – bán ra).
Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN
Tỷ giá áp dụng cho ngày 24/10/2018
Ngoại tệTên ngoại tệMuaBán
USDĐô la Mỹ22.70023.353
EURĐồng Euro25.27426.837
JPYYên Nhật196208
GBPBảng Anh28.60830.378
CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.14323.513
AUDĐô la Úc15.62216.588
CADĐô la Canada16.85417.896
Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định trị giá tính thuế
Ngân hàng Nhà nước thông báo tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực kể từ ngày 18/10/2018 đến 24/10/2018 như sau:
STTNgoại tệTên ngoại tệTỷ giá
1EURĐồng Euro26.274,44
2JPYYên Nhật202,45
3GBPBảng Anh29.879,31
4CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.918,98
5AUDĐô la Úc16.254,85
6CADĐô la Canada17.550,03
7SEKCuron Thuỵ Điển2.552,45
8NOKCuron Nauy2.788,72
9DKKCuron Đan Mạch3.522,25
10RUBRúp Nga347,42
11NZDĐô la Newzealand14.982,81
12HKDĐô la Hồng Công2.897,95
13SGDĐô la Singapore16.536,84
14MYRRingít Malaysia5.473,49
15THBBath Thái699,14
16IDRRupiah Inđônêsia1,5
17WONWon Hàn Quốc20,21
18INRRupee Ấn độ308,98
19TWDĐô la Đài Loan736,95
20CNYNhân dân tệ TQuốc3.280,76
21KHRRiêl Cămpuchia5,58
22LAKKíp Lào2,67
23MOPPataca Macao2.816,49
24TRYThổ Nhĩ Kỳ3.992,09
25BRLRin Brazin6.097,5
26PLNĐồng Zloty Ba Lan6.123,63
Trên thị trường tự do, lúc 09h150 giá USD niêm yết ở mức mua vào là 23.455 đồng/USD và bán ra là 23.470 đồng/USD, giảm 10 đồng ở chiều mua vào và giảm 5 đồng ở chiều bán ra so với chiều ngày 23/10/2018.
Diễn biến giá USD trên thị trường tự do

 

Thế giới
Đầu phiên giao dịch ngày 24/10/2018 (giờ Việt Nam), trên thị trường thế giới, chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 95,92 điểm.
USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1463 USD; 112,02 yen đổi 1 USD và 1,2992 USD đổi 1 bảng Anh.
Đêm qua, đồng USD trên thị trường quốc tế chùng xuống trước những diễn biến bất ngờ trong quan hệ Mỹ với các đồng minh, trong khi đồng euro giảm mạnh.
Đồng bạc xanh chùng lại chủ yếu do giới đầu tư lo ngại về triển vọng của nước Mỹ khi mà cuộc chiến với Trung Quốc có thể kéo dài, trong khi đồng minh Saudi Arabia vướng vào một vụ việc tai tiếng ở Trung Đông, còn Nhật Bản có những tính toán kinh tế với Trung Quốc.
Hôm 23/10, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan phát biểu trên truyền hình khẳng định có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy việc sát hại nhà báo người Mỹ gốc Saudi Arabia Khashoggi của tờ WashingtonPost đã được lên kế hoạch từ trước và ông ta đã bị giết “một cách dã man”.
Ông Erdogan cũng cho biết sẽ không “giữ im lặng” về vụ giết người này. Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ thậm chí tỏ ra nghi ngờ sự chân thành từ vua Salman của Saudi Arabia. Ông Erdogan cũng cho biết, thi thể Khashoggi chưa được tìm thấy.
Mỹ và các quốc gia phương Tây đang cố gắng truy tận gốc về vụ việc.
Vụ việc khiến Mỹ rơi vào tình thế khó khăn bởi Saudi Arabia là đối tác chiến lược của Mỹ tại khu vực Trung Đông, nhằm cân bằng với Iran. Saudi Arabia cũng là một khách hàng lớn mua vũ khí của Mỹ.
Những lo ngại về tác động tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung tới kinh tế toàn cầu, trong đó có cả Trung Quốc và Mỹ cũng đã khiến đồng USD không còn hấp dẫn như trước.
Kết quả một cuộc khảo sát do hãng Reuters tiến hành cho thấy chiến tranh thương mại giữa Mỹ-Trung Quốc và sự thắt chặt các điều kiện tài chính sẽ “phủ mây đen” lên triển vọng kinh tế toàn cầu năm 2019.
Đồng USD hiện đang chịu áp lực giảm do giới đầu tư đã nhận thấy sự lo ngại của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed). Một số ý trong biên bản cho thấy Fed thận về những nguy cơ tiềm tàng đe dọa nền kinh tế thế giới.
Giá bitcoin hôm nay ghi nhận vào thời điểm 5h55 là 6.432,25 USD, giảm 0,25% so với 24 giờ trước đó, theo chỉ số giá bitcoin của CoinDesk.
Trên thị trường, có gần 60% số đồng tiền trong nhóm 100 đồng tiền hàng đầu giảm giá so với 24 giờ trước
Trong top 10, có đến 6/10 đồng tiền giảm giá so với hôm qua.
Ethereum giảm 0,05% còn 204,13 USD. Ripple tăng 2,06% so với 24 giờ trước, ghi nhận giá trị ở mức 0,4627 USD. Bitcoin cash giảm 1,44% còn 441,39 USD. Tăng nhiều nhất trong top 10 là monero với tỉ lệ tăng trưởng trong 24 giờ qua là 2,74%. Giảm nhiều nhất là cardano với mức giảm 1,88%.
Tổng giá trị thị trường ghi nhận vào thời điểm 6h17 sáng nay là 209,29 tỉ USD, giảm 0,1 tỉ USD so với 24 giờ trước. Trong ngày, giá trị thị trường thấp nhất ghi nhận được là 207,56 tỉ USD vào lúc 18h07.
Khối lượng giao dịch 24 giờ của thị trường ghi nhận được ở mức 10,53 tỉ USD, giảm 1,14% so với 24 giờ trước.

Hương Nguyễn

Vinanet

Sản lượng điện tăng hơn 10,5% trong 9 tháng đầu năm

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 163,5 tỷ kWh, tăng 10,54% so với cùng kỳ năm 2017.

Sản lượng điện tăng hơn 10,5% trong 9 tháng đầu năm

EVN cho biết, trong 9 tháng đầu năm, EVN đã đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của cả nước và sinh hoạt của nhân dân. Công tác điều hành sản xuất, kinh doanh điện năng đã bám sát diễn biến tình hình cấp khí, than và thời tiết, thuỷ văn cũng như nhu cầu phụ tải điện từng tuần, từng tháng.
Sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống tháng 9 đạt 18,4 tỷ kWh (trung bình 614,8 tr. kWh/ngày); lũy kế 9 tháng đầu năm đạt 163,5 tỷ kWh, tăng 10,54% so với cùng kỳ năm 2017.
Bên cạnh đó, sản lượng điện thương phẩm toàn EVN lũy kế 9 tháng ước đạt 143 tỷ kWh, tăng 10,13% so cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng điện thương phẩm nội địa tăng 10,21%.
Đặc biệt, các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện của các đơn vị tiếp tục cải thiện so với cùng kỳ năm trước. Tính chung toàn tập đoàn, trong 9 tháng đầu năm, tổng thời gian mất điện khách hàng bình quân (SAIDI) là 543,28 phút (giảm 23,62%).
Trong công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng, các tổng công ty điện lực đã cung cấp dịch vụ điện qua trung tâm hành chính công hoặc trên Cổng thông tin dịch vụ công trực tuyến tại 57/63 tỉnh, thành phố.
Các tổng công ty điện lực đã thực hiện tốt công tác dịch vụ khách hàng, trong đó thời gian giải quyết các thủ tục cấp điện lưới trung áp của ngành điện bình quân trong 8 tháng là 4,39 ngày, thấp hơn 2,61 ngày so với quy định của tập đoàn.

Nguồn:Tố Uyên/Thời báo Tài chính Việt Nam

Hương Nguyễn

Vinanet

Hàng hóa TG sáng 26/10/2018: Giá hồi phục theo thị trường chứng khoán

Phiên 25/10/2018 trên thị trường thế giới (kết thúc vào rạng sáng 26/10/2018 giờ VN), giá dầu tăng trở lại, vàng giảm trong khi cà phê biến động thất thường.

Hàng hóa TG sáng 26/10/2018: Giá hồi phục theo thị trường chứng khoán

Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô tăng trở lại sau khi chứng khoán phố Wall tăng điểm và Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia nói bóng gió về việc các nhà sản xuất dầu chủ chốt có thể ngừng can thiệp vào thị trường năng lượng toàn cầu.
Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ (WTI) tăng 51 US cent lên 67,33 USD/thùng; dầu Brent Biển Bắc tăng 72 US cent lên 76,89 USD/thùng.
Chứng khoán phố Wall phục hồi trở lại sau khi giảm mạnh nhất kể từ năm 2011 ở phiên trước đó, giữa bối cảnh báo cáo lợi nhuận doanh nghiệp Mỹ quý 3/2018 đạt kết quả khả quan.
Trong khi dó, Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia, Khalid Al-Falih, phát biểu rằng có thể không cần can thiệp để giảm lượng tồn trữ dầu sau khi giá tăng những tháng gần đây.
Theo một quan chức của Saudi Arabia tại OPEC, thị trường dầu mỏ thế giới có thể phải đối mặt với tình trạng dư thừa nguồn cung trong quý 4/2018, giữa bối cảnh các thị trường tài chính đang gặp khó bởi nhiều mối lo như cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, sự bất ổn của các thị trường tiền tệ mới nổi, lãi suất cho vay và lợi suất trái phiếu tăng, cùng với những vấn đề ngân sách của Italia.
Giá than tăng do nhu cầu mạnh. Tại Trung Quốc, than cốc giao dịch trên sàn Đại Liên đã tăng 2,2% trong phiên vừa qua lên 2.495 CNY/tấn , trong khi than luyện cốc tăng 2,3% lên 1.410 CNY/tấn. Nhu cầu mạnh từ lĩnh vực luyện thép đang hỗ trợ giá mặt hàng này tăng nhanh.
Tại Ấn Độ, nhu cầu than cũng đang ở mức cao. Nhập khẩu than nhiệt vào Ấn Độ quý 3/2018 tăng nhanh nhất trong vòng 3,5 năm do nhu cầu tăng trong khi hạ tầng cơ sở trong nước bị tắc nghẽn. Trong quý 3 năm nay, Ấn Độ đã nhập khẩu 42,7 triệu tấn than nhiệt, tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung trong 9 tháng đầu năm, nhập khẩu đạt 124,6 triệu tấn, tăng 20%.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do đồng USD mạnh và thị trường chứng khoán Mỹ phục hồi sau nhiều ngày lao dốc.
Giá vàng giao ngay giảm 0,3% xuống còn 1.229,43 USD/ounce, đầu phiên có lúc đạt 1.239,22 USD/ounce, gần sát mức cao nhất 3 tháng; vàng giao sau tiếp tục tăng thêm 1,3 USD tương đương 0,11% lên 1.232,40 USD/ounce.
Phố Wall nối gót chứng khoán châu Âu đi lên trong phiên ngày 25/10, một ngày sau khi chứng khoán Mỹ trải qua phiên giao dịch tồi tệ nhất kể từ năm 2011. Chỉ số Dow Jones chấm dứt chuỗi giảm ba phiên liên tiếp trong khi S&P500 xanh phiên đầu tiên trong 7 phiên nhờ nhóm tiêu dùng và công nghệ. Tuy nhiên, chứng khoán châu Á đóng cửa phiên vừa qua vẫn trong sắc đó, với chỉ số Nikkei thấp nhất trong vòng 7 tháng.
Chiến lược gia thị trường của công ty RJO Futures, Bob Haberkorn, nhận định rằng vàng sẽ không thể duy trì được đà khởi sắc, mà thay vào đó, các nhà đầu tư tìm kiếm sự an toàn sẽ lựa chọn trái phiếu chính phủ.
Chỉ số đồng USD đo sức mạnh của “đồng bạc xanh” so với rổ các đồng tiền chủ chốt, đã chạm mức cao nhất trong hai tháng. Đồng USD mạnh sẽ khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác. Chính phủ Mỹ cho biết số người Mỹ nhận trợ cấp thất nghiệp đã giảm xuống gần mức thấp nhất trong 45 năm, một dấu hiệu cho thấy tình hình thắt chặt trên thị trường lao động. Điều này có thể sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lộ trình nâng lãi suất một lần nữa vào tháng 12 tới. Triển vọng lãi suất tăng có tác động tiêu cực đối với vàng vì nó làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ kim loại quý không sinh lời này.
Về những kim loại quý khác, giá bạc và giá bạch kim đều giảm 0,1% xuống lần lượt là 14,62 USD/ounce và 826,60 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá quặng sắt tăng phiên thứ 4 liên tiếp. Trên sàn Đại Liên, quặng sắt tăng 1% lên 533 CNY/tấn, cao nhất kể từ 7/3/2018. “Tình trạng khan hiếm quặng năm nay chắc chắn sẽ còn tiếp diễn trong ngắn hạn. Các biện pháp cải cách nguồn cung của Trung Quốc sẽ giữ nhu cầu quặng chất lượng cao ở mức cao”, ngân hàng ANZ nhận định. Theo ANZ, chiến dịch cải tổ ngành công nghiệp nặng của Trung Quốc có thể làm cho công suất sản xuất thép thô của nước này giảm 16 triệu tấn trong quý 4/2018 và quý 1/2019 so với cùng kỳ năm trước.
Giá thép xây dựng tại Trung Quốc tăng phiên thứ 4 liên tiếp trong bối cảnh nhu cầu vững và tồn trữ giảm. Không giống như kim loại cơ bản, thị trường thép đang miễn nhiễm với việc chứng khoán toàn cầu cũng như giá các kim loại cơ bản trong phiên liền trước cùng sụt giảm.
Thép cây kỳ hạn giao tháng 1/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 0,8% lên 4.192 CNY (503,54 USD)/tấn, cao nhất kể từ 10/9/2018, trong khi thép cuộn cán nóng tăng 1,4% lên 3.914 CNY/tấn.
Các yếu tố cơ bản đang rất có lợi cho xu hướng giá tăng. Tồn trữ các sản phẩm thép của các thương gia Trung Quốc giảm 370.000 tấn xuống 10,3 triệu tấn trong tuần tới 19/10/2018.
Giá thép giao ngay đang cao hơn khoảng 600 1 so với các hợp đồng kỳ hạn, và tiêu chuẩn quốc gia (mới) đối với mặt hàng thép cây – sẽ được đưa ra vào ngày 1/11/2018 – sẽ đẩy chi phí tăng thêm 200 CNY/tấn.
Theo Hiệp hội Thép Thế giới (worldsteel), sản lượng thép thô toàn cầu trong tháng 9 tăng 4,4% so với cùng kì năm ngoái lên 151,7 triệu tấn. Lũy kế đến tháng 9, sản lượng thép toàn cầu tăng 4,7% so với cùng kì năm 2017 lên 1.347 triệu tấn. Trong đó, châu Á sản xuất 946,8 triệu tấn thép thô, tăng 5,5% so với năm 2017; sản lượng thép thô của Liên minh châu Âu (EU) tăng 1,3% lên 128 triệu tấn.
Sản lượng thép thô của Bắc Mỹ tăng 3,4% lên 89,7 triệu tấn trong 9 tháng đầu năm; còn Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS) sản xuất 76,2 triệu tấn thép thô, tăng 1,8%.Trung Quốc vẫn là quốc gia sản xuất thép số một thế giới với 80,8 triệu tấn trong tháng 9, tăng 7,5% so với cùng kì năm ngoái và 0,6% so với tháng 8. Đóng góp của Trung Quốc đối với sản lượng thép toàn cầu tăng 0,4 điểm phần trăm so vơi tháng 8 lên 53,3%. Trong khi đó, Nhật Bản sản xuất 8,4 triệu tấn thép thô trong tháng 9, giảm 2,4% so với cùng kì năm ngoái. Tại EU, sản lượng thép thô tháng 9 của Pháp tăng 1,4% so với năm ngoái lên 1,3 triệu tấn. Sản xuất thép tho tại Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ lần lượt tăng 5,1% và 5,9% lên 1,3 triệu tấn và 21,8 triệu tấn. Trái lại, Italy giảm sản lượng thép thô 0,8% xuống 2,2 triệu tấn. Sản xuất thép thô tại Mỹ tăng 9% lên 7,3 triệu tấn trong tháng 9; tại Bazil tăng 2,5% lên 3 triệu tấn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê biến động trái chiều giữa 2 thị trường chủ chốt. Arabica giao tháng 12/2018 tăng 0,9 US cent tương đương 0,8% lên 1,2115 USD/lb vào cuối phiên, trước đó có lúc đạt 1,231 USD, nhờ hoạt động mua mạnh trong bối cảnh đồng real Brazil mạnh lên. Như vậy, kể từ giữa tháng 9 (khi giá xuống thấp nhất 12,2 năm) tới nay, arabica đã tăng khoảng 30%.
Tuy nhiên, robusta giao tháng 1 năm sau đã giảm 10 USD tương đương 0,6% trong phiên vừa qua, xuống 1.707 USD/tấn, mặc dù có tin xuất khẩu cà phê Ấn Độ có thể giảm 8% xuống 230.000 tấn trong năm 2019 do sản lượng dự báo thấp nhất 5 năm vì lũ lụt ở những bang trồng cà phê chủ chốt.
Trên thị trường châu Á, giá tại Việt Nam tăng trái chiều với giá quốc tế, trong khi mức cộng của cà phê Indonesia vững do nguồn cung thấp vì cuối vụ thu hoạch.
Cà phê loại 2 (5% đen & vỡ) của Việt Nam hiện giá trừ lùi 70 – 90 USD/tấn so với hợp đồng giao tháng 1/2019 trên sàn London, so với mức trừ lùi 60- 70 USD/tấn cách đây một tuần. Cà phê nhân xô tại Tây Nguyên giá cũng giảm từ 38.000 – 38.500 đồng xuống 36.800-37.000 đồng. Mặc dù giá giảm và cuối vụ thu hoạch nhưng nông dân vẫn bán hàng ra.
Tại Indonesia, cà phê robusta loại 4 (80 hạt lỗi) vững ở cộng 0-20 USD/tấn so với hợp đồng giao tháng 1/2019 trên sàn London.
Giá lúa mì trên sàn Chicago đã giảm hơn 2% xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1/2018 do nhu cầu lúa mì Mỹ xuất khẩu thấp và USD mạnh lên. Hợp đồng kỳ hạn tháng 12 giảm 12-1/4 US cent xuống 4,87-1/4 USD/bushel vào cuối phiên, trước đó có lúc chỉ 4,85-1/2 USD, thấp nhất kể từ 24/1/2018. Trên thế giới, Ủy ban Ngũ cốc Quốc tế (IGC) vừa nâng dự báo vê sản lượng lúa mì toàn cầu niên vụ 2018/19 lên 728,8 triệu tấn từ mức 716,7 triệu tấn dự báo trước đây, trong đó sản lượng của Trung Quốc được dự báo sẽ đạt 134,7 triệu tấn (cao hơn mức 122,5 triệu tấn dự báo trước đây), của Liên minh châu Âu, Nga và Algeria cũng được điều chỉnh tăng, song của Argentina và Australia bị hạ xuống.
Ngô và đậu tương cũng giảm trong phiên vừa qua bởi số liệu cho thấy xuất khẩu của Mỹ tuần qua thấp trong khi vụ mùa phát triển thuận lợi. Ngô giao tháng 12 trên sàn Chicago giảm 7-1/4 US cent xuống 3,61 USD/bushel vào cuối phiên sau khi có lúc chạm mức thấp nhất 2 tuần là 3,60-1/2 USD; đậu tương giao tháng 11 giảm 8-1/2 US cent xuống 8,41-3/4 USD/bushel sau khi có lúc cũng thấp nhất 1 tháng là 8,40 USD.
Trên thế giới, yếu tố cơ bản đối với ngô và đậu tương vẫn khá tích cực. IGC dự báo sản lượng ngô thế giới niên vụ 2018/19 sẽ đạt 1,074 tỷ tấn, còn đậu tương đạt 369 triệu tấn (so với 370 triệu tấn dự báo trước đây). Theo IGC, tiêu thụ các ngũ cốc này trong các ngành thức ăn chăn nuôi, thực phẩm cũng như công nghiệp sẽ vẫn tiếp tục xu hướng tăng.
Giá cao su trên sàn Tokyo đã giảm phiên thứ 3 liên tiếp do các nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường hàng hóa khi thấy sắc đỏ vẫn bao trùm thị trường chứng khoán toàn cầu, kể cả chứng khoán Nhật Bản. Giới đầu tư ngày càng lo ngại kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại.
Cao su giao tháng 3 năm sau trên sàn Tokyo đã giảm 1,8 JPY tương đương 1,1% xuống 165 JPY (1,47 USD)/kg vào cuối phiên, trong ngày có lúc chỉ 163 JPY, thấp nhất kể từ 3/10/2016.
Trên sàn Thượng Hải, hợp đồng giao tháng 1 năm sau cũng giảm 130 CNY xuống 11.785 CNY (1.697 USD)/tấn vào cuối ngày, sau khi có lúc chạm 11.535 CNY, thấp nhất kể từ 3/8/2018.
Giá hàng hóa thế giới

 

Mặt hàngĐVTGiá+/-+/- (%)
Dầu thô WTIUSD/thùng67,33+0,51 
Dầu BrentUSD/thùng76,89+0,72+0,95%
Dầu thô TOCOMJPY/kl52.020,00+780,00+1,52%
Khí thiên nhiênUSD/mBtu3,18-0,02-0,78%
Xăng RBOB FUTUS cent/gallon180,51-0,78-0,43%
Dầu đốtUS cent/gallon227,25-0,56-0,25%
Dầu khíUSD/tấn699,25+5,50+0,79%
Dầu lửa TOCOMJPY/kl67.900,00+770,00+1,15%
Vàng New YorkUSD/ounce1,236.80+5.70+0.46%
Vàng TOCOMJPY/g1.234,00+1,60+0,13%
Bạc New YorkUSD/ounce14,66+0,03+0,21%
Bạc TOCOMJPY/g52,80-0,40-0,75%
Bạch kimUSD/ounce827,85+0,41+0,05%
PalađiUSD/ounce1.104,66+0,43+0,04%
Đồng New YorkUS cent/lb275,30-0,15-0,05%
Đồng LMEUSD/tấn6.226,00+47,00+0,76%
Nhôm LMEUSD/tấn1.994,00-3,00-0,15%
Kẽm LMEUSD/tấn2.637,00-26,00-0,98%
Thiếc LMEUSD/tấn19.325,00+50,00+0,26%
NgôUS cent/bushel361,00-7,25-1,97%
Lúa mì CBOTUS cent/bushel487,25-12,25-2,45%
Lúa mạchUS cent/bushel285,75-6,00-2,06%
Gạo thôUSD/cwt10,98-0,08-0,72%
Đậu tươngUS cent/bushel854,50-9,00-1,04%
Khô đậu tươngUSD/tấn304,30-1,80-0,59%
Dầu đậu tươngUS cent/lb28,39-0,22-0,77%
Hạt cải WCECAD/tấn491,10+0,10+0,02%
Cacao MỹUSD/tấn2.209,00+72,00+3,37%
Cà phê MỹUS cent/lb121,15+0,90+0,75%
Đường thôUS cent/lb13,97-0,04-0,29%
Nước cam cô đặc đông lạnhUS cent/lb139,15-0,90-0,64%
BôngUS cent/lb77,68+0,61+0,79%
Lông cừu (SFE)US cent/kg
Gỗ xẻUSD/1000 board feet305,70+2,70+0,89%
Cao su TOCOMJPY/kg165,50+0,50+0,30%
Ethanol CMEUSD/gallon1,28-0,02-1,24%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg        

Thu Hải

OPEC và các đồng minh có thể cần thay đổi hướng chính sách do tồn kho dầu tăng

OPEC cho biết họ có thể phải trở lại cắt giảm sản lượng dầu do dự trữ dầu toàn cầu tăng, điều này có thể tiếp tục làm xấu đi mối quan hệ với Tổng thống Mỹ Donald Trump.OPEC và các đồng minh có thể cần thay đổi hướng chính sách do tồn kho dầu tăng

Tổng thống Mỹ liên tục nhắc lại chỉ trích OPEC, cho biết họ không cung cấp đủ dầu. OPEC với Nga và các đồng minh khác ngoài OPEC đã đồng ý bơm thêm trong tháng 6/2018.
Hội đồng Bộ trưởng trong và ngoài OPEC kết luận rằng nguồn cung rất thoải mái so với nhu cầu và cảnh báo các nhà sản xuất có thể cần thay đổi hướng chính sách vì dự trữ đang tăng và tình trạng không rõ ràng trong kinh tế.
OPEC cho biết “tuy nhiên ủy ban này đã bày tỏ những lo ngại về dự trữ ngày càng tăng trong những tuần gần đây và cũng lưu ý những bất ổn kinh tế vĩ mô đang hiện ra có thể đỏi hỏi thay đổi hướng chính sách”.
Dầu thô Brent, chuẩn toàn cầu, đã mất khoảng 10 USD/thùng kể từ khi đạt mức cao nhất 4 năm trong ngày 3/10/2018 tại 86,74 USD/thùng, do dấu hiệu nguồn cung dồi dào ngay cả khi các lệnh trừng phạt của Mỹ với Iran nhằm cắt giảm xuất khẩu dầu mỏ của nước này sắp diễn ra.
Hiện nay, các nhà sản xuất đang thực hiện tăng sản lượng phù hợp với thỏa thuận hồi tháng 6/2018. OPEC và các đối tác của họ đã đồng ý nâng sản lượng dầu trong tháng 6/2018 theo đó mức tuân thủ theo thỏa thuận giảm sản lượng kể từ tháng 1/2017 giảm xuống 100% từ gần 150% vì sự sụt giảm sản xuất tại một số nước.
Trong tháng 9/2018 các nước đã tuân thủ 111% cam kết hạn chế nguồn cung, nghĩa là sản lượng tăng so với tháng 8/2018 khi mức tuân thủ là 129%.
Hội đồng được gọi là Ủy ban Giám sát liên bộ có thể đưa ra các khuyến nghị nhưng không thiết lập chính sách. OPEC và các đồng minh của họ tổ chức cuộc họp chính sách tới trong tháng 12/2018.
Các nhà dự báo, gồm Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), dự kiến tăng trưởng nhu cầu dầu mỏ toàn cầu chậm lại trong năm tới và nguồn cung đang tăng từ bên ngoài OPEC có thể tiếp tục tăng tồn kho nếu OPEC giữ sản lượng ở mức hiện nay.
Hội đồng bộ trưởng đã yêu cầu tổ chức kỹ thuật của họ, gọi là Ủy ban Kỹ thuật chung tiếp tục nghiên cứu triển vọng năm 2019 và đưa ra lựa chọn về mức sản lượng năm 2019 để ngăn cản việc mất cân bằng trong thị trường”
Trước đó, nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới Saudi Arabia cho biết thị trường dầu mỏ có thể dư cung trong quý 4/2018 do dự trữ tăng và nhu cầu chậm lại.
Đại diện của Saudi Arabia ở OPEC, ông Adeeb Al-Aama đã trả lời Reuters rằng “chúng tôi có quan điểm rằng thị trường trong quý 3/2018 có thể chuyển thành dư cung do những bằng chứng dự trữ ngày càng tăng trong vài tuần qua”. Đại diện ở OPEC thường là một trong những vị trí cao cấp nhất trong phái đoàn của một nước ở OPEC sau Bộ trưởng Năng lượng.
Nguồn: VITIC/Reuters

H. Lan

Vinanet

Những “điểm sáng” doanh nghiệp ngành than

Tính đến hiện tại, ngoại trừ CTCP Than Mông Dương (MDC), 7 doanh nghiệp niêm yết ngành than còn lại đã công bố kết quả kinh doanh quý III/2018 với bức tranh chung sáng sủa.

Những “điểm sáng” doanh nghiệp ngành than

Hầu hết doanh nghiệp niêm yết ngành than có kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2018 tích cực.

5 doanh nghiệp vượt kế hoạch cả năm sau 9 tháng

Theo Báo cáo tài chính quý III/2018 của CTCP Than Hà Tu – Vinacomin (THT), doanh thu thuần đạt 556 tỷ đồng, tăng 42% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt 6,7 tỷ đồng, tăng gấp 7 lần cùng kỳ.

ảnh 1

Theo THT, lợi nhuận trong kỳ tăng đột biến là do tiêu thụ than có chất lượng tốt hơn so với cùng kỳ, trong đó than sản xuất tăng 107,2% và than tiêu thụ tăng 130,4%.

Lũy kế 9 tháng đầu năm, doanh thu thuần của THT đạt 2.129,6 tỷ đồng, tăng 14% và lợi nhuận trước thuế đạt 26,8 tỷ đồng, gấp 2,4 lần cùng kỳ và vượt 32% kế hoạch lợi nhuận cả năm; lợi nhuận sau thuế đạt 21,4 tỷ đồng, gấp 2,5 lần cùng kỳ.

CTCP Than Núi Béo – Vinacomin (NBC) cho biết, doanh thu thuần trong quý III/2018 đạt 446 tỷ đồng, tăng 48% so với cùng kỳ, giúp lợi nhuận sau thuế trong kỳ mạnh 56%, đạt 9,5 tỷ đồng, bất chấp giá vốn hàng bán tăng 55% lên 374 tỷ đồng.

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2018, doanh thu thuần của NBC đạt 1.552 tỷ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ; lợi nhuận trước thuế đạt 39,7 tỷ đồng, tăng 46% và hoàn thành vượt 34% chỉ tiêu lợi nhuận cả năm; lợi nhuận sau thuế đạt gần 31,7 tỷ đồng, cũng tăng 45% so với cùng kỳ.

Theo giải trình của NBC, nguyên nhân lợi nhuận tăng là do Công ty tổ chức sản xuất than chất lượng tốt, sản lượng tiêu thụ tăng cao (đạt 82,3% kế hoạch năm).

Cũng nhờ chất lượng khai thác than tốt, tăng sản lượng tiêu thụ, kết thúc quý III/2018, CTCP Than Hà Lầm – Vinacomin (HLC) báo lãi sau thuế 16,4 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ lỗ 4,98 tỷ đồng.

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2018, lãi trước thuế của HLC đạt 39,37 tỷ đồng, tăng 68% so với cùng kỳ và vượt 11% chỉ tiêu lợi nhuận cả năm; lợi nhuận sau thuế đạt 31,5 tỷ đồng, tăng 79%. Doanh thu thuần 9 tháng đạt 2.275 tỷ đồng, tăng 6% cùng kỳ và hoàn thành 85% kế hoạch năm.

Tại CTCP Than Vàng Danh – Vinacomin (TVD), trong quý III/2018, doanh thu thuần đạt 1.162 tỷ đồng, tăng gấp đôi cùng kỳ, nhưng do giá vốn hàng bán cũng tăng tương ứng (2,3 lần) và các chi phí tăng cao (chi phí tài chính tăng 19%, chi phí bán hàng tăng 61%…) nên lợi nhuận sau thuế chỉ tăng 8%, đạt 8,2 tỷ đồng.

Lũy kế 9 tháng đầu năm, doanh thu thuần của TVD đạt 3.166 tỷ đồng, tăng 63% so với cùng kỳ; lợi nhuận sau thuế đạt 40,3 tỷ đồng, tăng 191% và vượt 23% chỉ tiêu lợi nhuận cả năm.

Khác với các doanh nghiệp trên, CTCP Than Đèo Nai – Vinacomin (TDN) ghi nhận lỗ sau thuế hơn 7,3 tỷ đồng trong quý III/2010, tăng gần 2,43 lần mức lỗ của cùng kỳ năm trước (3 tỷ đồng).

Tuy nhiên, nhờ kết quả tích cực trong nửa đầu năm nên lũy kế 9 tháng, TDN đạt doanh thu thuần 2.027 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ và hoàn thành 83% kế hoạch cả năm; lợi nhuận trước thuế đạt 38,4 tỷ đồng, tăng đột biến so với mức lãi hơn 1,1 tỷ đồng của cùng kỳ và vượt 64% chỉ tiêu lợi nhuận cả năm đã đặt ra.

Liên quan đến việc vượt kế hoạch lợi nhuận cả năm chỉ sau 9 tháng của các doanh nghiệp trên, ngoài việc đẩy mạnh khai thác than chất lượng tốt và tăng sản lượng tiêu thụ, còn do doanh nghiệp đặt kế hoạch lợi nhuận thấp từ đầu năm.

Thống kê cho thấy, chỉ có NBC và TDN đặt mục tiêu lợi nhuận 2018 tăng so với năm 2017, nhưng mức tăng không nhiều, trong khi TCS ở mức tương đương, còn lại đều thấp hơn năm 2017.

Nhiều chỉ tiêu tài chính chưa cải thiện

NBC và HLC có tỷ suất biên lợi nhuận gộp cao nhất, lần lượt là 16,03% và 14,49%, vượt trội so với các doanh nghiệp còn lại. Điều này cho thấy quá trình khai thác khá hiệu quả tại mỏ Núi Béo và Hà Lầm, cũng như mức tiết giảm chi phí tốt nhất của 2 doanh nghiệp này.

ảnh 2

 Một số chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp.

Với lợi nhuận cao, thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) của các doanh nghiệp đều trên 1.000 đồng, trong đó EPS của HLC đạt 2.995 đồng, cao nhất ngành, tiếp đó là NBC (2.391 đồng), THT (1.666 đồng)…

Tuy nhiên, tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp than không mấy tích cực, HLC ở mức cao nhất cũng chỉ là 5,46%. Tương tự, tỷ lệ sinh lời trên tài sản (ROA) đều dưới 1%, trong đó THT có ROA tốt nhất là 0,75%.

Về cơ cấu tài sản, HLC có quy mô lớn nhất với tổng tài sản là xấp xỉ 3.880 tỷ đồng tính đến 30/92018, giảm so với con số 4.047 hồi đầu năm. THT có quy mô tài sản thấp nhất, đạt gần 868 tỷ đồng, tăng so với mức 718 tỷ đồng của đầu năm.

Các doanh nghiệp ngành than đều có tỷ trọng nợ/tổng tài sản cao. Trong đó, HLC có tỷ trọng nợ cao nhất gần 92% tổng tài sản, THT có tỷ trọng nợ thấp nhất cũng hơn 67% tổng tài sản. Cùng với đó là chỉ số khả năng thanh toán ngắn hạn thấp, đều dưới 1 lần.

Tuy doanh thu, lợi nhuận ghi nhận sự tích cực, nhưng nhiều chỉ số tài chính quan trọng khác của doanh nghiệp niêm yết ngành than chưa cải thiện. Đây là một trong những lý do khiến hầu hết cổ phiếu than kém hấp dẫn nhà đầu tư.

Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp than không mấy tích cực, HLC ở mức cao nhất cũng chỉ là 5,46%. Tương tự, tỷ lệ sinh lời trên tài sản (ROA) đều dưới 1%, trong đó THT có ROA tốt nhất là 0,75%.

Hiện tại, tất cả các cổ phiếu than niêm yết đều có giá dưới mệnh giá (10.000 đồng/CP), diễn biến giá phân hóa. Cổ phiếu thị giá cao nhất là THT đạt mức giá 7.300 đồng (chốt phiên 24/10). Tính từ đầu năm, sau khi lình xình quanh mức giá 5.8.00 đồng/CP trong nửa đầu năm, THT đã bứt lên kể từ tháng 6/2018, đến nay tăng khoảng 26%.

Cũng có được mức tăng giá tương tự là TVD (từ 4.800 đồng/CP lên 5.400 đồng/CP), TCS (từ 4.500 đồng/CP lên 5.000 đồng/CP); TC6 ((từ 4.500 đồng/CP lên 5.500 đồng/CP)…

Ngược lại, các cổ phiếu HLC, TDN, NBC trong xu hướng giảm. Về thanh khoản, NBC, THT và TC6 có thanh khoản tốt hơn các cổ phiếu khác cùng ngành.

Do ảnh hưởng của yếu tố thời tiết, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết ngành than thường gặp khó khăn trong quý cuối năm.

Tuy nhiên, với kết quả kinh doanh quý III tích cực, kỳ vọng bức tranh kinh doanh cả năm của các doanh nghiệp này vẫn duy trị được gam màu sáng, giúp cải thiện sức hút đối với nhà đầu tư.

Trí Anh

Giá vàng hôm nay (26/10): SJC giảm 10.000 đồng/lượng

Ghi nhận lúc 9g10 sáng nay, giá vàng thế giới và nội địa đều giảm nhẹ.

Sáng nay, giá vàng SJC trên thị trường Hà Nội và Đà Nẵng được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết ở mức 36,45 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,61 triệu đồng/lượng (bán ra), tại TP.HCM dao động ở mức 36,45-36,59 61 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra). So với phiên giao dịch hôm qua (25/10), mức giá trên 3 thị trường này đã giảm 10.000 đồng/lượng.

Tại Hà Nội và Đà Nẵng, vàng nữ trang 99,99 của Tập đoàn Doji điều chỉnh giảm 20.000 đồng/lượng so với giá chốt phiên trước, ở ngưỡng 34,64-35,34 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra). Tại TP.HCM, giá của thương hiệu này giảm thêm 10.000 đồng so với 2 thị trường vàng trên: 34,73 triệu đồng/lượng (mua vào) và  35,43 triệu đồng/lượng (bán ra).

Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng rồng Thăng Long 999,9 theo chiều mua vào là 35,06 triệu đồng/lượng và chiều bán ra là 35,51 triệu đồng/lượng. Mức giá này đã giảm 20.000 đồng/lượng mỗi chiều so với chốt phiên trước.

Vào lúc 8g15 sáng nay, giá vàng thế giới trên sàn Kitco giảm sâu khoảng 1,4 USD/ounce. Tuy nhiên, hiện vàng đang có dấu hiệu nhấp nhổm leo dốc. Tính đến thời điểm 9g10 sáng cùng ngày, giá vàng đã tăng 1 USD (tức giảm 0,4 USD so với phiên giao dịch hôm qua), ở mức 1231,20-1232,20 USD/ounce. Hiện giá vàng thấp hơn 3,6% (46 USD/ounce) so với cuối năm 2017.

Chỉ số đô la Mỹ tiếp tục tăng, ở mức cao nhất trong 9 tuần đã kìm hãm sức hút của giá vàng.

Theo Doji, đà tăng của giá vàng thế giới trong 2 phiên đầu tuần tạo hiệu ứng khá tốt đối với thị trường vàng trong nước. Nhu cầu trao đổi mua bán vàng được nhiều nhà đầu tư quan tâm, trong đó xu hướng theo chiều khách mua vàng vào chiếm phần lớn ưu thế.

Giá vàng cao hơn một chút bởi những bất ổn về kinh tế và chính trị xảy ra trong thời gian gần đây khiến giới đầu tư tìm đến vàng như một kênh trú ẩn an toàn.

Theo ông John Sharma, chuyên gia kinh tế của ngân hàng National Australia Bank (NAB), vàng đang hưởng lợi sau khi thị trường chứng khoán toàn cầu giảm điểm và tâm lý né tránh rủi ro của giới đầu tư. Họ lo ngại căng thẳng của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung tiếp tục leo thang, vấn đề ngân sách của Chính phủ Ý, những bất ổn liên quan đến Brexit và áp lực đang gia tăng đối với Saudi Arabia sau khi nhà báo Jamal Khashoggi bất ngờ mất tích.

Vàng được định giá bằng đồng USD và là phương án đầu tư thay thế vào các thời điểm bất ổn về tài chính và chính trị như vậy. Dù đồng USD vẫn được xem là một đồng tiền trú ẩn an toàn nhưng sự sa sút của chứng khoán Mỹ đã làm giảm sức hấp dẫn của đồng “bạc xanh”.

HOÀI AN

Giá dầu WTI đi lên nhờ dự trữ xăng dầu của Mỹ giảm sâu

 Giá dầu ngọt nhẹ WTI của Mỹ phục hồi nhẹ trong ngày 24/10 nhờ dự trữ xăng dầu của nước này sụt giảm hơn so với dự báo.

Giá dầu thô giảm hơn 4% sau khi Ả Rập Saudi cam kết giữ ổn định nguồn cung
Giá dầu diễn biến trái chiều trong phiên 24/10 trong bối cảnh Ả Rập Saudi cam kết giữ nguồn cung dầu toàn cầu ổn định sau thời điểm Mỹ chính thức áp lệnh trừng phạt đối với ngành dầu mỏ của Iran.
Cụ thể, giá dầu WTI của Mỹ khởi sắc trong phiên phục hồi nhẹ từ đà sụt giảm trong phiên trước đó, khi dự trữ xăng nội địa giảm mạnh, thấp hơn gấp 3 lần so với dự báo. Đà sụt giảm của nguồn cung xăng đã lấn át áp lực từ đà tăng 5 tuần liên tiếp của dự trữ dầu thô tại Mỹ.

Giá dầu WTI và dầu Brent đã sụt hơn 4% trong phiên trước đó, trong đó dầu WTI giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 2 tháng do lo ngại về tăng trưởng kinh tế toàn cầu và kỳ vọng nguồn cung vẫn dồi dào trong ngắn hạn. Tuy nhiên, một số nhà phân tích dự báo giá dầu có thể phục hồi trước cuối năm nay.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) hôm 24/10 cho biết nguồn cung dầu thô nội địa tăng 6,3 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 19/10 sau khi tăng 4 tuần liên tiếp, thấp hơn dự báo vọt 9,9 triệu thùng của Viện Xăng dầu Mỹ (API). Tuy nhiên, số liệu này lại cao hơn dự báo cộng 3,3 triệu thùng từ các nhà phân tích tham gia cuộc thăm dò của Platts.
Theo báo cáo từ EIA, dự trữ xăng sụt 4,8 triệu thùng trong tuần trước, cao hơn gấp 3 lần so với dự báo giảm 1,5 triệu thùng xăng từ một cuộc thăm dò, mức thấp nhất kể từ tháng 12/2017. Dự trữ các sản phẩm chưng cất giảm 2,3 triệu thùng trong tuần trước, thấp hơn dự báo giảm 2,45 triệu thùng từ cuộc thăm dò của Platts.
Matt Smith, Giám đốc nghiên cứu hàng hóa tại ClipperData, nhận định: “Đà giảm mạnh của dự trữ xăng và các sản phẩm chưng cất đã xóa bớt tác động tiêu cực từ đà tăng 5 tuần liền của dự trữ dầu thô, ngoài ra đà sụt giảm của nguồn cung các sản phẩm xăng dầu cũng là kết quả cho thấy nhu cầu khởi sắc”.
Chốt phiên này, giá dầu ngọt nhẹ WTI tăng 39 xu Mỹ (tương đương 0,6%) lên 66,82 USD/thùng. Giá mặt hàng này dao động ở mức 66,88 USD/thùng trước khi dữ liệu nguồn cung công bố.
Trong khi đó, giá dầu Brent lại sụt 27 xu Mỹ (tương đương gần 0,4%) xuống 76,17 USD/thùng.
Theo các chuyên gia, giá dầu Brent chịu tác động từ triển vọng nguồn cung toàn cầu, khi kế hoạch gia tăng sản lượng của Ả Rập Saudi có thể giảm sức hấp dẫn của mặt hàng dầu này.
Bên cạnh đó, các nhà giao dịch vẫn duy trì lo ngại về nhu cầu tiêu thụ “vàng đen” trên toàn cầu. Hơn nữa, sự yếu đi của thị trường chứng khóa cũng làm giảm nhu cầu mua vào các tài sản như dầu mỏ.
Tariq Zahir – nhà quản lý tại Tyche Capital Advisors, nhận định: “Bức tranh tổng thể về dự trữ là tiêu cực đối với giá dầu thô. Tuy nhiên, nguồn cung xăng lại giảm mạnh hơn rất nhiều so với dự báo, mặc dù thị trường đã đi qua mùa hè với nhu cầu lái xe tăng cao và cuối mùa mưa bão khu vực Đại Tây Dương, cũng như tiến vào triển vọng cuối năm với nhu cầu suy yếu”.
NGUYỄN THU (THEO REUTERS)

Sản phẩm Organic Việt Nam khẳng định chất lượng trên thị trường quốc tế

Hiện nay, xu hướng sử dụng thực phẩm Organic đang trở thành nhu cầu tất yếu. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã tích cực đưa ra những dòng sản phẩm Organic chất lượng nhằm cung ứng cho thị trường trong nước và quốc tế.

Thị trường quốc tế – mảnh đất màu mỡ cho sản phẩm Organic Việt

Theo các nhà chuyên môn, việc doanh nghiệp Việt Nam hiện nay tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế là một xu thế bắt buộc trong thời kỳ hội nhập. Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp sẽ mở rộng được thị trường tiêu thụ và đầu tư, gia tăng lợi nhuận. Bên cạnh đó, việc đưa sản phẩm vào thị trường nước ngoài được xem là giải pháp cực kỳ quan trọng để giải quyết tình trạng tồn kho và hiện trạng cung vượt cầu đang thường xuyên tái diễn.

Để có thể cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài, chiếm vị thế trên thị trường quốc tế, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải chú trọng đến công tác nghiên cứu thị trường xuất khẩu. Bởi, chỉ khi hiểu rõ về nhu cầu, đặc điểm tâm lý, thị hiếu, lối sống và văn hóa của khách hàng, người tiêu dùng, doanh nghiệp mới có thể vận động hiệu quả để đưa ra thị trường thế giới những sản phẩm chất lượng tốt, đạt tiêu chuẩn, đáp ứng tối đa mọi nhu cầu khách hàng.

Theo các nghiên cứu, lối sống Organic hay nói cách khác là sống cân bằng, lành mạnh, hướng về thiên nhiên với tiêu chí Xanh – Sạch – Phát triển bền vững đang rất thịnh hành tại các nước châu Âu, Mỹ và lan rộng đến các nước châu Á phát triển như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản… Nắm bắt thị hiếu đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sản xuất thực phẩm, thức uống Organic tuân theo những tiêu chí, quy trình nghiêm ngặt để tìm cơ hội tham gia vào sân chơi quốc tế và khẳng định chất lượng trên những thị trường tiềm năng này.

Sản phẩm Organic Việt Nam khẳng định chất lượng trên thị trường quốc tế - Ảnh 1.

Lối sống Organic hướng về thiên nhiên với tiêu chí Xanh – Sạch – Phát triển bền vững đang rất thịnh hành

Châu Âu: “Miền đất hứa” của các doanh nghiệp Việt

Sau khi từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm Organic thương hiệu Việt sang các nước châu Á, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tiến đến chinh phục thị trường châu Âu – nơi được đánh giá là tiềm năng nhưng khó tính bậc nhất.

Theo đánh giá của các chuyên gia, châu Âu (EU) là thị trường có nhu cầu lớn về các sản phẩm nông sản, đây là lợi thế của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, châu Âu cũng là thị trường rất đề cao giá trị ẩm thực, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Đối với các hàng hóa nhập khẩu, EU đưa ra những quy định nghiêm ngặt về dư lượng thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu, nguồn gốc xuất xứ… Vì vậy, nếu các doanh nghiệp không đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, an toàn thực phẩm sẽ dễ dàng bị thị trường tiềm năng này từ chối.

Sản phẩm Organic Việt Nam khẳng định chất lượng trên thị trường quốc tế - Ảnh 2.

Các doanh nghiệp Việt Nam tích cực đưa ra những dòng sản phẩm Organic chất lượng nhằm cung ứng cho thị trường trong nước và quốc tế

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu hàng hóa sang EU cần chú trọng đến tâm lý của người tiêu dùng tại đây, đại đa số người dân các nước này sẵn sàng trả mức giá cao hơn cho hàng hóa được sản xuất theo quy trình đạt chuẩn, thân thiện với môi trường, có trách nhiệm với xã hội… thay vì chú trọng giá bán rẻ. Do đó, những thực phẩm Organic được trồng trọt tại các nông trại hữu cơ, không sử dụng hóa chất luôn được người dân đánh giá cao và tin dùng.

Đây cũng chính là cơ hội để sản phẩm Organic mang thương hiệu Việt Nam đặt chân vào thị trường châu Âu và phát triển mạnh mẽ.

Huỳnh Phương

Giá nông sản hôm nay 25/10: Lo lắng giá cà phê tiếp tục giảm, giá tiêu giữ vững 58.000 đồng

Thị trường nông sản hôm nay 25/10 mở đầu bằng tin không mấy tốt lành khi giá cà phê tiếp tục giảm 100 đồng/kg.

Dù mức giảm không đáng kể nhưng vẫn khiến các doanh nghiệp và bà con lo lắng bởi đâu đã là ngày thứ 4 liên tiếp giá cà phê giảm. Trong khi đó, giá tiêu vẫn giữ nguyên mức giá 58.000 đồng/kg sau khi tăng thêm 1.000 đồng từ hôm qua.

Cà phê giảm phiên thứ 4 liên tiếp

Phiên giao dịch hôm nay 25/10 tiếp tục ghi nhận sự đi xuống của giá cà phê, dù giảm nhẹ 100 đồng nhưng cũng khiến nhiều nông dân và thương lái lo lắng vì đây đã là phiên thứ 4 liên tiếp giá cà phê sụt giảm.

Cụ thể, tại Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà của tỉnh Lâm Đồng, giá cà phê giao động từ 36.200-36.300 đồng/kg. Trong khi đó Đắk Lắk vẫn là địa phương có giá cà phê ổn định ở mức 36.800 – 36.900 đồng/kg.

Tại Đắk Hà (Kon Tum) cà phê có giá cao nhất nước, giữ vững ở mức 37.000 đồng/kg. Trong khi đó Gia Lai, cà phê có giá 36.700 đồng/kg.

gia nong san hom nay 25/10: lo lang gia ca phe tiep tuc giam, gia tieu giu vung 58.000 dong hinh anh 1

Cà phê giảm phiên thứ 4 liên tiếp tính từ đầu tuần. Ảnh minh họa.

Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch đầu tuần, giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London tiếp tục sụt giảm. Kỳ hạn giao ngay tháng 11 giảm thêm 21 USD, xuống 1.696 USD/tấn, kỳ hạn giao tháng 1/2019 giảm thêm 18 USD, còn 1.721 USD và kỳ hạn giao tháng 3/2019 giảm thêm 17 USD, còn 1.737 USD/tấn, các mức giảm đáng kể. Khối lượng giao dịch trên mức trung bình.

Tương tự, giá cà phê Arabica trên sàn ICE US – New York cũng cùng xu hướng giảm. Kỳ hạn giao ngay tháng 12 giảm 4,45 cent, xuống 117,65 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3/2019 cũng giảm 4,45 cent, còn 121,45 cent/lb, các mức giảm rất mạnh. Khối lượng giao dịch rất cao trên mức trung bình.

Giá cà phê nhân xô tại các tỉnh Tây nguyên giảm thêm 300 – 400 đồng, xuống dao động trong khung 36.100 – 36.600 đồng/kg .

Giá cà phê Robusta xuất khẩu loại 2, 5% đen vỡ, đứng ở mức 1.637 USD/tấn, FOB – HCM, với chênh lệch trừ lùi 90 – 100 USD theo giá kỳ hạn tháng 3/2019 tại London.

Theo các nhà quan sát, xu hướng tiêu cực hiện hành trên các thị trường cà phê vẫn mang tính chủ đạo do dự báo sản lượng toàn cầu có khả năng dư thừa ngắn hạn. Cho dù kỳ vọng vào đồng Reais Brasil hồi phục trở lại qua bầu cử tổng thống mới nhưng viễn cảnh Fed sẽ tăng lãi suất USD vào cuối năm và căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc kéo dài, trong khi khối EU vẫn chưa tìm ra lối thoát về vấn đề Brexit, đã dẫn tới việc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng toàn cầu năm nay giảm bớt 0,2% so với dự báo trước đó.

Tiêu vẫn đang có giá 58.000 đồng/kg

Giá tiêu hôm nay 25/10 tại Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông, Bình Phước đều giữ giá ở mức 57.000 đồng/kg. Trong khi đó Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn là địa phương có giá tiêu cao nhất với mức 58.000 đồng/kg. Còn Đồng Nai luôn giữ vị trí “chót bảng” với mức giá thấp nhất 55.000 đồng/kg.

gia nong san hom nay 25/10: lo lang gia ca phe tiep tuc giam, gia tieu giu vung 58.000 dong hinh anh 2

Sau khi tăng thêm 1.000 đồng/kg vào ngày hôm qua, giá tiêu vẫn đang giữ ở mức 58.000 đồng/kg. Ảnh minh họa

Theo dự đoán của Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong thời gian tới, áp lực dư cung giảm sẽ là yếu tố tích cực hỗ trợ giá tiêu toàn cầu tăng trở lại. Tại Indonesia, người dân không tích trữ nguồn hàng như những năm trước. Còn ở Việt Nam, mưa lớn kéo dài gây ngập úng, khiến hàng trăm ha cây tiêu chết.

Tại Ấn Độ, nguồn cung hạt tiêu cũng có dấu hiệu giảm. Bên cạnh đó, giá tiêu đen tại thị trường nội địa một số nước sản xuất như Việt Nam, Ấn Độ tăng nhẹ do đồng nội tệ giảm giá so với đồng USD. Tuy nhiên, Cục Xuất nhập khẩu cho rằng giá tiêu toàn cầu sẽ không tăng mạnh do Brazil đang bước vào vụ thu hoạch mới.

Nguyễn Tố

Diễn biến có lợi, Bộ Nông nghiệp thúc đẩy sản xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng gửi công văn tới các tỉnh nuôi cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh nuôi tôm nước lợ nhằm tăng cường tăng cường chỉ đạo sản xuất cá tra và nuôi tôm nước lợ những tháng cuối năm.

Tình hình thị trường thế giới đang diễn biến rất nhanh theo hướng có lợi cho xuất khẩu cá tra và tôm.

Diễn biến có lợi, Bộ Nông nghiệp thúc đẩy sản xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu

Theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, các tháng đầu năm 2018, ngành hàng cá tra gặp một số khó khăn như chất lượng và giá cá giống không ổn định, người dân tự phát đào ao ương ngoài quy hoạch, áp lực của chương trình thanh tra cá da trơn của Hoa Kỳ… Cùng với đó, hoạt động sản xuất và tiêu thụ tôm nước lợ cũng bị tác động không tốt do ảnh hưởng của thị trường thế giới, giá tôm nguyên liệu trong nước giảm mạnh.

Tuy nhiên, những vướng mắc trên đã được tháo gỡ kịp thời, ngành hàng vẫn duy trì đà tăng trưởng cao.

Về cá tra, tính đến 30/9/2018, tổng diện tích thả nuôi là 4.471 ha, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2017, tổng sản lượng thu hoạch 942.400 tấn, tăng 9,3%, giá trị xuất khẩu đạt 1,68 tỷ USD, tăng 29,2%.

Trong khi đó, 9 tháng qua, diện tích nuôi tôm nước lợ đạt 701.302 ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2017, sản lượng nuôi đạt 509.400 tấn, tăng 8,0%, giá trị xuất khẩu đạt 2,7 tỷ USD, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết, tình hình thị trường thế giới đang diễn biến rất nhanh theo hướng có lợi cho xuất khẩu cá tra và tôm.

Ngày 14/9, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã công bố dự thảo công nhận tương đương đối với Việt Nam để xin ý kiến công chúng trước khi công nhận chính thức.

Ngày 10/9, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đã ban hành kết luận sơ bộ thuế chống bán phá giá lần thứ 14 cho giai đoạn từ 1/8/2016 đến 31/7/2017 đối với sản phẩm cá tra và basa của Việt Nam là 0,0 – 2,39 USD/kg so với lần thứ 13 là 0,69 – 7,74 USD/kg.

Cùng ngày, DOC cũng thông báo hình thức chống bán phá giá cho tôm Việt Nam trong giai đoạn xem xét hành chính lần thứ 12 (POR12) từ ngày 1/2/2016-31/1/2017 là 4,58%.

Trong khi đó, thị trường Trung Quốc vẫn duy trì mức tăng trưởng cao còn thị trường EU đã chuyển hướng tăng trưởng tích cực từ tháng 7/2018.

“Tất cả những yếu tố trên đã tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy giá cá tra nguyên liệu và giá fille tăng cao nhất từ trước đến nay. Còn giá tôm nguyên liệu trong nước đã tăng trở lại ở mức cao, thời tiết thuận lợi đang hỗ trợ tích cực cho việc thúc đẩy sản xuất, tạo nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh.

Để tranh thủ cơ hội thị trường thuận lợi, duy trì chất lượng sản phẩm, bảo vệ thương hiệu cá tra Việt Nam và hạn chế thấp nhất các rào cản kỹ thuật, Bộ đề nghị lãnh đạo các tỉnh, thành phố nuôi cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long quản lý chặt chẽ điều kiện sản xuất và chất lượng sản phẩm cá tra, khuyến khích người dân, doanh nghiệp đầu tư, phát triển nuôi cá tra theo hướng liên kết chuỗi giá trị để ổn định sản xuất.

Đồng thời, kiểm soát chất lượng đầu vào con giống, tuyệt đối không sử dụng chất cấm trong sản xuất, chế biến cá tra. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nguồn lực vào nghiên cứu, sản xuất giống cá tra chất lượng cao.

Cùng với khuyến khích sản xuất cá tra, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng gửi công văn tới các tỉnh có nuôi tôm nước lợ nhằm tăng cường nuôi tôm nước lợ những tháng cuối năm.

Khuyến khích người dân, doanh nghiệp đầu tư phát triển nuôi tôm nước lợ tại những vùng có tiềm năng và đáp ứng các quy định điều kiện nuôi tôm nước lợ; áp dụng các giải pháp công nghệ nuôi tiên tiến, phù hợp để nâng cao năng suất, sản lượng tôm; khuyến khích liên kết theo chuỗi giá trị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.

Quản lý tốt chất lượng tôm giống, vật tư đầu vào trong nuôi trồng thủy sản; các cơ quan Thanh tra chuyên ngành tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về: sản xuất, kinh doanh tôm giống không rõ nguồn gốc, không qua kiểm dịch; sản xuất, kinh doanh, sử dụng thức ăn, thuốc thú y thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản không có trong danh mục được phép lưu hành; các địa phương đã ký quy chế quản lý giống tôm nước lợ tích cực chia sẻ thông tin để quản lý tốt chất lượng tôm giống.

Tiếp tục kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động thu mua, vận chuyển, sơ chế, chế biến để kịp thời ngăn chặn nạn bơm chích tạp chất vào tôm nguyên liệu.

An Nhiên

Vàng, USD cùng tăng

Ngày 25.10 vàng tăng giá cùng chiều với USD. Các thông tin bất ổn từ các nước Châu Âu, thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm mạnh đã giúp vàng giữ vững mức giá tăng.

Giá vàng SJC cao hơn thế giới 1,6 triệu đồng/lượng /// Ngọc Thạch

Giá vàng SJC cao hơn thế giới 1,6 triệu đồng/lượng

NGỌC THẠCH
Giá vàng thế giới sáng ngày 25.10 ở mức 1.237 USD/ounce, tăng 7 USD/ounce so với chiều ngày 24.10. Vàng thế giới đã có những biến động mạnh với biên độ giá rộng từ 1.225 – 1.238 USD/ounce. Thông thường, giá vàng và giá USD thường đối nghịch. Thế nhưng trong phiên hôm qua, giá vàng thế giới tăng bất chấp sự tăng giá khá mạnh của đồng USD, chỉ số USD – Index tăng từ mức 95,9 điểm lên 96,28 điểm. Nguyên nhân khiến vàng đứng ở mức cao do thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm mạnh, tình hình bất ổn ở khu vực Châu Âu khi Ý đưa ra dự thảo ngân sách 2019 đề xuất thâm hụt tương đương 2,4% GDP, cao hơn rất nhiều so với mức cam kết 0,8% trước đó. Điều này đã gây nên sự căng thẳng giữa Ý và Liên minh Châu Âu.
Hơn nữa, các nhà đầu tư vàng đã mạnh tay mua vàng đã hỗ trợ cho đà tăng giá của vàng. Quỹ đầu tư vàng SPDR đã mua 1,76 tấn vàng, lượng vàng nắm giữ tăng lên 749,64 tấn. Đây là ngày mua vàng thứ 5 kề từ đầu tháng đến nay với khối lượng 22,41 tấn vàng trong khi bán bán ra  chỉ14,6 tấn. Các nhà đầu tư vàng tài khoản ra lệnh mua nhiều hơn khi thấy xu hướng tăng giá qua phân tích kỹ thuật.
Trong nước, giá vàng SJC tăng chậm chạp so với giá thế giới, chỉ 40.000 đồng/lượng so với chiều 24.10. Mỗi lượng vàng SJC được Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn – SJC mua vào với giá 36,51 triệu đồng, bán ra 36,65 – 36,67 triệu đồng. Giá vàng SJC cao hơn giá thế giới 1,6 triệu đồng/lượng thay vì 1,8 triệu đồng/lượng như trước đó.
Thị trường USD trong nước khá ổn định, trong khi các ngoại tệ khác giảm mạnh. Các ngân hàng thương mại giữ giá mua ở mức 23.300 đồng/USD, bán ra 23.390 đồng/USD. Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 22.721 đồng/USD. Giá mua USD tự do giảm nhẹ 5 đồng, còn 23.450 đồng, giá bán đứng ở mức 23.470 đồng.
Ngược lại, euro giảm 137 đồng, giá mua – giá bán còn 26.433 – 26.909 đồng/euro; bảng Anh giảm 195 đồng, còn 29.753 – 30.229 đồng/bảng; đôla Úc giảm 68 đồng, còn 16.320 – 16.598 đồng/đôla; đôla Singapore giảm 38 đồng, còn 16.703 – 17.004 đồng/đôla …

Thanh Xuân

Xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã đạt trên 35 tỷ USD

Trong 9 tháng/2018, trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ đạt trên 35 tỷ USD, tăng 4,08 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, tương đương tăng 13,2% và chiếm 19,5% tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của cả nước.

9 tháng năm 2018, xuất khẩu giày dép sang thị trường Mỹ đạt 4,27 tỷ USD. Ảnh minh hoạ

Kể từ khi Hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ có hiệu lực từ năm 2000 đến nay, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ liên tục tăng trưởng ở mức cao. Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chỉ vào khoảng 730 triệu USD, thì đến năm 2017 con số này đã lên đến 41,6 tỷ USD.

So với năm 2017, trong 9 tháng/2018, Việt Nam có 7 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt trên 1 tỷ USD, giảm 1 nhóm hàng ( do kim ngạch xuất khẩu hàng túi xách, ví va li, mũ, ô dù chỉ đạt 952 triệu USD.

Hàng dệt may là nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ với kim ngạch 10,33 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm gần 46% tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Mỹ.

Xuất khẩu giày dép đạt 4,27 tỷ USD, tăng 13,5%  so với cùng kỳ năm trước và chiếm 12,2%.

Điện thoại các loại và linh kiện trong tháng 9/2018 đạt 619 triệu USD, nâng trị giá xuất khẩu 9 tháng 2018 lên 4,12 tỷ USD, tăng mạnh 43,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 11,8%.

Gỗ và sản phẩm gỗ  trong tháng 9/2018 đạt 337 triệu USD, nâng trị giá xuất khẩu 9 tháng 2018 lên 2,73 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 7,8%.

Xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong tháng 9/2018 đạt 235 triệu USD, nâng trị giá xuất khẩu 9 tháng 2018 lên 2,07 tỷ USD, giảm 14,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 5,9%.

Hai nhóm hàng còn lại đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD trong 9 tháng/2018 là: máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng (2,34 tỷ USD, tăng mạnh 29,6%); hàng thủy sản (1,14 tỷ USD, tăng 9,2%).

Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, trị giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ Hoa Kỳ trong 9 tháng/2018 là 9,55 tỷ USD, tăng mạnh 36,9% so với 9 tháng/2017 và chiếm 5,5% tổng trị giá hàng hóa nhập khẩu của cả nước. ​

MK

Saudi Arabia sẵn sàng tăng cung, giá dầu sụt 4%

Ngoài ra, việc thị trường chứng khoán Trung Quốc giảm điểm sâu không khỏi tác động đến tâm lý của nhà đầu tư, thị trường giảm điểm gây sức ép lên nhiều loại tài sản bị coi là có độ rủi ro cao.

Saudi Arabia sẵn sàng tăng cung, giá dầu sụt 4%

Ảnh: GettyImages

Phiên giao dịch ngày thứ Ba, giá dầu thô kỳ hạn giảm hơn 4%, giá dầu trên thị trường Mỹ giảm xuống mức thấp nhất trong khoảng 2 tháng.
Giới đầu tư quan tâm nhiều đến cam kết của Saudi Arabia trong việc sẽ giữ một vai trò có trách nhiệm trên thị trường năng lượng bất chấp việc cộng đồng quốc tế chỉ trích mạnh mẽ Saudi Arabia về vụ mất tích của nhà báo Jamal Khashoggi.
Việc thị trường chứng khoán Trung Quốc giảm điểm sâu không khỏi tác động đến tâm lý của nhà đầu tư, thị trường giảm điểm gây sức ép lên nhiều loại tài sản bị coi là có độ rủi ro cao, trong đó có phần lớn các loại hàng hóa.
Thị trường chứng khoán Mỹ giảm điểm trong phiên ngày thứ Ba, ban đầu các chỉ số giảm sâu rồi sau đó phục hồi được phần nào.
Chuyên gia phân tích kỹ thuật tại Forex.com, ông Fawad Razaqzada, chỉ ra: “Giá dầu thô không ngừng giảm bởi lo ngại về nguồn cung tăng cao quá mức, vì vậy khi mà dù tâm lý trên thị trường chứng khoán phục hồi, tâm lý trên thị trường dầu cũng không cứu được”.
Thị trường New York, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao kỳ hạn tháng 12/2018 giảm 2,93USD/thùng tương đương 4,2% xuống 66,43USD/thùng. Đây là mức đóng cửa thấp nhất của giá dầu tính từ ngày 20/8/2018.
Thị trường London, giá dầu Brent kỳ hạn tháng 12/2018 giảm 3,39USD/thùng tương đương 4,3% xuống 76,44USD/thùng, đây là mức đóng cửa thấp nhất của giá dầu tính từ cuối tháng 8/2018.
Trong cuộc phỏng vấn gần đây với cơ quan thông tấn Nga TASS, Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia, ông Khalid al-Falih, khẳng định rằng Saudi Arabia sẽ nâng sản lượng dầu hàng ngày lên mức khoảng 11 triệu thùng dầu/ngày so với mức 10,7 triệu thùng dầu/ngày hiện nay. Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia cũng khẳng định rằng công việc của ông sẽ là thực thi chính sách của chính phủ trong việc giữ vai trò tích cực và có trách nhiệm để bình ổn thị trường năng lượng thế giới.
Cũng trong cuộc phỏng vấn này, ông khẳng định Saudi muốn ký thỏa thuận hợp tác mới, thỏa thuận sẽ không có ngày kết thúc. Thỏa thuận sẽ cho phép Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và một số nước khác ngoài OPEC tăng hoặc giảm sản lượng khi cần thiết nhằm cân bằng thị trường.
TRUNG MẾN

Giá vàng ngày 24/10: Căng thẳng địa chính trị đẩy vàng tăng cao

Giá vàng miếng trên thị trường thế giới vào sáng nay đã được niêm yết ở ngưỡng 1238 USD/Oz, tăng 15 USD so với cùng thời điểm ngày hôm trước.

Kết quả một cuộc khảo sát do hãng Reuters tiến hành cho thấy chiến tranh thương mại giữa Mỹ-Trung Quốc và sự thắt chặt các điều kiện tài chính sẽ “phủ mây đen” lên triển vọng kinh tế toàn cầu năm 2019. Bên cạnh đó, những lo ngại về quan hệ căng thẳng giữa phương Tây và Saudi Arabia liên quan đến cái chết của nhà báo Jamal Khashoggi, tiến trình đàm phán Brexit và vấn đề ngân sách của Italy đang thúc đẩy nhà đầu tư hướng sự chú ý vào vàng.

Một số thông tin rò rỉ từ Uỷ ban Thị trường mở Hoa Kỳ (FOMC) cho biết, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) vẫn sẽ trung thành việc tăng lãi suất hàng tháng. Ngoài ra, một số thông tin còn tiết lộ, đợt tăng lãi xuất thứ 3 của FED sẽ diễn ra sớm hơn dự tính.

Những thông tin liên quan tới tăng lãi suất đã giúp cầm chân đồng USD và giữ cho giá vàng ổn định trong thời gian gần đây.

Giá vàng trong nước đã có sự đảo chiều và tăng ngược vào cuối phiên, tại sàn giao dịch DOJI, giá vàng miếng SJC ở chiều mua vào được niêm yết ở ngưỡng 36,52 triệu đồng/lượng còn ở chiều bán ra là 36,62 triệu đồng/lượng, giá ở cả 2 chiều đã tăng 50.000 đồng/lượng so với đầu phiên.

Cùng thời điểm đó, Công ty VBĐQ Sài Gòn cũng chốt phiên giao dịch ở mức 36,52 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,66 triệu đồng/lượng (bán ra).

Công ty VBĐQ Bảo Tín Minh Châu cũng niêm yết giá vàng SJC vào cuối ngày ở mức 36,52 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,6 triệu đồng/lượng.

Cơ hội của ASEAN

Bất kể mức độ hội nhập với Trung Quốc sâu rộng đến đâu, ASEAN sẽ không cho phép mình bị siết chặt trong vòng tay của Bắc Kinh

Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc hiện gây sức ép đáng kể lên các doanh nghiệp mắc kẹt giữa “làn đạn”. Ngay cả sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ vào tháng tới, căng thẳng này sẽ không biến mất. Các nhà sản xuất ở Trung Quốc, cả người bản xứ lẫn nước ngoài, đều đang có động thái ứng phó.

Các trung tâm phân phối sản phẩm tiêu dùng bắt đầu được chuyển từ Trung Quốc sang Hồng Kông. Các công ty điện tử đại lục đang dời cơ sở sang Đài Loan để những thành phẩm được xuất khẩu sang Mỹ không có xuất xứ từ Trung Quốc lục địa. Bước đi này cho phép họ tuân thủ các quy tắc xuất xứ và không chịu thuế quan mới của Washington.

Khi Hải quan Mỹ thắt chặt quy định về quy tắc xuất xứ, việc chuyển hướng thương mại và sau đó là đầu tư từ Trung Quốc sang Đông Nam Á và các nơi khác là điều khó tránh. Thay vào đó, Trung Quốc sẽ cung cấp thành phần cho các nước xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ. Chiến tranh thương mại đẩy nhanh một tiến trình đang diễn ra, các hoạt động sản xuất có giá trị gia tăng thấp hơn được dịch chuyển từ Trung Quốc đến Đông Nam Á, Nam Á và châu Phi.

Trung Quốc có thể dành nhiều tập trung hơn cho Sáng kiến Vành đai và Con đường trong bối cảnh nền kinh tế số 2 thế giới chuẩn bị cho cuộc thử thách kéo dài về sức mạnh với Mỹ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không muốn đấu với Washington nhưng không thể để bị mất mặt trong mắt người dân. Trong nhiều thập kỷ tới, ảnh hưởng kinh tế, chính trị, quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc chắc chắn có lúc gây bất ổn trong các mối quan hệ với Mỹ, châu Âu, Nga, Ấn Độ và Nhật Bản.

Trong bối cảnh thế giới nỗ lực thích ứng với tình hình địa chính trị đang thay đổi, ASEAN là bên hưởng lợi lớn nhất. Hiệp hội này không đe dọa đến các cường quốc lớn trong lúc có thể điều chỉnh để đương đầu với những sức ép, căng thẳng tại khu vực bằng cách thỉnh thoảng nghiêng về một hướng, đôi khi lại nghiêng theo một hướng khác.

Cơ hội của ASEAN - Ảnh 1.

Hội chợ Triển lãm Trung Quốc – ASEAN tại TP Nam Ninh hồi tháng 9-2018.

Ảnh: TÂN HOA XÃ

Người ta vẫn chưa chú ý nhiều đến tầm quan trọng ngày càng tăng của Trung Quốc trong vai trò nhà nhập khẩu. Quốc gia này không lâu nữa có thể trở thành thị trường nhập khẩu hàng đầu thế giới, không chỉ về nguyên liệu thô và thực phẩm mà còn về sản phẩm và dịch vụ. Điều này sẽ có những tác động mạnh mẽ cho thương mại, kinh tế và chính trị toàn cầu. Trong tháng 11 tới, hội chợ triển lãm nhập khẩu quốc tế đầu tiên của Trung Quốc sẽ diễn ra tại TP Thượng Hải. Sự kiện có quy mô lớn này sẽ phát đi tín hiệu đến thế giới: ASEAN, một hiệp hội có Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với Trung Quốc, hiện trở thành khu vực sản xuất hàng xuất khẩu lớn không chỉ cho các nền kinh tế tiên tiến mà còn cho cả Bắc Kinh.

Sự hội nhập giữa các nền kinh tế ASEAN và Trung Quốc đang diễn ra mạnh mẽ. Vào thời điểm công bố Sáng kiến Vành đai và Con đường ở thủ đô Jakarta – Indonesia hồi tháng 10-2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bày tỏ hy vọng thương mại song phương giữa nước này và ASEAN sẽ đạt 1.000 tỉ USD vào năm 2020.

Căng thẳng về thương mại, chính trị giữa Trung Quốc và Mỹ càng đẩy nhanh sự hội nhập nói trên. Đối với mỗi quốc gia ASEAN, Trung Quốc đã là đối tác thương mại lớn nhất. Tuy nhiên, Bắc Kinh biết rõ rằng bất kể mức độ hội nhập sâu rộng đến đâu, ASEAN sẽ không cho phép mình bị siết chặt trong vòng tay của Trung Quốc.

Năm 2002, khi thỏa thuận khung của FTA ASEAN – Trung Quốc được ký kết tại thủ đô Phnom Penh – Campuchia, Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ bảo đảm với các nhà lãnh đạo ASEAN rằng Bắc Kinh không tìm kiếm vị thế độc quyền ở Đông Nam Á. Ngoài việc ký FTA với nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc và Ấn Độ, ASEAN còn ủng hộ mạnh mẽ một FTA rộng lớn hơn, bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, New Zealand và Ấn Độ.

Các cuộc thương thảo về Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) có thể sớm hoàn tất, với các nước tham gia chiếm phân nửa dân số thế giới. Một số nước ASEAN còn đang là thành viên của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Là một tổ chức trung lập và thân thiện với tất cả cường quốc, ASEAN chào đón đầu tư từ mọi hướng. Càng phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc, các nước ASEAN càng muốn đa dạng hóa để giảm bớt sự phụ thuộc này. Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và châu Âu đang cạnh tranh lành mạnh để có quan hệ tốt với ASEAN. Riêng Nhật Bản và Ấn Độ còn tham gia xây dựng hạ tầng của ASEAN. Sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ đặc biệt được chào đón.

Trong mức độ nào đó, sự hiện diện của quân đội Mỹ giúp duy trì sự cân bằng chiến lược ở Đông Nam Á. Nhưng nếu cuộc đối đầu Mỹ – Trung trở nên nghiêm trọng, ASEAN tốt hơn không nên đứng về phía họ. Hiểu được điều này, Trung Quốc đã tăng gấp đôi nỗ lực làm việc với ASEAN về bộ quy tắc ứng xử tại biển Đông. Đã xuất hiện hy vọng hợp lý rằng bộ quy tắc này sẽ được ký kết không quá muộn.

PHƯƠNG VÕ (lược dịch theo báo South China Morning Post)

Giá dầu tăng, doanh nghiệp ngành khí thắng lớn

Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp dầu khí khâu thượng nguồn là thăm dò và khai thác thường có độ trễ so với diễn biến tăng của giá dầu, nhưng với các doanh nghiệp hạ nguồn, trong đó có nhóm doanh nghiệp ngành khí, thì tác động giá dầu gần như phản ánh ngay vào kết quả kinh doanh.

Giá dầu tăng, doanh nghiệp ngành khí thắng lớn

Ảnh Shutterstock

Kết thúc phiên 19/10, giá dầu thô Brent đạt gần 80 USD/thùng, tăng khoảng 20%; giá dầu ngọt nhẹ WTI đạt 68 USD/thùng, tăng 25% so với đầu năm.

Giá gas thế giới bình quân từ đầu tháng 10 đến nay là 655 USD/tấn, tăng 37,5 USD/tấn so với tháng 9/2018, giá khí hóa lỏng (LPG) trong nước tăng tương ứng và đã tăng liên tục trong 4 tháng qua.

Ông Lê Quốc Hưng, Giám đốc đầu tư, Công ty cổ phần Đầu tư và Sản xuất Petro miền Trung (PMG) cho biết, trong quý III/2018, Công ty ước đạt hơn 455 tỷ đồng doanh thu, 24,4 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, trong đó lợi nhuận cổ đông công ty mẹ đạt khoảng 21 – 22 tỷ đồng.

Lũy kế 9 tháng đầu năm, PMG ước đạt doanh thu hơn 989 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 72,4 tỷ đồng. Với kết quả này, PMG đã hoàn thành khoảng 90% kế hoạch doanh thu và vượt 24,8% kế hoạch lợi nhuận cả năm.

PMG có vốn điều lệ 379 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh khí gas, tập trung tại các tỉnh miền Trung. Công ty đang kinh doanh sản phẩm với 3 thương hiệu là V-Gas, PM Gas và Picnic gas.

Cổ phiếu PMG niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM từ đầu năm 2018, với giá tham chiếu 14.000 đồng/cổ phiếu, sau hơn 8 tháng niêm yết, giá tăng gần 50%, đạt 20.850 đồng/cổ phiếu vào ngày 19/10. Trong định hướng sau khi lên sàn, PMG đặt mục tiêu tăng trưởng kép 25 – 35%/năm.

Về năng lực sản xuất, PMG sở hữu 2 cầu cảng với hệ thống tổng kho có sức chứa 9.000 tấn, công suất chiết nạp mỗi nhà máy 120.000 tấn/năm.

Điều này giúp Công ty chủ động nguồn cung khí trong bối cảnh nguồn cung khí trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu, 70% còn lại phải nhập từ nước ngoài. Ngoài ra, PMG sở hữu nhà máy sản xuất vỏ bình với công suất 120.000 bình/năm, nhà máy sản xuất sơn và bảo trì công suất 200.000 bình/năm.

9 tháng đầu năm 2018, PMG đã hoàn thành vượt gần 25% kế hoạch lợi nhuận cả năm; GAS ước hoàn thành vượt mức hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch; CNG dự báo lợi nhuận năm nay sẽ vượt kế hoạch…

Chuỗi cung ứng khép kín này giúp Công ty tiết giảm chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận.

Theo ông Nguyễn Tiến Lãng, Chủ tịch Hội đồng quản trị PMG, giá khí tác động cùng chiều giá dầu, khi giá khí xuống, giá đầu vào giảm, giá đầu ra giảm theo, nhưng nhu cầu không giảm, bởi người dân luôn phải sử dụng gas.

Ngược lại, khi giá dầu tăng, nhu cầu thị trường tăng thì doanh nghiệp nào chủ động được nguồn cung đáp ứng nhu cầu tăng đó sẽ hưởng lợi lớn.

Hiện nay, với mức tiêu thụ 18 kg LPG/người/năm, tiêu thụ khí gas bình quân đầu người của Việt Nam vẫn ở mức rất thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia. Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) dự báo, tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ LPG của Việt Nam giai đoạn 2018 – 2020 trung bình khoảng 6%/năm.

Đến năm 2020, nhu cầu LPG của Việt Nam ước đạt 1,832 triệu tấn, mức tiêu thụ bình quân đạt 30 kg/người/năm, ngang bằng mức bình quân hiện nay trong khu vực ASEAN.

Dẫn đầu ngành gas trong nước hiện nay là Tổng công ty Khí Việt Nam – CTCP (GAS), cung cấp LPG cho hầu hết doanh nghiệp LPG trong nước, trong đó có Tổng công ty Gas Petrolimex, Saigon Petro và các đơn vị thành viên, PV Gas North, PV GAS South, đồng thời có quan hệ kinh doanh LPG với hầu hết các nhà kinh doanh LPG lớn nhất trên thị trường quốc tế.

Theo đó, mỗi năm, GAS cung cấp khí làm nguồn nguyên nhiên liệu để sản xuất khoảng 30% sản lượng điện quốc gia và đáp ứng 70% nhu cầu đạm trên toàn quốc, chiếm khoảng 65% thị phần LPG trong nước.

Chưa có số liệu chính thức, nhưng trong 9 tháng đầu năm 2018, GAS ước hoàn thành vượt mức hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch và tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái. Không chỉ công ty mẹ, hoạt động tại các đơn vị thành viên trong ngành khí của GAS cũng ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực.

Một trong các đơn vị thành viên của GAS sở hữu hệ thống phân phối lẻ lớn tại miền Nam là Công ty cổ phần Kinh doanh khí miền Nam (PGS).

Trong 9 tháng đầu năm, PGS đạt 4.796 tỷ đồng doanh thu, bằng 81% kế hoạch năm; lợi nhuận trước thuế hơn 100 tỷ đồng, bằng 74% kế hoạch năm. Công ty đặt mục tiêu quý IV đạt doanh thu 1.659 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 35 tỷ đồng; lũy kế cả năm ước đạt lần lượt 6.455 tỷ đồng và 136 tỷ đồng.

Tại Công ty cổ phần CNG Việt Nam (CNG), GAS sở hữu 56% vốn, quý III/2018 đạt doanh thu 507,6 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 37,9 tỷ đồng, lần lượt tăng trưởng 52,2% và 36,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2018, CNG thu về trên 1.320 tỷ doanh thu, tăng 37%; lợi nhuận sau thuế hơn 83 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ năm ngoái. Qua đó, Công ty đã thực hiện 95% kế hoạch doanh thu và 89% kế hoạch lợi nhuận sau thuế cả năm.

CNG Vietnam chuyên sản xuất, vận chuyển, phân phối khí nén thiên nhiên (CNG), cung cấp cho các nhà máy có sử dụng nhiệt năng trong quá trình sản xuất, chế biến; phục vụ cho các khu chung cư và được sử dụng như nhiên liệu thay thế xăng dầu trong ngành giao thông vận tải.

Theo CNG, với kết quả đạt được trong 9 tháng đầu năm và ước tính của Ban điều hành về kết quả kinh doanh 3 tháng cuối năm, dự báo CNG sẽ vượt kế hoạch lợi nhuận đề ra năm nay khoảng 7%.

Ngọc Phạm

Giá vàng hôm nay 23/10: TTCK phục hồi, đồng USD vọt tăng ép giá vàng giảm mạnh

Giá vàng hôm nay 23/10 quay đầu giảm mạnh khi đồng USD tăng vọt và tâm lý lo ngại của nhà đầu tư tạm thời lắng xuống theo tín hiệu lạc quan của thị trường.

Ảnh minh hoạ

Đầu giờ ngày 23/10, theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.222,49 USD/Ounce. So với đầu giờ ngày 22/10, giá vàng thế giới giao ngày giảm hơn 5 USD/Ounce.

Trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchanghe, giá vàng thế giới giao tháng 12/2018 đứng ở mức 1.224,8 USD/Ounce.

Hiện giá vàng thế giới đã giảm 80 USD/Ounce so với phiên giao dịch đầu năm 2018. Quy đổi theo giá USD ngân hàng, vàng thế giới có giá 34,49 triệu đồng/lượng. Chưa tính thuế và phía, giá vàng thế giới hiện đang thấp hơn giá vàng trong nước 2,22 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới giảm chủ yếu do đồng USD bất ngờ tăng vọt cộng với tâm lý của nhà đầu tư dần ổn định trở lại và đưa vốn đầu tư vào thị trường.

Theo ghi nhận, đầu giờ ngày 23/10, theo giờ Việt Nam, chỉ số đồng USD (ICE U.S. Dollar Index), thước đo diễn biến của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt khác, đứng ở mức 95,77 điểm, tăng 0,34%.

Đồng bạc xanh phục hồi mạnh sau khi nhận được loạt thông tin hỗ trợ từ thị trường chứng khoán.

Theo ghi nhận của giới chuyên gia, tính đến cuối giờ chiều ngày 22/10, theo giờ Việt Nam, thị trường chứng khoán Châu Âu cũng như hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500, Dowvà NASDAQ 100 lấy tín hiệu từ đà tăng mạnh nhất trong 2,5 năm trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, sau khi Chính phủ Trung Quốc và ngân hàng trung ương cho biết sẽ hỗ trợ nền kinh tế, đưa tín hiệu cho thấy chiến tranh thương mại với Mỹ cũng đang hạ nhiệt.

Chỉ số STOXX Europe 600 mở cửa tăng 0,1% và tiếp tục tăng 0,4%, mặc dù trước đó đã tăng 0,7%. Về mặt kỹ thuật, giá kéo dài đà hồi phục ngày thứ 6 từ mức đáy của một lá cờ tăng, trên đỉnh của đường xu hướng giảm kể từ cuối tháng 8/2017.

Chỉ số Shanghai Composite của Trung Quốc tăng vọt 4%, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 3/2016. Chỉ số SZSE Component cũng đóng cửa tăng 4,89%, với tổng mức tăng của ngày thứ 6 là 7,9%.

Các yếu tố kỹ thuật cũng ít tích cực hơn do không có tín hiệu căng thẳng thương mại giữa hai nước sẽ hạ nhiệt. Cố vấn kinh tế của Nhà Trắng Larry Kudlow đổ lỗi Trung Quốc do “không làm gì” để giảm bớt căng thẳng trước cuộc họp giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại cuộc họp G20 ở Buenos Aires ngày 29/11.

Tại thị trường trong nước, đầu giờ ngày 23/10, giá vàng 9999 hôm nay đứng ở mức 36,47 – 36,61 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra). Cùng thời điểm, giá vàng SJC 9999 được Tập đoàn DOJI niêm yết ở mức 36,48 – 36,58 triệu đồng/lượng.

Giá vàng SJC đầu giờ ngày 23/10 được Phú Quý SJC niêm yết ở mức 36,49 – 36,59 triệu đồng/lượng. Còn tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng được niêm yết ở mức 36,50 – 36,58 triệu đồng/lượng.

Giá vàng Rồng Thăng Long đầu giờ ngày 23/10 đứng ở mức 34,96 – 35,41 triệu đồng/lượng.

Minh Ngọc

Tỷ giá ngoại tệ ngày 23/10: Giá USD tiếp tục leo thang

Sáng nay, tỷ giá trung tâm VND/USD tăng nhẹ, trong khi đó USD Index tiếp tục tăng mạnh.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.719 đồng/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.400 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.038 VND/USD.

Giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại biến động nhẹ so với cùng thời điểm hôm qua. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.300-23.390 VND/USD, không đổi; VietinBank niêm yết giá 23.301 – 23.391VND/USD, giảm 3 đồng; BIDV niêm yết giá 23.300-23.390 VND/USD, không đổi.

Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.349 đồng/USD, giảm 2 đồng so với cùng thời điểm hôm qua; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và  CNY ở mức 1 CNY đổi 3.280,76 VND, ngang giá hôm qua.

Trên thị trường tự do, giá mua – bán USD hiện đang là 23.440 23.470 đồng/USD, giảm 10 đồng mua vào, giảm 20 đồng bán ra.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng đô la Mỹ với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đang ở mức 95,78 điểm, tăng so với 95,49 điểm cùng giờ sáng qua. Chỉ số giá USD hôm qua dao động trong biên độ từ 95,22 điểm đến 95,81 điểm.

Theo Bloomberg, hiện USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1462 USD; 112,800 yen đổi 1 USD  và 1,2965 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,9475 Nhân dân tệ (CNY)./.

PV/VOV.VN

Tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9, 9 tháng năm 2018

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Chín ước tính tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 2,7%; ngành chế biến, chế tạo tăng 11,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 5,1%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,4%.

Tình hình sản xuất công nghiệp tháng 9, 9 tháng năm 2018

Tính chung quý III/2018, IIP ước tính tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 3,4%; ngành chế biến, chế tạo tăng 13,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,6%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%.
Trong 9 tháng năm 2018, IIP ước tính tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 12,7%; quý II tăng 8,2%; quý III tăng 10,7%), đạt mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2012 trở lại đây[7]. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 12,9% (quý I tăng 15,7%; quý II tăng 9,6%; quý III tăng 13,2%), đóng góp 9,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung, đây là mức tăng cao nhất của ngành này trong nhiều năm qua[8]; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,7%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2% (chủ yếu do khai thác dầu thô giảm 11,7%), làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung.
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 53,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,9%; sản xuất kim loại tăng 18,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 14,8% (quý I tăng mạnh 34,6% nhưng quý II chỉ tăng 3,2%[9] và quý III tăng 11%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 14,4%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,1%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 3,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,4% (khai thác dầu thô giảm 11,7% và khai thác khí đốt tự nhiên tăng 1,7%); khai khoáng khác (đá, cát, sỏi…) giảm 3,3%.
Tính chung 9 tháng năm 2018, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 tăng 12%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/9/2018 tăng 13,8% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2017 tăng 8,8%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 9 tháng năm 2018 là 63,8% (cùng kỳ năm trước là 65,6%).

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Giá cà phê ngày 6/10/2018 tăng mạnh

Giá cà phê ngày 6/10/2018 tăng mạnh 800 đồng/kg ở khu vực Tây Nguyên lên 34.900 – 35.500 đồng/kg. Trong đó, giá cà phê tỉnh Lâm Đồng thấp nhất ở 34.900 đồng/kg và cao nhất tại Gia Lai đạt 35.500 đồng/kg.

Giá cà phê ngày 6/10/2018 tăng mạnh

Giá cà phê trong nước

ĐVT: đ/kg|FOB: USD/tấn

TT nhân xôGiá trung bìnhThay đổi
FOB (HCM)1,610Trừ lùi: -45
Đắk Lăk35,400+800
Lâm Đồng34,900+800
Gia Lai35,500+800
Đắk Nông35,300+800
Tỷ giá USD/VND23,3100

Trên thị trường thế giới, giá cà phê robusta giao tháng 11/2018 trên sàn ICE lúc 16h30 ngày 5/10/2018 tăng 2,1% lên 1.652 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao tháng 12 trên sàn New York lúc 17h30 ngày 5/10 tăng 2% lên 109,1 UScent/pound.

Ngành cà phê có thể hợp tác để giải quyết tác động của giá cà phê toàn cầu thấp lên các nhà sản xuất, trong đó có hạn chế nguồn cung, nhưng quyết định chỉ có thể được đưa ra sau khi bất ổn về cuộc bầu cử tại Brazil kết thúc, người đứng đầu ngành cà phê Brazil cho biết hôm 1/10/2018.

Đồng real Brazil suy yếu và đợt bán tháo hợp đồng cà phê tương lai đã kéo giá cà phê trên sàn New York chạm đáy 12 tháng trong tháng 9/2018.

Quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới tổ chức bầu cử tổng thống trong tháng 10, với đồng real mất giá kỷ lục do lo ngại nhà lãnh đạo mới của nước này không thể thực hiện những cải cách cần thiết để giảm nợ công.

Có khả năng ngành cà phê sẽ hành động, ông Ricardo de Souza Silveira từ Hiệp hội các nhà chế biến ABIC cho biết. Cũng theo ông de Souza Silveira, đại diện các nhà sản xuất cà phê Colombia hồi tháng trước đã tới Brazil để thảo luận về việc hợp tác hành động giúp người trồng cà phê.

Nguồn: Vietnambiz

Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam ước đạt 3.000 tỷ đồng lợi nhuận trong 9 tháng

Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, trong tháng 9/2018, toàn Tập đoàn đã sản xuất 2,47 triệu tấn than nguyên khai, tiêu thụ 3,18 triệu tấn; sản xuất 112.000 tấn alumin, tiêu thụ 154.108 tấn; sản xuất và tiêu thụ 673 triệu kWh điện…, tổng doanh thu ước đạt 10.111 tỷ đồng.

Lũy kế 9 tháng đầu năm, doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 92.876 tỷ đồng, bằng 81,6% kế hoạch năm, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái; lợi nhuận ước đạt 3.000 tỷ đồng, vượt 50% kế hoạch năm và tăng 100% so với cùng kỳ năm ngoái.

Mai Phương

Trung Quốc ‘bơm’ 110 tỷ USD vào nền kinh tế

Hôm qua, Trung Quốc cắt giảm dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại, qua đó “bơm” thêm vào nền kinh tế 110 tỷ USD nhằm thúc đẩy tăng trưởng.

Các nhà phân tích cho rằng đây là dấu hiệu cho thấy chính phủ Trung Quốc đang ngày càng lo lắng về hiện trạng của nền kinh tế.

Xuất khẩu khó khăn làm giảm niềm tin của các nhà đầu tư vào nền kinh tế Trung Quốc
Xuất khẩu khó khăn làm giảm niềm tin của các nhà đầu tư vào nền kinh tế Trung Quốc

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc nói họ đã quyết định cắt giảm 1 điểm phần trăm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ ngày 15/10 tới, mở đường cho các khoản vay mới hỗ trợ phát triển kinh tế. Theo quyết định này, các ngân hàng sẽ có thêm  1.200 tỷ nhân dân tệ, trong đó 450 tỷ nhân dân tệ (65 tỷ USD) được sử dụng để thanh toán các khoản cấp vốn từ ngân hàng trung ương, phần còn lại được sử dụng để cho vay thương mại, SCMP đưa tin.

Trong khi ngân hàng trung ương Trung Quốc nói động thái này không phải là sự thay đổi chính sách tiền tệ, các nhà phân tích cho rằng đây là dấu hiệu cho thấy chính phủ Trung Quốc đang ngày càng lo lắng về hiện trạng của nền kinh tế trong lúc chiến tranh thương mại với Mỹ leo thang và bế tắc. “Đây là dấu hiệu nới lỏng chính sách để đối đầu với (hậu quả) cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, và cho thấy chính phủ Trung Quốc quyết tâm duy trì tăng trưởng”, Liêu Quần, nhà kinh tế trưởng của ngân hàng quốc tế Citic Trung Quốc phân tích.

Trương Minh, nhà nghiên cứu thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc nói động thái bơm tiền là nhằm đối phó với hiện tượng giảm tốc tăng trưởng do căng thẳng thương mại gây ra.

“Tranh chấp thương mại với Mỹ càng căng thẳng thì vai trò của thương mại trong tăng trưởng càng yếu đi”, ông nói. “Nếu xuất khẩu giảm do tranh chấp thương mại, tác động tiêu cực từ lĩnh vực thương mại sẽ lan sang đầu tư và sản xuất”.

Học giả Trương nói ông dự đoán tăng trưởng GDP sẽ giảm tốc xuống còn 6,6% trong quí ba, từ mức 6,7% của ba tháng trước đó và xuống mức 6,4% ở quí tư năm nay.

Đã xuất hiện nhiều dấu hiệu làm bộc lộ những điểm yếu của nền kinh tế trị giá 12.000 tỷ USD của Trung Quốc. Tháng 9 vừa qua, cả chỉ số sức mua chính thức lẫn không chính thức trong khối sản xuất rơi xuống mức thấp nhất kể từ tháng 2 khi các đơn hàng xuất khẩu, các chỉ số sản xuất đều sụt giảm.

Tháng trước, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi “tự chủ”, sau khi chính phủ Trung Quốc chuyển trọng điểm kinh tế nhằm đối phó với cuộc chiến thương mại, đáng kể nhất là xếp việc giảm nợ, vốn là một ưu tiên trước đó, vào hàng thứ yếu.

Từ Kiến Vỹ, nhà kinh tế cấp cao của ngân hàng Natixis (Pháp) tại Hong Kong, nói chính phủ Trung Quốc không còn lựa chọn nào khác là phải tìm một con đường khác, thoát khỏi các chính sách tiền tệ của Mỹ. “Trong một cuộc chiến thương mại, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn nữa khi niềm tin của các nhà đầu tư yếu đi… Trung Quốc do vậy buộc phải bơm tiền vào nền kinh tế”, ông nói.

Giá vàng ngày 8/10: Mở đầu tuần mới ở mức trên 1200 USD

 Đầu giờ sáng nay, giá vàng miếng trên thị trường thế giới chỉ dao động ở ngưỡng 1203 USD/Oz.

Nhà phân tích nghiên cứu Lukman Otunuga tại FXTM nhận định dữ liệu việc làm phi nông nghiệp tại Mỹ mạnh cộng với các dấu hiệu lương tăng có thể củng cố các đồn đoán rằng Fed thắt chặt chính sách nhanh hơn dự kiến. Đây là thông tin gây bất lợi cho tài sản không sinh lời là vàng bởi lãi suất tăng làm giảm sức hấp dẫn của kim loại quý này.

Chuyên gia phân tích kim loại Ronan Manly tại BullionStar có trụ sở tại Singapore cho rằng triển vọng Fed tiến hành một đợt nâng lãi suất khác trước cuối năm nay đang củng cố sức mạnh hiện tại của đồng USD, qua đó hạn chế đà tăng của giá vàng.

Tuần trước, giá vàng thế giới dao động quanh ngưỡng 1184 – 1208 USD/ Oz và diễn biến theo xu hướng tăng dần. Theo số liệu từ viện quản lý nguồn cung chỉ số quản lý mua hàng phi sản xuất đã tăng lên mức 61.6 trong tháng 9 tăng từ mức 58,5 trong tháng 8. Với sự gia tăng 3.1 điểm trên tháng trong tháng 9 đánh dấu mốc tăng tăng trưởng nhanh nhất của chỉ số này kể từ khi ra đời năm 2008.

SPDR Gold Trust, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới, cho biết lượng vàng do họ nắm giữ đã giảm 0,84% xuống 731,64 tấn trong phiên 3/10 – mức thấp nhất từ tháng 2/2016 đến nay.

Chốt phiên ngày cuối tuần tại thị trường trong nước, Tập đoàn DOJI đã niêm yết giá vàng miếng SJC tại ngưỡng mua vào là 36,41 triệu đồng/lượng còn ngưỡng bán ra là 36,51 triệu đồng/lượng, giá tăng nhẹ 10.000 đồng so với đầu phiên.

Công ty VBĐQ Bảo Tín Minh Châu cũng đã niêm yết giá vàng SJC ở chiều mua vào và bán ra là 36,42 triệu đồng/lượng và 36,49 triệu đồng/lượng.

Giá vàng miếng SJC được Công ty VBĐQ Sài Gòn chốt ở mức 36,4 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,54 triệu đồng/lượng (bán ra).

Với diễn biến gần như không có sự chuyển biến mạnh qua từng phiên, giá vàng trong nước cho thấy sự dè dặt, kết hợp tâm lý chờ đợi phản ứng của thị trường khiến cho các phiên trong tuần trước kém sôi động.

Tỷ giá ngoại tệ ngày 8/10: Giá USD thế giới tăng, trong nước đi ngang

Sáng nay, chỉ số USD Index trên thị trường thế giới tăng nhẹ trong khi đó giá USD trong nước đi ngang.

Lúc 8h20 hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.352 đồng/USD, ngang giá phiên cuối tuần trước; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và  CNY ở mức 1 CNY đổi 3.307,8 VND, ngang giá phiên cuối tuần trước.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.721 đồng/USD, tăng 1 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.402 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.040 VND/USD.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, 8h20 sáng nay, giá USD biến động nhẹ so với cùng thời điểm hôm qua. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.310 – 23.390 VND/USD, không đổi; VietinBank niêm yết giá 23.303- 23.383 VND/USD, giảm 1 đồng; BIDV niêm yết giá 23.310-23.390 VND/USD, không đổi.

Trên thị trường tự do, giá mua – bán USD hiện đang là 23.460 23.470 đồng/USD, tăng 10 chiều mua vào, giảm 10 đồng bán ra so với cùng thời điểm cuối tuần trước.

Loading…

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng đô la Mỹ với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đang tăng nhẹ, hiện ở mức 95,34 điểm. Tuần trước, USD Index có lúc tăng mạnh lên 95,72 điểm, mức điểm thấp nhất là 94,74 điểm. Nhìn chung cả tuần trước, USD Index có xu hướng tăng nhẹ.

Hiện, USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1519 USD; 113,9 yen đổi 1 USD  và 1,312 USD đổi 1 bảng Anh.

Trên Bloomberg, đồng Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc so với USD sáng nay tiếp tục đi ngang và ở mức 1 USD đổi được 6,8689 CNY (hoặc 1 CNY đổi 0,1456 USD). Tỷ giá đồng CNY so với USD đã đi ngang kể từ phiên 28/9 trở lại đây./.

PV/VOV.VN

Nga tăng mạnh sản xuất dầu

Sản lượng khai thác dầu của Nga đạt 11,360 triệu thùng mỗi ngày (bpd) trong tháng 9/2018, theo số liệu của Bộ Năng lượng Nga công bố ngày 2/10.

nga tang manh san xuat dau

Trong tháng 8/2018, sản lượng khai thác dầu của Nga đạt 11,21 triệu thùng/ngày. Kỷ lục trước đó là tháng 10/2016 với 11,247 triệu thùng/ngày. Con số này đã được coi là mức quy chiếu của Nga trong thỏa thuận cắt giảm sản lượng giữa nước này với OPEC vào cuối năm 2016 và có hiệu lực từ đầu năm 2017.

Vào tháng 6/2018, OPEC và các đối tác trong đó có Nga, đã quyết định tăng sản lượng để đáp ứng đủ hạn ngạch đã cấp trong năm 2016.

Trong tháng 9/2018, sản lượng của OPEC chỉ tăng nhẹ và đạt mức 32,85 triệu thùng/ngày. Sự sụt giảm của Iran được bù đắp bằng sự gia tăng khai thác ở Libya, Saudi Arabia và Angola, theo một cuộc thăm dò của Reuters công bố ngày 1/10.

Nh.Thạch

Theo AFP

PVN khai thác hơn 18 triệu tấn dầu trong 9 tháng, vượt 6% kế hoạch đề ra

Trong 9 tháng năm 2018, PVN đã cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tổng doanh thu toàn Tập đoàn 9 tháng đạt 449,1 nghìn tỷ đồng, vượt 20,1% so với kế hoạch.

PVN khai thác hơn 18 triệu tấn dầu trong 9 tháng, vượt 6% kế hoạch đề ra

Thông tin trên được ban lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cho biết tại Hội nghị giao ban hoạt động sản xuất kinh doanh 9 tháng năm 2018.

Cụ thể, trong 9 tháng năm 2018, tất cả các đơn vị thành viên đều giữ được nhịp độ sản xuất kinh doanh bình thường, hầu hết các chỉ tiêu sản xuất của Tập đoàn đều hoàn thành vượt mức đề ra từ 2 đến 15%.

Đặc biệt khai thác dầu thô trong nước vượt 450 nghìn tấn so với kế hoạch, góp phần quan trọng tăng trưởng GDP cả nước 9 tháng đạt 6,98%. Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí tiếp tục được triển khai và đạt được nhiều hiệu quả. Trữ lượng trong 9 tháng đạt 6 triệu tấn quy dầu.

Tổng sản lượng khai thác khí 9 tháng đạt 7,61 tỷ m3. Sản xuất điện 9 tháng đạt 16,03 tỷ kWh. Sản xuất đạm 9 tháng đạt 1,23 triệu tấn. Sản xuất xăng dầu 9 tháng đạt 6,50 triệu tấn.

Đặc biệt, sản lượng khai thác quy dầu 9 tháng đạt 18,17 triệu tấn, bằng 105,9% so với kế hoạch 9 tháng và bằng 79,6% kế hoạch năm, trong đó: Sản lượng khai thác dầu 9 tháng đạt 10,56 triệu tấn (khai thác dầu ở trong nước 9 tháng đạt 9,09 triệu tấn; ở nước ngoài 9 tháng ước đạt 1,47 triệu tấn).

Bên cạnh đó, do giá dầu thô trung bình 9 tháng qua đạt 74,6USD/thùng, vượt 24,6USD/thùng so với mức giá kế hoạch và tăng hơn 37% so với mức giá trung bình cùng kỳ năm 2017 nên tổng doanh thu toàn Tập đoàn 9 tháng đạt 449,1 nghìn tỷ đồng, vượt 20,1% so với kế hoạch 9 tháng; nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn 9 tháng đạt 81,4 nghìn tỷ đồng, vượt 52,1% so với kế hoạch 9 tháng và vượt 10,4 % kế hoạch năm.

Tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm nhà nước về dầu khí và các dự án trọng điểm của Tập đoàn được kiểm soát chặt chẽ.

Công tác chuyển đổi và tái cấu trúc doanh nghiệp được đẩy mạnh theo đúng tiến độ đề ra. Dự kiến đến hết tháng 9/2018, Tập đoàn đã hoàn thành bán cổ phần lần đầu và tổ chức thành công đại hội cổ đông lần đầu của 3 đơn vị là PVOil, PVPower và BSR.

Công tác tái cấu trúc bộ máy Công ty mẹ – Tập đoàn được triển khai khẩn trương, mô hình quản trị của Công ty mẹ – Tập đoàn đã được tinh gọn, giảm bớt trung gian. Cùng với đó, Tập đoàn đã hoàn thành Đại hội đồng cổ đông năm 2018 ở các đơn vị thành viên. Tập đoàn đã hoàn thành thoái vốn tại Công ty CP Bất động sản Dầu khí Việt Nam –SSG, Công ty TNHH Hóa dầu Long Sơn (LSP).

Quốc Trọng

Ngành da giày: Dịch chuyển phát triển sản xuất nâng cao năng suất chất lượng

Với những tác động từ xu hướng trên thế giới, ngành da giày Việt Nam cũng đang có những thay đổi về dịch chuyển phát triển sản xuất để thích ứng.

Ngành da giày được dự báo có sức bật tốt trong năm 2018 nhờ tác động từ các hiệp định thương mại tự do với các thị trường xuất khẩu lớn. Nhiều năm qua, da giày luôn nằm trong top 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, ngành da giày chủ yếu làm gia công xuất khẩu, chi phí lao động chiếm trên 70%.

Điều này khiến doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành có sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày gặp nhiều khó khăn và phải tìm giải pháp ứng phó như giảm tiền lương mềm, sử dụng máy móc thay thế người lao động…

Ngành da giày: Dịch chuyển phát triển sản xuất nâng cao năng suất chất lượng - ảnh 1

Da giày luôn nằm trong top 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 

Với những tác động từ xu hướng trên thế giới, ngành da giày Việt Nam cũng đang có những thay đổi để thích ứng. Cụ thể là trước tình hình chi phí nhân công tăng cao ảnh hưởng đến lợi nhuận của các DN, các DN da giày cũng có xu hướng dịch chuyển sản xuất từ các tỉnh Đông Nam Bộ, sang các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

 Các DN da giày cũng có xu hướng dịch chuyển sản xuất từ các tỉnh Đông Nam Bộ, sang các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

Các thống kê của LEFASO cho thấy, nếu như năm 2010, các DN da giày tập trung 70% tại vùng Đông Nam Bộ thì đến nay đã giảm xuống chưa tới 70%. Nguyên nhân của sự dịch chuyển này là nhằm tiết giảm chi phí nhân công vì các tỉnh ĐBSCL là khu vực có hệ số tăng lương tối thiểu thấp hơn khu vực Đông Nam Bộ. Đồng thời cũng là khu vực này có khoảng cách gần và hệ thống giao thông thuận tiện.

Bên cạnh sự dịch chuyển về sản xuất, ngành da giày trong nước cũng ghi nhận sự gia tăng của ngành công nghiệp phụ trợ. Hiện tại, sản xuất nguyên liệu cho ngành da giày đã tăng 15%, cho ngành túi xách tăng từ 8% đến 10%, trong khi sản xuất giày dép, túi xách chỉ tăng trên dưới 2% cho thấy việc sản xuất nguyên vật liệu cho ngành đã tăng hơn rất nhiều.

Hòa Lê

Xuất khẩu gạo, chuyển từ lượng sang chất

Xuất khẩu gạo Việt Nam tiếp tục tạo dấu ấn khi các phân khúc gạo thơm, gạo chất lượng cao chiếm vị trí áp đảo. Điều này cũng đồng nghĩa, giá trị hạt gạo Việt Nam tăng và tạo được uy tín trên thương trường.

Dự báo xuất khẩu gạo sắp tới sẽ tiếp tục khởi sắc

Dự báo xuất khẩu gạo sắp tới sẽ tiếp tục khởi sắc

Trong bối cảnh biến động khí hậu đang tác động mạnh đến vùng trồng lúa, việc chuyển đổi sản xuất từ nặng về số lượng sang nâng cao giá trị được xem là một cách thích ứng.

Thay gạo phẩm cấp thấp bằng gạo thơm

Đến cuối tháng 9-2018, nông dân ĐBSCL đã thu hoạch dứt điểm 1,6 triệu hécta lúa hè thu. Đồng thời, nông dân một số vùng Hậu Giang, Cần Thơ đã bắt đầu thu hoạch lúa thu đông. “Gia đình vừa thu hoạch 1 ha lúa thu đông, thương lái đến tận ruộng mua liền tay với giá 5.100 đồng/kg. Đây là mức giá cao, gia đình đạt lợi nhuận gần 20 triệu đồng”, anh Trần Văn Khuyên, nông dân ở thị xã Long Mỹ, Hậu Giang cho biết. Điều đáng ghi nhận là nhiều nông dân trồng lúa thơm, lúa chất lượng cao bán trên 6.000 đồng/kg. Có thể nói, bước tiến của việc sản xuất lúa thơm, lúa chất lượng cao của nông dân ĐBSCL là một kỳ tích trong 30 năm qua.

Nếu như vào năm 2012, trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, gạo trắng chất lượng trung bình và thấp chiếm đến 40%, hiện nay đã giảm xuống chỉ còn khoảng 15%. Gạo thơm từ chỗ chiếm 33,6% năm 2012, nay tăng vọt lên 37,4%. Đây là một bước chuyển quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu gạo của Việt Nam. “Tìm đầu ra cho nông sản có giá trị xuất khẩu cao có thể được xem là một trong các giải pháp được chọn. Việt Nam phải có chiến lược xuất khẩu gạo hợp lý, không phải từ hạt gạo mà từ hạt lúa”, GS-TS sĩ Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, nhận định.

Thống kê của Bộ Công thương cho thấy, từ cuối năm 2017 đến nay, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng trưởng. Hiện giá gạo xuất khẩu của ta đã cao hơn các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan, Pakistan, Ấn Độ từ 50 – 100USD/tấn. Đây chính là lý do khiến ngành lúa gạo có sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu ấn tượng trong 9 tháng đầu năm.

Theo nhận định của TS Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, chưa bao giờ gạo Việt được đón nhận đến thế khi xuất khẩu tăng trưởng mạnh cả về khối lượng lẫn giá trị. “Theo thống kê, mỗi năm Trung Quốc tiêu thụ tới 140 triệu tấn lúa gạo. Đây là cơ hội để chúng ta đẩy mạnh xuất khẩu gạo vào thị trường này. Ngoài ra, Việt Nam đã có một vụ lúa đông xuân 2017 – 2018 khá thắng lợi cả về sản lượng lẫn cơ cấu giống, tạo nguồn nguyên liệu dồi dào phục vụ xuất khẩu”, TS Trần Ngọc Thạch nói.

Tăng giá trị để bù diện tích giảm

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), đến nay Việt Nam đã xuất khẩu trên 4,3 triệu tấn gạo, trị giá trên 2 tỷ USD, giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 275,9USD/tấn. Trong 3 năm gần đây, câu chuyện lúa hàng hóa ùn ứ do bị nghẽn khi tiêu thụ vào chính vụ đã không còn xảy ra. Lý giải điều này, có thể nói một cách đơn giản là mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để trồng các giống lúa chất lượng cao, lúa thơm để đa dạng các phân khúc xuất khẩu gạo là hướng đi đúng. Trong 5 năm qua, giữa nhà khoa học, nhà xuất khẩu và nhà nông đã hình thành chuỗi sản xuất khá bài bản của nghề trồng lúa và xuất khẩu gạo Việt Nam. Không chỉ liên kết với nông dân trồng lúa theo nhu cầu thị trường mà các doanh nghiệp cũng đã chú trọng xây dựng thương hiệu cho gạo Việt.  Điển hình là nhiều doanh nghiệp như Tập đoàn Lộc Trời, Công ty cổ phần Gentraco… đã đầu tư các giống lúa thơm, chất lượng cao, gắn với bao tiêu cho nông dân.

Để làm được điều này, những doanh nghiệp như Lộc Trời, Gentraco… đã cử đội ngũ cán bộ kinh doanh và kỹ thuật xuống tận ruộng để đặt hàng và hướng dẫn nông dân trồng lúa đạt các tiêu chuẩn khắt khe. Đây là những công đoạn quan trọng để có thể đáp ứng các yêu cầu đa dạng từ các thị trường, nhất là phân khúc gạo thơm và chất lượng cao. Cả nông dân Việt Nam và VFA đều ý thức được ngành lúa gạo Việt Nam đang đối diện với những thách thức rất lớn. Trong đó, diện tích trồng lúa có thể giảm mạnh và chịu sự tác động rất lớn do biến đổi khí hậu và môi trường (hạn hán, xâm mặn), công nghiệp hóa, đô thị hóa. Tại ĐBSCL, vụ lúa thu đông hiện nay do lũ lớn chỉ sản xuất 534.000ha, giảm hơn 200.000ha so với kế hoạch. Xuất khẩu gặp nhiều cạnh tranh từ các nước xuất khẩu tiềm năng; giá xuất khẩu gạo có biến động thường xuyên và rủi ro cao làm giảm hiệu quả kinh doanh. Vì thế, gia tăng giá trị hạt gạo là giải pháp quan trọng giúp nông dân nâng cao đời sống.

Việc tiếp tục chuyển đổi cơ cấu gieo trồng tại một số vùng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất; tập trung hơn vào nâng cao chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng, cải thiện hiệu quả xuất khẩu và lợi nhuận của người trồng lúa là hết sức cần thiết. Trong khi diện tích trồng lúa giảm, doanh nghiệp, nông dân cần tập trung vào các giống lúa có phẩm chất tốt. Với khẩu phần ít, nhưng năng lượng cao, gạo dinh dưỡng sẽ là hướng đi tương lai của xuất khẩu gạo Việt Nam.

CAO PHONG

Tỷ giá ngoại tệ ngày 3/10: USD vụt tăng

Sáng nay, tỷ giá trung tâm VND/USD tăng nhẹ trong khi USD thế giới tăng mạnh hơn.

Lúc 8h30 hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.347 đồng/USD, tăng 3 đồng so với đầu phiên hôm qua; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và  CNY ở mức 1 CNY đổi 3.305,25 VND, ngang giá hôm qua.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.718 đồng/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.399 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.037 VND/USD.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, 8h30 sáng nay, giá USD biến động nhẹ so với cùng thời điểm hôm qua. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.295 – 23.375 VND/USD, tăng 5 đồng; VietinBank niêm yết giá 23.298 – 23.378 VND/USD, tăng 7 đồng; BIDV niêm yết giá 23.300-23.380 VND/USD, tăng 10 đồng.

Trên thị trường tự do, giá mua – bán USD hiện đang là 23.440 23.460 đồng/USD, giữ giá mua vào, giá bán ra giảm 10 đồng so với cùng thời điểm hôm qua.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng đô la Mỹ với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đang tăng nhẹ, hiện ở mức 95,17 điểm, cao hơn mức cùng thời điểm sáng qua 94,71 điểm. Phiên hôm qua, USD Index có lúc tăng lên mức cao nhất phiên là 95,31 điểm, sau đó giảm xuống 95,02 điểm trước khi tăng nhẹ trở lại sáng nay.  Đêm qua, đồng USD trên thị trường quốc tế vụt tăng do đồng USD đồng euro và bảng Anh lao dốc, trong bối cảnh Mỹ phát tín hiệu sẽ tiếp tục chính sách thắt chặt tiền tệ.

Hiện, USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,152 USD; 113,78 yen đổi 1 USD  và 1,2960 USD đổi 1 bảng Anh.

Trên Bloomberg, đồng Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc so với USD sáng nay tiếp tục ở mức 1 USD đổi được 6,8689 CNY (hoặc 1 CNY đổi 0,1456 USD)./.

PV/VOV.VN

Giá vàng tăng vọt khi rủi ro gia tăng tại châu Âu

Sau cuộc họp của Fed tuần qua, giá vàng tụt xuống gần đáy của tháng 8. Tuy nhiên, đầu tuần này, với rủi ro gia tăng tại châu Âu, giá vàng đã trở lên trên ngưỡng tâm lý 1.200 USD/ounce.

Giá vàng tăng vọt gần 20 USD vào cuối chiều qua khi rủi ro gia tăng trên thị trường đến từ Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, giới đầu tư vẫn tỏ ra lo lắng do đồng USD đang trên đà tăng mạnh và có thể gây áp lực bán tháo trên thị trường vàng trở lại.

Đồng Euro giảm và giá vàng tăng sau khi một quan chức nước Ý phát biểu rằng nước Ý tốt hơn nên sử dụng một đồng tiền riêng. Trước đó, nước Ý đã đưa ra một bản kế hoạch ngân sách với bội chi cao, được nhiều chuyên gia dự đoán là khó có thể được EU thông qua. Điều này khiến yếu tố an toàn truyền thống của vàng được kích hoạt trên thị trường châu Âu.

Thêm nữa, các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới hầu như đều giảm điểm. Và giá dầu thô Nymex đang giao dịch quanh mức đỉnh cao nhất trong 4 năm qua. Diễn biến trên 2 thị trường này cũng đang giúp đỡ cho đà tăng của giá vàng.

Mặc dù giá vàng đã sụt giảm tới 14% so với mức đỉnh cao nhất trong năm, tuy nhiên một số ngân hàng trung ước vẫn tiếp tục mua vàng mạnh trong năm 2018, nổi bật nhất là Nga, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Kazakhtan. Giới phân tích tại Ngân hàng Macquarie cho biết, tổng lượng mua vào từ các ngân hàng trung ương đang ở mức cao nhất trong 6 năm qua, đạt 264 tấn vàng kể từ đầu năm.

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế, Ba Lan đã mua vàng trong mùa hè ảm đảm vừa qua với tốc độ chưa từng có trong 20 năm qua. Tận dụng lợi thế giá vàng xuống thấp, thành viên này của châu Âu đã thêm tới 9 tấn vàng. Cụ thể, 2 tấn trong tháng 7 và hơn 7 tấn vàng trong tháng 8. Mặc dù, số lượng vàng nắm giữ của quốc gia này vẫn chưa lọt top 30 trên thế giới, nhưng việc mua vào đã tăng dữ trự vàng miếng của Ba Lan lên mức cao nhất kể từ năm 1983. Dự trự vàng của Ba Lan hiện ở mức 112,3 tấn. Đây được xem là thông tin hỗ trợ tích cực cho giá vàng trong bối cảnh hiện nay.

Diễn biến giá vàng thế giới 24 giờ qua.

Mở đầu phiên giao dịch châu Á sáng nay, giá vàng giao ngay hiện ở mức 1.205 USD/oz, tăng 15 USD so với cùng thời điểm hôm qua.

Quy đổi sang đồng Việt Nam, giá vàng thế giới tương đương 34,34 triệu đồng/lượng (chưa tính phí vận chuyển và phí bảo hiểm), thấp hơn giá vàng SJC 2,1 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trong nước tính đến 10h sáng nay: SJC tăng 80.000 đồng/lượng so với sáng qua, niêm yết tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh ở mức 36,43 – 36,58 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Tại khu vực Hà Nội, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 36,39 – 26,56 triệu đồng/lượng.

An Nhiên 

TheLEADER

Trung Quốc tiếp tục cắt giảm thuế nhập khẩu cho hàng loạt mặt hàng

Bộ Tài Chính Trung Quốc vừa thông báo, nước này sẽ cắt giảm thuế nhập khẩu đối với hàng loạt các mặt hàng nhằm tăng lượng hàng hóa nhập khẩu.

Theo Reuters, các mặt hàng được giảm thuế như sản phẩm dệt và kim loại, bao gồm cả thép, sẽ được giảm từ 11,5% xuống còn 8,4%.

Các sản phẩm gỗ, giấy, khoáng sản và đá quý cũng sẽ được cắt giảm thuế nhập khẩu từ 6,6% xuống còn 5,4%.

Sắt thép khi nhập khẩu vào Trung Quốc sẽ được giảm thuế vào ngày 1/11 tới đây

Theo đó, mức thuế nhập khẩu trung bình cho hơn 1.500 mặt hàng sẽ giảm từ mức 10,5% xuống còn 7,8%.

Bộ Tài chính Trung Quốc cho biết: “Giảm thuế có lợi cho sự thúc đẩy cân bằng giao thương với nước ngoài và đẩy mạnh hơn nữa quá trình mở cửa của nền kinh tế Trung Quốc”.

Các mức thuế trên sẽ được áp dụng vào ngày 1/11 tới đây.

Bắc Kinh đang đưa ra các hành động nhằm thực hiện cam kết giảm thuế từ hồi đầu năm để tăng hàng hóa nhập khẩu đến nước này trong bối cảnh chiến tranh thương mại với Mỹ đang nóng lên từng ngày.

Trước đó, trong tháng 7, Trung Quốc đã giảm thuế cho gần 1.500 mặt hàng bao gồm may mặc, mỹ phẩm, đồ gia dụng.

ĐÔNG BẮC

Tỷ giá ngoại tệ ngày 1/10: USD thế giới tăng, trong nước giảm

Sáng nay, chỉ số giá USD trên thị trường thế giới tăng trong khi đó giá USD trong nước giảm.

Lúc 8h10 hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.345 đồng/USD, ngang giá cùng thời điểm cuối tuần trước; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

ty gia ngoai te ngay 1/10: usd the gioi tang, trong nuoc giam hinh 1

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và  CNY ở mức 1 CNY đổi 3.305 VND, ngang giá cuối tuần trước.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.714 đồng/USD, giảm 1 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.395 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.033 VND/USD.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, 8h10 sáng nay, giá USD biến động nhẹ so với cùng thời điểm cuối tuần qua.  Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.290 – 23.370 VND/USD, ngang giá cuối tuần trước; VietinBank niêm yết giá 23.291 – 23.371 VND/USD, giảm 6 đồng; BIDV niêm yết giá 23.290-23.370 VND/USD, ngang giá.

Trên thị trường tự do, giá mua – bán USD hiện đang là 23.455 23.470 đồng/USD, không đổi so cuối tuần trước.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng đô la Mỹ với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đang tăng nhẹ, hiện ở mức 94,80 điểm. Cuối tuần trước, USD Index giảm xuống 94,42 điểm. Nếu tính chung cả tuần qua, chỉ số USD Index đang xu hướng tăng giá.

Đồng Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc so với USD sáng nay 1 USD đổi được 6,8689 CNY (hoặc 1 CNY đổi 0,1456 USD)./.

PV/VOV.VN

Giá vàng trong nước bất ngờ tăng nhẹ sáng ngày đầu tháng 10

 Trái với diễn biến đi xuống trên thị trường vàng thế giới, giá vàng trong nước mở đầu tháng 10 bằng bước tăng nhẹ, hiện ở mức 36,35-36,50 đồng/lượng.

Đầu phiên giao dịch sáng nay (1/10), theo niêm yết của Công ty VBĐQ Sài Gòn, giá vàng SJC đang ở mức 36,35 – 36,50 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng được điều chỉnh tăng 70.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán so với phiên giao dịch cuối tuần qua. Mức chênh lệch giá mua – bán giữ nguyên là 150.000 đồng/lượng.

Cùng thời điểm, Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng ở mức 36,37– 36,47 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), tăng 30.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua – bán so với chốt phiên cuối tuần. Mức chênh lệch giá bán vẫn cao hơn giá mua 100.000 đồng mỗi lượng.

gia vang trong nuoc bat ngo tang nhe sang ngay dau thang 10 hinh 1
Giá vàng trong nước được điều chỉnh tăng nhẹ. (Ảnh minh họa: KT)

Giá vàng thế giới giao ngay trên sàn Kitco giao dịch ở mức 1.191,90 – 1.192,90 USD/ounce. Hợp đồng vàng giao tháng 12 trên sàn Comex của New York Mercantile Exchange tăng nhẹ 0,7% lên 1.195,0 USD/ounce.

Tính theo tỷ giá ngoại tệ ngày hôm nay (1/10) theo niêm yết của ngân hàng Vietcombank (23.370 VND/USD), giá vàng thế giới hiện có giá tương đương 33,58 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC 2,92 triệu đồng/lượng.

Nhận định về triển vọng giá vàng tuần này, các chuyên gia và nhà đầu tư tham gia khảo sát của Kitco News đều cho thấy quan điểm không mấy lạc quan./.

VOV.VN – Trong khi đa số các chuyên gia đều nhận định giá vàng trong tuần tới sẽ giảm, các nhà đầu tư lại phân vân giữa ngã ba đường.
Trần Ngọc/VOV.VN

Cổ phiếu dầu khí hút mạnh dòng tiền

Nhiều cổ phiếu dầu khí thời gian gần đây thu hút được dòng tiền từ giới đầu tư khi giá dầu tiếp tục có diễn biến tăng sau đợt điều chỉnh trước đó.

Giá dầu Brent thế giới kết thúc ngày 25/9 vượt ngưỡng 80 USD/thùng sau thông tin OPEC và các nước đồng minh đã không đi đến một giải pháp bù đắp nguồn cung thiếu hụt từ Iran do lệnh trừng phạt của Mỹ. Giá dầu Brent đã tăng hơn 5% trong vòng gần 1 tháng.

Công ty Chứng khoán Bản Việt cho rằng, việc thắt chặt nguồn cung có thể giúp giá dầu duy trì ở mức cao trong ít nhất 2 năm tới. Theo đó, Bản Việt đã nâng dự báo giá dầu trong kịch bản cơ sở năm 2018 và 2019 lên mức 75 USD/thùng, tăng 5 USD/thùng so với trước đó.

Các doanh nghiệp ngành khí, dẫn đầu là Tổng công ty Khí Việt Nam (GAS), được hưởng lợi nhiều nhất từ xu hướng giá dầu này. Trên sàn chứng khoán, giá hầu hết cổ phiếu trong ngành tăng bình quân 15% trong gần 1 tháng qua.

Một trong những cổ phiếu tăng giá mạnh, với thanh khoản cải thiện đáng kể là PVD của Tổng công ty Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí. Giá cổ phiếu này bật tăng sau khi doanh nghiệp công bố thông tin về việc xử lý thu hồi khoản nợ khó đòi hơn 200 tỷ đồng từ đối tác.

Kết thúc phiên 25/9, cổ phiếu PVD dừng ở mức giá 19.900 đồng/cổ phiếu, tăng gần 38%, từ mức 14.400 đồng/cổ phiếu ngày 5/9. Hỗ trợ đà tăng này là diễn biến khả quan của giá dầu.

Theo tính toán của Công ty Chứng khoán Maybank Kim Eng, giá dầu duy trì ở mức 70 USD/trong vòng ít nhất 6 tháng thì hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp khoan như PVD mới được cải thiện. Thực tế, giá dầu đã duy trì ở mức trên 70 USD/thùng trong hơn 5 tháng trở lại đây.

Ở góc nhìn thận trọng, chuyên viên theo dõi ngành tại một công ty chứng khoán có thị phần trong Top 10 cho rằng, hoạt động kinh doanh chính của PVD là khoan và dịch vụ khoan vẫn đang gặp không ít khăn.

Nhiều khả năng, sớm nhất sang năm 2019 thì thị trường khoan trong khu vực mới dần hồi phục, bởi tình trạng thừa cung giàn khoan và cạnh tranh gay gắt khiến giá thuê giàn khoan khó tăng.

Hiện nay, PVD có 2 trên tổng số 6 giàn khoan đang “nằm chờ việc”, trong đó có giàn TAD V, vốn thực hiện cho dự án Cá Rồng Đỏ nhưng hiện đã tạm hoãn và chờ hướng xử lý.

Mặt khác, theo PVD, trong thời gian “chờ có việc”, doanh nghiệp đang nỗ lực tìm kiếm hoạt động tạo doanh thu cho giàn khoan, thậm chí tính đến phương án thanh lý giàn khoan để cải thiện cơ cấu tài sản và hiệu quả hoat động.

Một cổ phiếu khác ghi nhận mức giá và thanh khoản tăng vọt là PVB của Công ty cổ phần Bọc ống dầu khí Việt Nam, giá tăng từ mức 16 “chấm” lên 23 “chấm”, khối lượng giao dịch trong hơn 10 phiên trở lại đây đạt trung bình trên 400.000 đơn vị/phiên, trong khi trước đó thường xuyên dưới mức 200.000 đơn vị/phiên.

Hiệu quả hoạt động của PVB phụ thuộc không nhỏ vào diễn biến giá dầu. Giá dầu tăng kích thích các dự án dầu khí lớn được khởi động và PVB với vai trò là nhà đầu thi công bọc ống sẽ có nhiều việc để làm.

PVB có lợi thế là công ty con của GAS, cung cấp dịch vụ bọc ống cho các dự án do GAS làm chủ đầu tư. Hiện tại, trong số các dự án tiềm năng của PVB, đáng chú ý là dự án đấu thầu thi công cho dự án Nam Côn Sơn 2 và dự án Sư Tử Trắng.

Được biết, lợi nhuận các năm gần đây của PVB trồi sụt: năm 2015 lãi sau thuế 126,3 tỷ đồng, năm 2016 lỗ 54 tỷ đồng, năm 2017 lãi 56,3 tỷ đồng. 5 quý gần nhất, PVB có lãi, trong khi trước đó có 3 quý thua lỗ.

Với đà tăng giá vừa qua, cổ phiếu ngành dầu khí đang được cho là hoàn tất giai đoạn tạo đáy sau khi thị trường chứng khoán điều chỉnh mạnh trong quý II/2018.

Theo báo cáo tài chính bán niên 2018 đã soát xét, PVB có giá trị sổ sách khoảng 20.000 đồng/cổ phiếu. Công ty đã hoàn thành 47% chỉ tiêu kế hoạch doanh thu và hơn 97% chỉ tiêu kế hoạch lợi nhuận sau thuế 28 tỷ đồng cả năm.

Với đà tăng giá vừa qua, cổ phiếu ngành dầu khí đang được cho là hoàn tất giai đoạn tạo đáy sau khi thị trường chứng khoán điều chỉnh mạnh trong quý II/2018.

Nhà đầu tư mua vào cổ phiếu ở thời điểm này nhằm đón đầu kết quả kinh doanh quý III dự kiến khả quan, hoặc kỳ vọng giá dầu sẽ tiếp tục tăng.

Tuy nhiên, tương lai giá dầu vẫn là một ẩn số khó đoán định và tác động đến từng doanh nghiệp theo các mức độ khác nhau, nên nếu giá dầu có diễn biến đảo chiều, hay kết quả kinh doanh của doanh nghiệp không như mong đợi, cổ phiếu dầu khí sẽ khó tránh khỏi nhịp điều chỉnh.

Ngọc Nhi

Trung Quốc sẽ giảm thuế nhập khẩu hơn 1.500 sản phẩm

Trung Quốc thông báo kế hoạch cắt giảm thuế đối với một loạt sản phẩm nhập khẩu trong bối cảnh xung đột thương mại với Mỹ ngày càng leo thang.

Các container tại một cảng ở Liên Vân, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc /// Reuters

Các container tại một cảng ở Liên Vân, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc

REUTERS
Gói cắt giảm thuế nhập khẩu cho khoảng 1.585 sản phẩm, bao gồm máy móc, dệt may, thiết bị điện và vật liệu xây dựng, sẽ chính thức được áp dụng vào ngày 1.11.2018. Động thái này ước tính sẽ giảm khoảng 60 tỉ nhân dân tệ (tương đương 8,7 tỉ USD) gánh nặng thuế quan cho các công ty và người tiêu dùng, Bloomberg trích tuyên bố của Quốc vụ viện Trung Quốc cho biết.
Hơn một phần ba triệu phú Trung Quốc muốn rời khỏi nước

Với bước đi trên, thuế quan chung của Trung Quốc sẽ giảm từ 9,8% trong năm ngoái xuống còn 7,5% trong năm nay. Mức cắt giảm lớn nhất sẽ áp dụng cho máy móc, thiết bị đo lường và các loại thiết bị cơ điện khác, những mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất. Cụ thể, thuế suất trung bình đối với các sản phẩm này giảm từ 12,2% trong năm ngoái xuống còn 8,8%. Thuế của vật liệu xây dựng và dệt may giảm từ 11,5% xuống còn 8,4%. Trong khi đó, sản phẩm từ giấy và các sản phẩm chính khác có mức cắt giảm thấp nhất, từ 6,6% xuống 5,4%.

Hiện vẫn chưa rõ gói cắt giảm thuế sẽ được áp dụng như thế nào đối với các sản phẩm của Mỹ đang bị ảnh hưởng bởi thuế trả đũa từ phía Bắc Kinh. Thông báo giảm thuế được đưa ra không lâu sau khi Washington áp thuế vòng hai lên 200 tỉ USD giá trị hàng hóa của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Để đáp lại, Bắc Kinh cũng tuyên bố đánh thuế 60 tỉ USD giá trị hàng nhập khẩu của đối phương, điều này khiến chính quyền Tổng thống Donald Trump đe dọa sẽ đi đến cùng về thuế quan đối với hơn 500 tỉ USD hàng hóa của Trung Quốc.

Phương Anh

Mỹ không tăng cung, giá dầu lên cao nhất 4 năm

Theo khẳng định mới nhất của Bộ trưởng Năng lượng Mỹ, Rick Perry, hiện tại Mỹ không có kế hoạch sử dụng đến dầu trong dự trữ chiến lược.

Mỹ không tăng cung, giá dầu lên cao nhất 4 năm

Ảnh: GettyImages

Phiên giao dịch ngày thứ Năm, giá dầu toàn cầu chạm mức cao nhất trong 4 năm, quan chức chính phủ Mỹ khẳng định rằng ngay cả nếu có bán ra dự trữ dầu nội địa Mỹ, điều đó không đủ để ngăn giá dầu tăng cao hơn nữa.
Những đồn đoán về tình trạng gián đoạn nguồn cung gây ra bởi việc Mỹ tái áp dụng các lệnh trừng phạt chống Iran tiếp tục hỗ trợ cho giá dầu. Trong khi đó, giá khí đốt tự nhiên tại Mỹ tăng sau khi số liệu từ phía Mỹ cho thấy dự trữ nội địa tăng.
Thị trường New York, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI tăng 55 cent tương đương 0,8% lên 72,12USD/thùng. Trước đó trong phiên ngày thứ Tư, giá dầu thô giảm 1%.
Thị trường London, giá dầu Brent kỳ hạn tháng 11/2018 tăng 38 cent tương đương 0,5% lên 81,72USD/thùng, phiên liền trước đó, giá dầu Brent mất gần 0,7%. Phiên ngày thứ Sáu là phiên giao dịch cuối cùng của giá dầu Brent giao kỳ hạn tháng 11/2018.
Saudi Arabia, một trong những nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới đồng thời là 1 thành viên quan trọng thuộc Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), gần đây đã dẫn đầu những nỗ lực cung cấp thêm dầu vào thị trường toàn cầu để bù lại lượng cung thiếu hụt trên thị trường toàn cầu khi Mỹ tái áp dụng các biện pháp trừng phạt Iran.
Theo Reuters, Saudi Arabia và một số nước sản xuất dầu lớn của thế giới gần đây đã bàn đến việc sẽ nâng sản lượng thêm 500 nghìn thùng/ngày. Tuy nhiên sau đó họ đã quyết định không tăng sản lượng.
Các thành viên thị trường đã lo ngại về khả năng Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể sử dụng đến biện pháp bán dầu từ dự trữ dầu chiến lược của Mỹ (SPR) để ngăn giá dầu tăng cao, theo ông việc này không tốt cho kinh tế Mỹ và ông đã tạo sức ép để Saudi Arabia phải giữ giá dầu thấp.
Tuy nhiên, theo khẳng định mới nhất của Bộ trưởng Năng lượng Mỹ, Rick Perry, hiện tại Mỹ không có kế hoạch sử dụng đến dầu trong dự trữ chiến lược.
Trong buổi họp báo vào ngày thứ Tư, Tổng thống Trump đã hối thúc các thành viên thuộc Hội đồng bảo an Liên hợp quốc phải tuân thủ với lệnh trừng phạt mà ông đã áp với Iran.

TRUNG MẾN

9 tháng đầu năm: Nông, lâm, thủy sản tăng trưởng vượt kế hoạch

So với mức tăng trưởng của 9 tháng đầu năm 2017 (2,78% về GDP và 2,92% về giá trị SX), 3 quý đầu năm 2018, nông, lâm, thủy sản đã có mức tăng cao…

Theo số liệu sơ bộ của Bộ NN-PTNT, 9 tháng đầu năm 2018, giá trị SX nông, lâm, thủy sản ước tăng 3,81 – 3,82%; GDP nông, lâm, thủy sản dự báo ước tăng khoảng 3,5 – 3,6% so với cùng kỳ năm 2017, vượt so với mục tiêu tăng trưởng 9 tháng đầu năm đề ra về giá trị SX tăng 3,36%, GDP tăng 3,01%.
18-19-25_16-32-47_nh_2_-_xut_khu_c_tr_o_dbscl
Tranh thủ thời cơ, thủy sản tiếp tục là “trụ đỡ” cho toàn ngành nông nghiệp trong 9 tháng đầu năm 2018

So với mức tăng trưởng của 9 tháng đầu năm 2017 (2,78% về GDP và 2,92% về giá trị SX), 3 quý đầu năm 2018, nông, lâm, thủy sản đã có mức tăng cao so trong nhiều năm trở lại đây cả về giá trị SX và GDP. Cụ thể trong mức tăng chung trên 3,8% về giá trị SX, lĩnh vực nông nghiệp tăng 2,81% (trồng trọt tăng 3,0%, chăn nuôi tăng 2,41%); lâm nghiệp tăng 6% và cao nhất là thủy sản với mức tăng 6,46%.

Thủy sản chớp thời cơ

Với mức tăng 6,46% về giá trị SX, 9 tháng đầu năm 2018, thủy sản tiếp tục tạo được bước đi vững chắc cả về khai thác và nuôi trồng, đóng góp chủ chốt vào mức tăng trưởng toàn ngành.

Cụ thể, dịch vụ hậu cần nghề biển phát triển mạnh, cùng với lượng cá nổi ở vụ cá nam và vụ cá bắc xuất hiện tương đối dày đặc giúp lũy kế 9 tháng đầu năm, sản lượng khai thác ước đạt xấp xỉ 2,58 triệu tấn, tăng 5,1% so với 9 tháng 2017. Nuôi trồng thủy sản 9 đầu năm ước đạt 2,93 triệu tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ. Trong đó, các đối tượng nuôi chính như cá tra sản lượng nuôi tại các tỉnh ĐBSCL 9 tháng ước đạt 992,7 nghìn tấn, tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước (một số tỉnh đạt sản lượng lớn gồm Đồng Tháp sản lượng đạt 319,9 nghìn tấn, tăng 4,5%; An Giang đạt 261,9 nghìn tấn, tăng 22,3%; Bến Tre: đạt 157 nghìn tấn, tăng 12,5% so với cùng kỳ). Tôm nước lợ cũng tiếp tục tăng mạnh, với sản lượng cả nước ước đạt 516,5 nghìn tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm sú ước đạt 211,5 nghìn tấn, tôm thẻ chân trắng ước đạt 305 nghìn tấn). Riêng ĐBSCL, sản lượng tôm sú ước đạt 201 nghìn tấn, tăng 5,8%; tôm thẻ ước đạt 237,9 nghìn tấn, tăng 9,9%.

Cùng với sự ổn định về nguồn nguyên liệu trong nước, XK thủy sản tiếp tục giữ được đà tăng trưởng với tổng kim ngạch ước đạt 6,395 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ, trong đó: cá tra ước đạt 1,61 tỷ USD, tăng 24,6%; tôm các loại ước đạt 2,62 tỷ USD, giảm 4,5%.

Chế biến cá tra XK (Ảnh: Lê Hoàng Vũ)

Ông Nguyễn Ngọc Oai, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản đánh giá: 8 tháng đầu năm 2018, việc EU áp ”thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam đã phần nào gây nhiều khó khăn cho hoạt động XK. Tuy nhiên từ đầu tháng 9/2018 đến nay, hoạt động XK thủy sản đã bất ngờ tăng trưởng mạnh trở lại nhờ việc Hoa Kỳ giảm thuế NK cho nhiều DN trong ngành tôm và cá tra của Việt Nam. Bên cạnh đó, XK cá tra sang các thị trường tiềm năng mới như Trung Quốc, các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, Nga, Đan Mạch… cũng tăng rất mạnh.

Theo Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường, thủy sản sẽ tiếp tục là ngành hàng có nhiều triển vọng từ nay đến cuối năm 2018 cũng như thời gian tới.

Về các nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến cuối năm, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường đặc biệt lưu ý: Hiện nay, lũ tại ĐBSCL về sớm hơn mọi năm và đang có những diễn biến bất thường, khó dự báo. Nếu tình hình lũ lớn kéo dài, có thể gây những thiệt hại khó lường về người và tài sản, đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng tới SX lúa và thủy sản từ nay đến cuối năm 2018 – đầu năm 2019. Vì vậy, công tác theo dõi, dự báo báo lũ tại ĐBSCL sẽ có tính chất hết sức quan trọng trong thời gian tới.

Vì vậy trong các tháng cuối năm, Bộ NN-PTNT cùng với các địa phương, nhất là ĐBSCL sẽ có các giải pháp chỉ đạo kịp thời nhằm tận dụng các thời cơ của ngành thủy sản, đảm bảo không xẩy ra việc thiếu hụt nguồn nguyên liệu chế biến XK từ nay đến cuối năm và đầu năm 2019.

Nhiều mặt hàng chủ lực tăng trưởng mạnh

Không chỉ thủy sản, 9 tháng đầu năm 2018, nhiều mặt hàng nông, lâm sản của Việt Nam tiếp tục có đà tăng trưởng ấn tượng.

Cụ thể, tổng kim ngạch XK toàn ngành 9 tháng ước đạt 29,54 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2017, bằng 73% kế hoạch cả năm 2018 và vượt 1,3% so với mục tiêu đề ra. Trong đó, giá trị XK nhóm hàng nông sản chính ước đạt 15,16 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Một số mặt hàng có giá trị XK tăng cao so với cùng kỳ năm 2017 như: Gạo đạt 2,5 tỷ USD (+23,2%); rau quả đạt 3,07 tỷ USD (tăng 17,1%); sản phẩm từ cao su đạt 523 triệu USD (tăng 21,1%).

XK lâm sản chính 9 tháng đầu năm 2018 giữ được mức tăng cao, ước đạt 6,757 tỷ USD, tăng 15,8% (trong đó gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 6,41 tỷ USD, tăng 15%; sản phẩm mây, tre, cói ước đạt 248 triệu USD, tăng 27,7%). Chăn nuôi cũng là mặt hàng bắt đầu gia nhập đáng kể vào XK, với 405 triệu USD, tăng 5,2% so với cùng kỳ…

18-19-25_14-48-29_nh204
9 tháng đầu năm, lúa gạo là ngành gặt hái nhiều thắng lợi cả về SX lẫn XK

Ở chiều ngược lại, một số nhóm mặt hàng giảm giá trị XK là: cà phê và hạt điều mặc dù có khối lượng XK tăng lần lượt là +20% và +6,8%, nhưng do giá XK giảm mạnh nên kim ngạch XK của 2 mặt hàng này chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ. Các mặt hàng cao su, hồ tiêu tăng về khối lượng nhưng giảm về giá trị. XK cao su đạt 1.055 nghìn tấn, tăng 11% nhưng giá trị ước đạt 1,45 tỷ USD, giảm 10%. XK hồ tiêu đạt 195 nghìn tấn, tăng 8%, nhưng giá trị ước đạt 641 triệu USD, giảm 33,6%. Riêng chè giảm cả khối lượng và giá trị XK (khối lượng: 92 nghìn tấn, giảm 10%; giá trị đạt 152 triệu USD, giảm 7,1%).

Tính đến hết tháng 9/2018, cả nước đã gieo cấy được trên 7,2 triệu ha lúa, giảm 160 nghìn ha so với cùng kỳ, trong đó đã thu hoạch trên 5,1 triệu ha. Mặc dù diện tích gieo cấy giảm, tuy nhiên năng suất bình quân cả nước ước đạt 61,6 tạ/ha, tăng khoảng 2,7 tạ/ha. Vì vậy, tổng sản lượng lúa cả nước đến thời điểm này vẫn ước đạt 31,7 triệu tấn, tăng 1,2 triệu tấn so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, riêng vụ ĐX, năng suất ước đạt 66,4 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha, sản lượng lúa ước đạt 20,6 triệu tấn, tăng 1,2 triệu tấn (5,8%) so với vụ ĐX năm trước.
QUỲNH TRANG

Giá nông sản hôm nay 28/9: Giá cà phê tiếp tục tăng nhẹ 100 đồng/kg, giá tiêu giữ “phong độ”

Khảo sát giá nông sản hôm nay 28/9, giá cà phê hôm nay cũng tăng nhẹ 100 đồng/kg. Cà phê được giao dịch trong khoảng 32.300 – 33.000 đồng/kg. Giá hồ tiêu đang được giao dịch từ 51.000 – 52.000 đồng/kg.

gia nong san hom nay 28/9: gia ca phe tiep tuc tang nhe 100 dong/kg, gia tieu giu "phong do" hinh anh 1

Giá cà phê đã chạm mốc 33.000 đồng/kg

Giá cà phê tăng nhẹ

Khảo sát thị trường giá nông sản hôm nay 28/9, giá cà phê nguyên liệu tại các địa phương trọng điểm tăng nhẹ 100 đồng/kg. Giá cà phê Tây Nguyên hiện dao động trong khoảng 32.300 – 33.000 đồng/kg.

Tại huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) giá cà phê hôm nay tăng 100 đồng/kg đang giữ ở mức 32.300 đồng/kg, giá cà phê tại Di Linh, Lâm Hà thấp đang có giá 32.200 – 32.300 đồng/Kg.

Giá cà phê hôm nay tại huyện Cư M’gar (ĐắkLắk), Ea H’leo (ĐắkLắk) tăng 100 đồng/kg hiện đang dao động trong khoảng 32.700 – 33.000 đồng/kg. Giá cà phê tại huyện Buôn Hồ ở mức 32.800 đồng/kg.

Còn tại Gia Lai giá cà phê sau đang giữ ở mức 32.900 đồng/kg.

Tương tự giá cà phê tại Kon Tum đang có giá 32.800 đồng/kg.

Trong khi tại Đắk Nông giá cà phê ở mức 32.800 đồng/kg.

Theo Ban Cà phê Ấn Độ, lũ lụt vừa qua ở các bang sản xuất cà phê chính tại miền Nam có thể làm sụt giảm sản lượng vụ mùa tới 20%. Tuy nhiên, do triển vọng vụ mùa của các nước sản xuất chính rất khả quan nên thông tin này cũng không gây tác động gì đáng kể với thị trường cà phê quốc tế.

gia nong san hom nay 28/9: gia ca phe tiep tuc tang nhe 100 dong/kg, gia tieu giu "phong do" hinh anh 2

Giá tiêu vẫn đang giữ đà ổn định

Giá hạt tiêu đi ngang

Giá tiêu đen xô ngày 28/9 tại các các vùng sản xuất chính trong nước sau khi tăng 1.000 đồng/kg, tiếp tục giữ nguyên giá. Cụ thể, giá tiêu đen xô ở Bà Rịa – Vũng Tàu 52.000 đồng/kg, tại Bình Phước và Đắc Lắc 51.000 đồng/kg trong khi tại Gia Lai có mức thấp nhất ở 51.000 đồng/kg. Theo các thương nhân địa phương, giá còn muốn nhích lên thêm nữa do nhu cầu mua của các nhà xuất khẩu.

Theo báo cáo của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, xuất khẩu trong nửa đầu tháng 9/2018 đạt 8.569 tấn tiêu các loại, với giá trị kim ngạch 24,61 triệu USD, tăng 5,93 % về lượng nhưng lại giảm 34,65 % về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Giá tiêu xuất khẩu bình quân trong kỳ đạt 2.872 USD/tấn, giảm 2,15 % so với giá xuất khẩu bình quân tháng 8/2018.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo, nhu cầu từ các nước nhập khẩu hạt tiêu còn yếu trong khi nguồn cung từ các nước sản xuất vẫn tiếp tục được bổ sung khi mà Indonesia, Malaysia và Brazil đang trong vụ thu hoạch. Theo đó, giá hạt tiêu Việt Nam cũng như giá hạt tiêu thế giới được dự báo sẽ khó phục hồi trong các tháng cuối năm 2018.

San Nguyễn

Giá vàng hôm nay 28/9: Đồng USD vọt lên đỉnh, giá vàng trượt sâu xuống ngưỡng 1.180 USD/Ounce

Giá vàng hôm nay 28/9 lao dốc không phanh, trượt sâu xuống ngưỡng 1.180 USD/Ounce do đồng USD tăng không tưởng.

Ảnh minh hoạ

Đầu giờ sáng 28/9, theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới đứng ở mức 1.183,88 USD/Ounce, giảm 12 USD/Ounce so với đầu phiên giao dịch ngày 27/9.

Trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchanghe, ghi nhận vào lúc 18:08:24 giờ CT ngày 27/9, giá vàng thế giới giao tháng 12/2018 đứng ở mức 1.187,5 USD/Ounce. So với thời điểm đầu giờ ngày 27/9, theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới giao tháng 12/2018 giảm gần 12 USD/Ounce.

Hiện giá vàng thế giới đã giảm 115 USD/Ounce so với phiên giao dịch đầu năm 2018. Quy đổi theo giá USD ngân hàng, giá vàng thế giới vào khoảng 33,24 triệu đồng/lượng. Chưa tính thuế và phí, giá vàng thế giới hiện đang thấp hơn giá vàng trong nước 3,26 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới giảm mạnh chủ yếu do đồng USD trong phiên tăng sốc. Đến đầu giờ sáng ngày 29/0, chỉ số đồng USD (ICE U.S. Dollar Index), thước đo diễn biến của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt khác, đứng ở mức 94,61 điểm, tăng 0,78%.

Đồng USD mạnh lên sau tuyên bố của FED về việc điều chỉnh lãi suất qua đêm đồng USD thêm 25 điểm phần trăm, lên mức từ 2,0% đến 2,25%. Lãi suất đồng USD tăng sẽ làm tăng tính hấp dẫn của đồng USD vật chất, qua đó làm gia tăng nhu cầu USD trên thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung vẫn chưa cho thấy dấu hiệu dừng lại.

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại lên cao, FED lạc quan hơn về tăng trưởng Mỹ từ nay đến cuối năm. Ngân hàng trung ương dự đoán tổng sản phẩm quốc nội của Hoa Kỳ tăng 3,1% trong năm 2018, cao hơn so với dự báo của tháng 6 là 2,8%. Hoạt động kinh tế được dự đoán sẽ mở rộng 2,5% vào năm 2019, tăng đáng kể so với dự báo của tháng 6 là 2,4%. Kỳ vọng tăng trưởng trong năm 2020 vẫn không đổi ở mức 2,0%. Trong cái nhìn đầu tiên vào năm 2021, ngân hàng trung ương kỳ vọng nền kinh tế sẽ tăng 1,8%.

FED thấy tỷ lệ thất nghiệp di chuyển cao hơn một chút trong năm nay. Trước truyền thông, họ dự đoán tỷ lệ thất nghiệp sẽ ở mức 3,7% trong năm nay, tăng nhẹ so với dự báo của tháng 6 là 3,6%. Tỷ lệ này được ước tính sẽ giảm về 3,5% trong năm tới, đến năm 2020, không thay đổi so với tháng 6. Tỷ lệ thất nghiệp dự kiến ​​sẽ tăng lên 3,7% vào năm 2021.

Tiêu cực cho vàng là việc ngân hàng trung ương dự báo áp lực lạm phát thuần hóa trong suốt cả năm. Với lãi suất cao hơn, điều này có nghĩa là lãi suất thực sẽ tăng cao hơn. Các dự báo cho thấy lạm phát tăng 2,1% trong năm nay và sau đó giảm xuống 2,0% vào năm tới trước khi tăng trở lại 2,1% vào năm 2020 và 2021. Lạm phát cốt lõi, trong đó loại bỏ biến động giá thực phẩm và năng lượng, dự kiến ​​sẽ đạt 2,0%, không thay đổi so với dự báo của tháng 6. Lạm phát trong ba năm tới dự kiến ​​sẽ ở mức 2,1%, không thay đổi so với dự báo trước đó.

Đồng USD tăng giá còn do những bất đồng nội bộ trong lòng châu Âu, sau Anh và câu chuyên brexit là vấn đề của Italia. Giới phân tích hiện đang lo ngại về “sức khoẻ” tài chính của Italia sau thông tin thâm hụt ngân sách năm 2019 của quốc gia này ở mức cao, lên đến 2,4% GDP. Sau tuyên bố trên, EU đang lo sợ Italia sẽ phá vỡ các nguyên tắc ngân sách trong khối, đặc biệt khi chính quyền Rome từ lâu đã có quan điểm phản đối EU.

Giá vàng thế giới giảm còn do nhu cầu vàng của Trung Quốc giảm mạnh. Những dữ liệu cho thấy, lượng vàng nhập khẩu ròng của Trung Quốc qua Hong Kong đã xuống mức thấp nhất trong năm 2018 do Bắc Kinh hạn chế quota nhập khẩu. Trong tháng 8, nhập khẩu vàng qua kênh này chỉ được ghi nhận ở mức khoảng 31,9 tấn.Tại thị trường vàng trong nước, đến cuối phiên giao dịch ngày 27/9, giá vàng 9999 trong nước giảm từ 40 – 60 ngàn đồng/lượng.Đến đầu giờ ngày 28/9, giá vàng 9999 hôm nay đứng ở mức 36,35 – 36,50 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra). Cùng thời điểm, giá vàng SJC 9999 được Tập đoàn DOJI niêm yết ở mức 36,39 – 36,49 triệu đồng/lượng.Còn tại Phú Quý SJC, đầu phiên giao dịch ngày 28/9, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 36,38 – 36,48 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng SJC được Bảo Tín Minh Châu niêm yết ở mức 36,40 – 36,48 triệu đồng/lượng.Giá vàng Rồng Thăng Long ghi nhận đầu giờ ngày 28/9 ở mức 34,39 – 34,84 triệu đồng/lượng.

Minh Ngọc

Dầu có thể tăng lên 100 USD/thùng vào năm 2019 do các thị trường toàn cầu thắt chặt

Các công ty kinh doanh hàng hóa Trafigura và Mercuria cho biết tại hội nghị Dầu khí châu Á Thái Bình Dương (APPEC) ở Singapore, giá dầu có thể tăng lên 100 USD/thùng cuối năm nay hay vào đầu năm 2019 do các lệnh trừng phạt của Mỹ chống lại xuất khẩu dầu mỏ từ Iran.

Dầu có thể tăng lên 100 USD/thùng vào năm 2019 do các thị trường toàn cầu thắt chặt

Daniel Jaeggi chủ tịch công ty kinh doanh hàng hóa Mercuria Energy Trading cho biết gần 2 triệu thùng dầu thô mỗi ngày có thể rời khỏi thị trường do các lệnh cấm vận của Mỹ chống lại Iran vào cuối quý 4 năm nay, khiến giá dầu thô tăng vọt lên 100 USD/thùng.
Jaeggi cho biết “chúng tôi đang trên bờ biến động đáng kể trong quý 4/2018 phụ thuộc vào mức độ trầm trọng và thời gian cấm vận Iran, thị trường chỉ đơn giảm là không có nguồn cung đẩy đủ đáp trả cho 2 triệu thùng/ngày biến mất khỏi các thị trường”.
Washington đã sẵn sàng thực thi các lệnh cấm vận tài chính chống lại Iran và họ dự định thực hiện với xuất khẩu dầu mỏ của nước này từ ngày 4/11/2018, gây áp lực lên các nước khác cũng cắt giảm nhập khẩu dầu thô từ Iran.
Ben Luckock, đồng giám đốc giao dịch dầu mỏ tại Trafigura cho biết giá dầu thô có thể tăng lên 90 USD/thùng vào Giáng sinh và tới 100 USD/thùng vào năm mới do các thị trường bị siết chặt.
Giá dầu đang tăng lên kể từ đầu năm 2017, khi OPEC cùng với các nhà cung cấp khác gồm Nga bắt đầu rút dần sản lượng để tăng giá dầu thô.
Những gián đoạn bất ngờ từ Venezuela tới Libya và Nigeria tiếp tục thắt chặt thị trường đồng thời nhu cầu toàn cầu lần đầu tiên tiếp cận ngưỡng 100 triệu thùng/ngày.
Những mối đe dọa gián đoạn cũng như việc cắt giảm nguồn cung ban đầu giúp nâng giá dầu thô Brent giao sau vượt 80 USD/thùng, mức cao nhất kể từ năm 2014.
Các lệnh trừng phạt của Mỹ chống lại Iran, nhà sản xuất lớn thứ 3 của OPEC sắp diễn ra, ngân hàng đầu tư của Mỹ J.P Morgan cho biết trong triển vọng thị trường mới nhất của họ rằng khả năng giá dầu tăng vọt lên 90 USD/thùng là có thể trong những tháng tới.
OPEC và các nhà sản xuất dầu mỏ khác đang xen xét nâng sản lượng 500.000 thùng/ngày để chống lại sự sụt giảm nguồn cung từ Iran.
Nguồn: VITIC/Reuters

H. Lan

Vinanet

Đông Nam Á- thị trường chủ lực xuất khẩu phân bón của Việt Nam

Đông Nam Á là thị trường có lượng phân bón nhập nhiều nhất từ thị trường Việt Nam, chiếm trên 60% tổng lượng xuất khẩu.

Đông Nam Á- thị trường chủ lực xuất khẩu phân bón của Việt Nam

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, tháng 8/2018 Việt Nam đã xuất khẩu 56,6 nghìn tấn phân bón các loại, thu về 19,7 triệu USD, giảm 27,2% về lượng và 28,1% trị giá so với tháng 7/2018. Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 8/2018, Việt Nam đã xuất khẩu 611,5 nghìn tấn phân bón, đóng góp vào 200,6 triệu USD vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, chiếm 0,12% tỷ trọng.
Trong 8 tháng đầu năm 2018, Đông Nam Á là thị trường nhập khẩu nhiều phân bón từ thị trường Việt Nam, chiếm 68,1% tổng lượng phân bón xuất khẩu đạt 416,6 nghìn tấn, trị giá 132,1 triệu USD, giảm 1,38% về lượng nhưng tăng 10,76% trị giá so với cùng kỳ. Tính riêng tháng 8/2018,lượng phân bón xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á đạt 40,6 nghìn tấn, trị giá 14 triệu USD, giảm 15,09% về lượng và 13,78% trị gí so với tháng 7/2018, nếu so sánh với tháng 8/2017 thì giảm 40,69% về lượng và 27,91% trị giá.
Thị trường lớn đứng thứ hai là Campuchia, đạt 32,7 nghìn tấn, trị giá 11,6 triệu USD trong tháng 8/2018, giảm 13,42% về lượng và 13,88% trị giá so với tháng 7/2018, tính chung 8 tháng đầu năm 2018, lượng phân bón xuất sang thị trường Campuchia đạt 259,8 nghìn tấn, trị giá 90,4 triệu USD, tăng 6,75% về lượng và 15,65% trị giá so với cùng kỳ.
Kế đến là các thị trường Malaysia, Philippines, Lào, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Đài Loan.
Đáng chú ý trong tháng 8/2018 thị trường xuất khẩu phân bón của Việt Nam có thêm thị trường Angola tuy lượng xuất chỉ đạt trên 1 nghìn tấn, trị giá 522,8 nghìn USD. Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 8/2018 thì Việt Nam đã xuất 1,5 nghìn tấn phân bón sang thị trường này, đạt 797,9 nghìn USD, tăng mạnh gấp 3,29 lần về lượng (tức tăng 298%) và 4,11 lần trị giá (tức tăng 311,75%), mặc dù giá xuất bình quân chỉ tăng 3,45% đạt 500 USD/tấn.
Nhìn chung, 8 tháng đầu năm 2018 lượng phân bón nhập khẩu từ các thị trường phần lớn đều tăng trưởng, số này chiếm tới 55,6% và ngược lại suy giảm chỉ chiếm 44,4%, trong đó xuất sang thị trường Hàn Quốc giảm mạnh, giamr 55,76% về lượng và 19,66% trị giá tương ứng với 21,5 nghìn tấn; 7,08 triệu USD. Kế đến là Thái Lan giảm 44,26% về lượng và 43,81% trị giá chỉ với 8,7 nghìn tấn; 2,5 triệu USD.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu phân bón 8T/2018
 
Hương Nguyễn

Thị trường xuất khẩu hàng dệt may 8 tháng đầu năm 2018

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam ra nước ngoài 8 tháng đầu năm 2018 đạt 19,76 tỷ USD, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 12,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước.

Thị trường xuất khẩu hàng dệt may 8 tháng đầu năm 2018

Riêng tháng 8/2018 đạt trên 3,16 tỷ USD,  tăng 10,1% so với tháng 7/2018 và cũng tăng 18,1% so với tháng 8/2017.

Các thị trường lớn tiêu thụ nhiều hàng dệt may của Việt Nam là: Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc. Trong đó, thị trường Mỹ chiếm 46,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước, đạt 9,11 tỷ USD, tăng trưởng 11,7% so với cùng kỳ năm 2017; xuất khẩu sang EU chiếm 13,7%, đạt 2,72 tỷ USD, tăng 11,4%; xuất khẩu sang Nhật Bản chiếm 12,5%, đạt 2,47 tỷ USD, tăng 25,6%; xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc đạt 1,97 tỷ USD, chiếm 9,9%, tăng 25,7%; xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 957,07 triệu USD, chiếm 4,8%, tăng 42,7%.

Tuy kết quả xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Trung Quốc khá khả quan, nhưng ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng nhập khẩu số lượng lớn nguyên phụ liệu từ Trung Quốc, trong đó nhập khẩu vải chiếm 50%. Vì nhập khẩu nguồn nguyên liệu chính là vải đến 80% nhu cầu (trong đó thị trường Trung Quốc chiếm 50%) do đó giá trị gia tăng của ngành dệt may không cao khi thiếu đi khâu quan trọng là xơ, dệt nhuộm, thiết kế mẫu. Việc lệ thuộc lớn vào nguồn cung vải từ thị trường Trung Quốc đã làm ngành dệt may kém đi thế chủ động và mất nhiều lợi thế cạnh tranh.

Trong khối EU, xuất khẩu sang Đức nhiều nhất đạt 532,03 triệu USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ, sang Canada đạt 441,06 triệu USD, tăng 19%, Hà Lan 407,07 triệu USD, tăng 4,3%, Pháp 381,89 triệu USD, tăng 17,3%, Tây Ban Nha 311,98 triệu USD, tăng 8,4% .

Nhìn chung, xuất khẩu hàng dệt may trong 8 tháng đầu năm nay sang hầu hết các thị trường đều tăng kim ngạch với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó xuất khẩu sang thị trường Angola tăng mạnh nhất 149,6%, đạt  12,95 triệu USD. Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng tăng trưởng mạnh ở một số thị trường như: Hungari tăng 107%, đạt 2,87 triệu USD; Phần Lan tăng 101,9%, đạt 11,27 triệu USD; Ba Lan tăng 59,5%, đạt 39,5 triệu USD; Myanmar tăng 58%, đạt 16,63 triệu USD.

Tuy nhiên, có một vài thị trường bị sụt giảm ở mức 2 con số như: Senegal giảm 89,5% so với cùng kỳ, đạt 0,15 triệu USD; Slovakia giảm 44,8%, đạt 0,68 triệu USD, Nigeria giảm 15,2%, đạt 5,23 triệu USD.

Xuất khẩu hàng dệt may 8 tháng đầu năm 2018

Thị trườngT8/2018+/- so với T7/2018 (%)*8T/2018+/- so với cùng kỳ (%)*
Tổng kim ngạch XK3.161.510.79010,1119.761.134.24417,24
Mỹ1.398.625.8077,359.114.342.16211,73
Nhật Bản418.385.34020,252.471.347.37325,63
Hàn Quốc396.017.54546,291.965.273.07225,68
Trung Quốc161.026.871-1,32957.068.42742,74
Đức73.100.439-10,45532.032.44210,24
Anh86.156.5255,55516.360.1487,25
Canada66.744.723-5,89441.059.42319,09
Hà Lan52.892.127-11,5407.068.5204,25
Pháp67.404.6254,71381.893.54317,29
Tây Ban Nha55.953.0474,41311.977.6338,43
Campuchia52.322.08715,62309.868.27939,9
Italia27.252.165-7,59175.359.85112,28
Hồng Kông (TQ)28.213.1117,1173.993.93921,83
Bỉ24.880.231-11,1168.876.99515,22
Đài Loan (TQ)22.908.4972,11146.454.5948,03
Australia21.164.92311,83138.631.64923,71
Indonesia20.006.98212,97121.879.14944,12
Nga16.940.7760,33111.224.715-7,87
Thái Lan12.446.672-19,6299.320.65848,96
Chile12.060.952-22,0780.973.01329,6
Singapore8.372.988-11,571.197.81926,57
Malaysia9.417.337-5,4770.328.15614,09
Philippines10.911.77028,8569.080.34017,64
Đan Mạch10.837.24123,3764.155.12930,26
Mexico9.119.8943,9863.418.37110,36
U.A.E6.328.0155,4559.118.1510,43
Thụy Điển6.654.107-29,7557.988.80021,1
Ba Lan5.586.71531,3939.501.87759,47
Ấn Độ5.797.38310,3638.267.68425,39
Bangladesh5.561.73014,8636.008.2463,71
Brazil4.543.7790,3135.973.48610,09
Thổ Nhĩ Kỳ4.204.158-6,6133.257.50935,31
Saudi Arabia3.606.386-6,5330.824.9072,22
Áo3.880.930-10,6130.733.23527,13
Nam Phi2.304.1781,1718.298.4897,93
Na Uy3.469.28372,9617.695.97220,01
Myanmar2.639.559-2,3616.629.64458,09
Achentina4.064.286225,9216.012.7640,88
Israel1.803.878-36,4415.546.18524,88
New Zealand1.204.147-66,6213.766.48015,16
Panama1.586.001-24,0413.469.67034,3
Angola3.662.474808,8412.949.357149,62
Phần Lan1.450.871-21,3711.270.862101,93
Séc1.844.27866,778.691.11952,85
Thụy Sỹ958.4245,427.634.6617,03
Ghana29.023 6.248.38045,84
Hy Lạp392.147-26,775.969.338-6,19
Nigeria665.89562,155.231.962-15,15
Ai Cập816.104-7,514.541.55055,03
Lào372.966-33,374.052.981-3,55
Hungary241.697-38,682.867.417107,09
Ukraine341.36931,032.686.0838,96
Slovakia34.898-55,3684.017-44,81
Senegal  145.812-89,5

 (*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Thủy Chung

FED tăng lãi suất đồng USD, giá vàng giảm nhưng vẫn còn cơ hội đi lên

Kết thúc phiên họp 2 ngày vừa qua, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định tăng lãi suất đồng USD lên 0,25% so với mức lãi suất cơ bản cũ. Giá vàng đã giảm, nhưng không quá sâu, vẫn còn những thông tin hỗ trợ vàng.

Giá vàng tiếp tục tăng, khi đồng USD trượt giảm
Kết thúc phiên họp 2 ngày của tháng 9 FED đã giữ đúng quan điểm của mình là tăng lãi suất cơ bản đồng USD nhằm kiềm chế lạm phát gia tăng, với mức tăng từ 2% lên 2,25%, tăng 0,25% so vớ trước. Đóng cửa phiên giao dịch tại thị trường Mỹ vào rạng sáng nay 27/9 (giờ Hà Nội), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức hơn 1.195 USD/oz, giảm hơn 7 USD so với chốt phiên trước.
Lúc 8 giờ 20 sáng nay (giờ Hà Nội), giá vàng thế giới tại thị trường châu Á giao dịch quanh mức 1.195 USD/oz giảm hơn 4 USD so với giao dịch cùng thời điểm này sáng qua và ngang giá so với chốt phiên tại thị trường Mỹ trước đó vài giờ.

Sáng nay giá vàng SJC trong nước trên thị trường tự do giảm nhẹ, vàng SJC trong các DN tăng nhẹ so với chốt phiên trước. Cụ thể, lúc 8 giờ 30 giá vàng SJC giao dịch trên thị trường tự do mua – bán tại TP Hồ Chí Minh quanh mức 36,4 – 36,55 triệu đồng/lượng. Giá vàng SJC giao dịch trên thị trường tự do mua – bán ở Hà Nội, Đà Nẵng quanh mức 36,4 – 36,57 triệu đồng/lượng, các thị trường trên đều giảm 10.000 đồng/lượng so với chốt phiên hôm qua. Chênh lệch giữa 2 chiều mua – bán các thị trường trên ở mức 150.000 – 170.000 đồng/lượng.
Cùng thời điểm trên, các DN niêm yết tăng giá mua – bán vàng SJC so với chốt phiên trước. Cụ thể Tập đoàn Doji cùng lúc niêm yết giá mua – bán vàng SJC ở mức 36,44 – 36,54 triệu đồng/lượng, tăng 10.000 đồng/lượng so với chốt phiên hôm qua, chênh lệch mua – bán ở mức 100.000 đồng/lượng. Giá vàng SJC được Công ty Phú Quý niêm yết ở mức 36,44 – 36,53 triệu đồng/lượng, ngang giá so với chốt phiên hôm qua, chênh lệch mua – bán ở mức 90.000 đồng/lượng.
TPBank cũng tăng giá 20.000 đồng/lượng vàng SJC, giao dịch cùng thời điểm vàng SJC được ngân hàng này niêm yết ở mức 36,29 – 36,69 triệu đồng/lượng, tăng 20.000 đồng/lượng so với chốt phiên hôm qua, chênh lệch mua – bán ở mức 400.000 đồng/lượng.
Vàng nhẫn sáng nay các DN vẫn niêm yết ngang giá so với chốt phiên trước. Cụ thể, Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá nhẫn vàng Rồng Thăng Long mua – bán quanh mức 34,46 – 34,91 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa 2 chiều mua – bán của đơn vị này là 450.000 đồng/lượng.
Vàng nhẫn Phú Quý 24K hôm nay được Công ty Phú Quý niêm yết mua – bán ở mức 34,35 – 34,75 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa 2 chiều mua – bán của đơn vị này 400.000 đồng/lượng.
Vàng nhẫn VIETNAMGOLD hôm nay được Công ty CPĐT và kinh doanh vàng Việt Nam niêm yết mua – bán ở mức 34,35 – 34,75 triệu đồng/lượng, ngang giá so với chốt phiên trước. Chênh lệch giữa 2 chiều mua – bán của đơn vị này 400.000 đồng/lượng.
Sau khi FED tăng lãi suất, giá vàng thế giới đã giảm, tuy nhiên không quá mạnh so với dự báo trước đó. Chuyên gia nhận định rằng, việc tăng lãi suất làm cho đồng USD tiếp tục khẳng định sức mạnh so với các đồng tiền trong giỏ thanh toán.
Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ lại vừa đưa ra ý kiến sẽ áp thuế lên hàng hoá của Canada, do nước này đang đánh thuế cao với hàng hoá của Mỹ. Cùng với đó, Brexit ở anh đang gây ảnh hưởng lớn đến nền tài chính nước này. Chính phủ Anh đang rà soát lại các tài khoản giao dịch tiền tệ, nếu có phát sinh khả nghi sẽ đóng tài khoản. Điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến những giao dịch trong hoạt động sản xuất, kinh doanh giữa các DN cũng như đối tác với Anh. Do vậy, chuyên gia nhận định, vàng chưa thế chìm sâu sau khi FED tăng lãi suất, bởi các bất ổn kinh tế, tài chính đang gia tăng ở nhiều khu vực.

BÍCH HỜI

Mỹ tăng lãi suất lần thứ 3, giá vàng vẫn im ắng

Với quyết định điều chỉnh này, mức lãi suất tham chiếu của Mỹ tăng 0,25 điểm % lên từ 2%-2,25% và dự kiến sẽ có thêm một lần điều chỉnh lãi suất vào tháng 12 tới.

Theo CNN, Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã quyết định nâng lãi suất tham chiếu lên thêm 0,25 điểm % sau cuộc họp chính sách kéo dài 2 ngày. Mức lãi suất hiện tại sẽ là từ 2%-2,25%, dùng để tham chiếu cho lãi suất các khoản vay thông thường, vay qua thẻ tín dụng hoặc vay tiêu dùng…

Quyết định được đưa ra sau khi Fed nhận định nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởng tốt, tỉ lệ thất nghiệp ở mức thấp và lạm phát ổn định.

Tại buổi họp báo sau phiên họp chính sách, Chủ tịch Fed, ông Jerome Powell nhận định nền kinh tế Mỹ đang mạnh nhưng lãi suất còn thấp. Ông cho rằng việc bình thường hoá dần dần lãi suất sẽ giúp duy trì sức mạnh cho Mỹ.

Với lần điều chỉnh này, Fed đã có 3 lần tăng lãi suất trong năm nay và một lần tiếp theo trong tháng 12 tới. Tổng cộng lãi suất ở Mỹ đã tăng thêm 0,75 điểm % qua 3 lần điều chỉnh. Các quan chức của Fed cũng cho rằng cần tăng lãi suất thêm nhiều lần nữa trong hai năm tiếp theo.

Mỹ đã giữ lãi suất thấp kỷ lục trong nhiều năm qua kể từ sau khủng hoảng tài chính kinh tế. Vài năm nay, Fed bắt đầu nâng dần lãi suất lên giúp nền kinh tế hồi phục và không tăng trưởng quá nóng. Trong năm nay, Fed dự báo kinh tế Mỹ có thể đạt 3,1%, tăng so với mức dự báo 2,8% trước đó.

Mỹ tăng lãi suất lần thứ 3, giá vàng vẫn im ắng - Ảnh 1.

Mỹ tăng lãi suất đồng USD lần thứ 3 trong năm. Ảnh: NLĐ

Tỉ giá trung tâm sáng nay được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố giảm nhẹ so với hôm trước, ở mức 22.715 đồng/USD.

Giá USD tại các NH thương mại được giao dịch phổ biến quanh mức 23.310 đồng/USD mua vào, 23.390 đồng/USD bán ra, ổn định so với cuối ngày hôm qua.

Động thái nâng lãi suất của Mỹ không tác động quá lớn đến thị trường vàng. Giá vàng thế giới phiên giao dịch sáng nay đang ở mức 1.196 USD/ounce, không thay đổi nhiều so với phiên trước đó. Giá vàng biến động trong biên độ hẹp sau thông báo của Fed và chịu áp lực khi đồng USD hồi phục trên thị trường quốc tế.

Trong khi đó, giá vàng SJC sáng nay được các doanh nghiệp tại TP HCM niêm yết ở mức 36,4 triệu đồng/lượng mua vào và 36,54 triệu đồng/lượng bán ra, tăng nhẹ so với phiên trước.

Hiện giá vàng trong nước đang cao hơn thế giới khoảng 2,7 triệu đồng/lượng.

Thái Phương

Giá dầu lập kỷ lục trong 4 năm qua

Ngày 25-9, hãng BBC đưa tin giá dầu đã vượt mốc 81USD/thùng, mức cao nhất kể từ tháng 11-2014, sau khi Saudi Arabia và Nga từ chối đề xuất của Mỹ về tăng sản lượng khai thác.

Kết quả hình ảnh cho giá dầu

Kết thúc phiên giao dịch 24-9, dầu Brent biển Bắc tăng hơn 3%, lên 81,16 USD/thùng, trong phiên có lúc đạt 81,39 USD. Trước đó, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) – đứng đầu là Saudi Arabia – và một số nước sản xuất dầu lớn ngoài OPEC, trong đó có Nga, đã nhóm họp tại Algiers ngày 24-9. Cuộc họp kết thúc nhưng không có thỏa thuận chính thức nào về việc tăng sản lượng khai thác dầu.

Giá dầu Brent được dự báo có thể tăng lên 90 USD/thùng vào tháng 12 và vượt 100 USD/thùng vào năm 2019, khi lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran sẽ có hiệu lực đầy đủ từ tháng 11 tới.

VĂN ĐỖ

Giá cà phê hôm nay 26/9: Tăng 400 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay 26/9 tăng 400 đồng/kg ở thị trường trong nước, trong khi đó cà phê thế giới tiếp tục giảm giá.

Giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London giao tháng 9 giao dịch ở mức 1.550 USD/tấn, giảm 2,96% và kỳ hạn giao tháng 11 giao dịch ở mức 1.503 USD/tấn, giảm 0,65%.

Giá cà phê Arabica trên sàn ICE US – New York kỳ hạn giao ngay tháng 12 giảm 1,026% ở mức 97,50 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3 ở mức 100,9 cent/lb giảm 0,99%.

Giá cà phê hôm nay 26/9: Tăng 400 đồng/kg

Thị trường cà phê trong nước, giá cà phê nguyên liệu tăng 400 đồng, giao dịch ở mức từ 32.300 – 32.900 đồng/kg. Giá cà phê nhân xô thấp nhất 32.200 đồng/kg tại Lâm Đồng và cao nhất 32.900 đồng/kg tại Gia Lai.

Giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% tại cảng Tp.HCM giao dịch ở mức 1.433 USD/tấn, trừ lùi 75 USD/tấn (FOB).

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê 15 ngày đầu tháng 9/2018 đạt 59,3 nghìn tấn, trị giá 102,47 triệu USD, giảm 16,9% về lượng và giảm 21,3% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 8/2018, nhưng tăng 37% về lượng và tăng 3,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/9/2018, xuất khẩu cà phê đạt 1,385 triệu tấn, trị giá 2,64 tỷ USD, tăng 17,3% về lượng, nhưng giảm 1,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Báo cáo của Cục Xuất nhập khẩu nhận xét, trong tương lai với sự tham gia của nhiều thương hiệu cà phê đặc biệt, thị trường sẽ phân chia lại và định hình rõ ràng hơn. Nếu có sự hợp tác với các thương hiệu cà phê uy tín tại Mỹ, cà phê chất lượng cao của Việt Nam sẽ có thể thâm nhập sâu hơn vào nước tiêu thụ cà phê lớn nhất toàn cầu này.

Nam Hải

Xi măng tăng xuất khẩu: Không lo biến động từ thị trường nhập khẩu

Lo ngại về những tác động đến môi trường, nhiều nước đã giảm xuất khẩu xi măng, thay vào đó là tăng nhập khẩu từ Việt Nam.

Động thái này đã đẩy nguồn cung xi măng của nước ta lên cao. Cùng với lo ngại ô nhiễm môi trường khi chúng ta đẩy mạnh sản xuất là nhiều rủi ro nếu các nước ngưng nhập khẩu.

Xi măng tăng xuất khẩu: Không lo biến động từ thị trường nhập khẩu

Ngành xi măng vẫn chủ động với thị trường cả trong và ngoài nước.

Theo đánh giá của giới chuyên gia trong ngành, xuất khẩu xi măng có xu hướng tăng kể từ cuối năm 2017, do chính sách của Trung Quốc thay đổi, từ nước xuất khẩu chuyển sang nhập khẩu clinker, nhất là nhập từ Việt Nam. Chính bởi vậy, xi măng xuất khẩu nhảy vọt về số lượng và giá xuất khẩu cũng có xu hướng tăng cao.

Và dường như, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu tăng cao, nhiều dự án xi măng cũng đã được đưa vào vận hành. Đơn cử, 3 dự án xi măng tại Thanh Hóa và Hà Nam gồm dự án Long Sơn 2, dự án 2 xi măng Thành Thắng và dự án 2 xi măng Xuân Thành với công suất khoảng  2,3 triệu tấn -4,5 triệu tấn/ năm. Với việc đưa vào vận hành 3 dự án trên, hiện nay, Việt Nam có 82 dây chuyền sản xuất xi măng lò quay, phương pháp thô, với tổng công suất thiết kế 99 triệu tấn xi măng/ năm.

Nhiều ý kiến cho rằng, trong khi các nước đang có xu hướng ngừng xuất khẩu xi măng, giảm các dự án xi măng trong nước để ngăn chặn những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thì việc chúng ta tăng xuất khẩu có vẻ như tiềm ẩn nhiều rủi ro. Một là nếu nước nhập khẩu ngừng nhập xi măng, việc phụ thuộc vào nước nhập khẩu sẽ khiến ngành xi măng nước nhà sẽ rơi vào tình trạng “ngập lụt” nguồn cung. Và thứ hai là những nguy cơ về ô nhiễm môi trường khi chúng ta đẩy mạnh việc xây dựng các dự án xi măng.

Tuy nhiên, trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Quang Cung – Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) khẳng định: Ngành xi măng vẫn luôn làm chủ tình thế, lấy thị trường nội địa làm “đại bản doanh” và không bao giờ rơi vào tình thế bị động, phụ thuộc thị trường bên ngoài.

“Bản thân Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu xi măng lớn trong khu vực, do đó không phải vì thấy số lượng xuất khẩu xi măng sang Trung Quốc lớn mà lại tăng đầu tư để xuất khẩu. Hiện, ngành xi măng vẫn đang giữ nguyên số lượng xi măng sản xuất như trước đây” – ông Cung cho biết.

Mặc dù vậy, cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, Trung Quốc đã cho dừng hàng  loạt các nhà máy xi măng để chuyển sang nhập khẩu xi măng Việt Nam xuất phát từ việc ô nhiễm môi trường. Ở một khía cạnh nào đó, đây được coi là cơ hội cho xuất khẩu xi măng Việt Nam, nhưng chúng ta cần phải tính đến yếu tố phát triển bền vững vì những tác động đến môi trường của các dự án xi măng là không nhỏ. Bên cạnh đó là vấn đề về tiêu thụ điện năng.

Nói về vấn đề này, vị Chủ tịch VNCA cho hay: Việt Nam hiện có tỉ lệ dây chuyền công suất lớn hơn, trong khi đó Trung Quốc có nhiều dây chuyền công suất nhỏ, công nghệ chủ yếu do Trung Quốc tự sản xuất, còn công nghệ sản xuất xi măng của Việt Nam phần lớn nhập từ các nước phát triển, chủ yếu là các nước G7. Chính vì vậy, riêng yếu tố công nghệ đã cho thấy, các dự án của ta tác động đến môi trường sẽ ít hơn nhiều. Tuy nhiên, theo khẳng định của Chủ tịch VNCA, định hướng của ngành xi măng Việt Nam vẫn lấy thị trường nội địa làm nền tảng chính cho sự phát triển, không căn cứ vào xuất khẩu để hoạch định chính sách.

Để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững, VNCA cũng đã đề nghị Chính phủ xem xét, chỉ đạo giãn tiến độ đầu tư các dự án xi măng mới từ nay đến 2025, đồng thời cho đẩy mạnh đầu tư cải tạo nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, áp dụng các công nghệ mới nhằm tiết kiệm tài nguyên khoáng sản…

Minh Phương

Tỷ giá ngoại tệ ngày 26/9: Nhiều ngân hàng tăng giá mua bán USD

Sáng nay, giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại biến động mạnh, trong khi đó chỉ số USD Index thế giới tăng.

Lúc 8h15 hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.346 đồng/USD, ngang giá cùng thời điểm hôm qua; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và  CNY ở mức 1 CNY đổi 3.311 VND, ngang giá phiên hôm qua.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.717 đồng/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.398 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.036 VND/USD.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, 8h15 sáng nay, giá USD tăng so với cùng thời điểm hôm qua. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.300-23.380 VND/USD, tăng 5 đồng; VietinBank niêm yết giá 23.305-23.385 đồng/USD, tăng 26 đồng mua vào, tăng 6 đồng bán ra; BIDV niêm yết giá 23.310-23.390 đồng/USD, tăng 20 đồng mua vào, tăng 15 đồng bán ra.

Trên thị trường tự do, giá mua – bán USD hiện đang là 23.410-23.430 đồng/USD, giảm 30 đồng mua vào, giảm 40 đồng bán ra.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng đô la Mỹ với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đang tăng nhẹ và ở mức 93,78 điểm, đang tăng nhẹ so với 93,61 điểm đáy giá phiên hôm qua.

Đồng Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc so với USD sáng nay giảm mạnh, hiện 1 USD đổi được 6,8675 CNY (hoặc 1 CNY = 0,1456 USD)./.

PV/VOV.VN

Giá vàng vẫn tiếp đà lao dốc

Giá vàng hôm nay (26/9) vẫn tiếp tục lao dốc trong bối cảnh các nhà đầu tư đang kỳ vọng FED tăng lãi suất cơ bản đồng USD trong tuần này.

Mở cửa phiên giao dịch sáng nay (26/9), Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng miếng tại Hà Nội ở mức 36,42 – 36,52 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra). So với phiên giao dịch hôm qua, giá vàng giảm 70.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán. Chênh lệch giá mua vào thấp hơn giá bán ra 100.000 đồng/lượng.

Cùng thời điểm, tại TP. HCM, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá mua-bán vàng SJC ở mức 36,41 – 36,56 triệu đồng/lượng, giảm 50.000 đồng/lượng so với phiên giao dịch liền trước. Chênh lệch giữa mua và bán vẫn duy trì là 150.000 đồng/lượng.

gia vang van tiep da lao doc hinh 1
Giá vàng đang đi xuống. (Ảnh minh họa)

Trên thị trường thế giới, đầu giờ sáng 26/9 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay đứng ở mức 1.202 USD/ounce. Giá vàng giao tháng 12 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.214 USD/ounce.

Tính theo giá ngoại tệ ngày hôm nay (Vietcombank) 23.380 đồng/USD, giá vàng thế giới tương đương 33,85 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC khoảng 3,5 triệu đồng/lượng.

Loading…

Giới quan sát thị trường nhận định, giá vàng giảm ngay trước thềm cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong tuần này với kỳ vọng rằng ngân hàng trung ương Mỹ sẽ tăng lãi suất lần thứ 3 trong năm nay./.

Trần Ngọc/VOV.VN

Cập nhật giá vàng 18/9: Giá vàng lưỡng lự dù thị trường có biến và đồng USD thoái lui nhẹ

Giá vàng chốt phiên sáng 18/9 gần như không biến động dù đồng USD tiếp tục giảm nhẹ trong bối cảnh chính quyền Tổng thống Donald Trump tuyên bố áp thuế 10% lên 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc.

Ảnh minh họa

Ghi nhận của Petrotimes, chốt phiên giao dịch sáng 18/9, giá vàng 9999 hôm nayđứng ở mức 36,54 – 36,70 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra), tăng nhẹ 10.000 đồng ở cả chiều mua và bán.

Cùng thời điểm, giá vàng SJC 9999 được Tập đoàn DOJI niêm yết ở mức 36,58 – 36,68 triệu đồng/lượng, tăng 20.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với đầu phiên giao dịch.

Với mức điều chỉnh tương tự, 20.000 đồng ở cả chiều mua và bán, giá vàng SJCchốt phiên giao dịch sáng 18/9 được Phú Quý SJC niêm yết ở mức 36,58 – 36,67 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC 9999 chốt phiên sáng 18/9 ở mức 36,59 – 36,67 triệu đồng/lượng, tăng 20.000 đồng ở chiều mua và 30.000 đồng ở chiều bán.

Giá vàng Rồng Thăng Long trong phiên giao dịch sáng 18/9 cũng được điều chỉnh tăng 30.000 đồng ở cả chiều mua và bán so với đầu phiên giao dịch, chốt phiên ở mức 34,39 – 34,84 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường vàng thế giới, giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.198,97 USD/Ounce, giảm hơn 1 USD so với đầu giờ ngày 18/9, theo giờ Việt nam.

Giá vàng thế giới giao tháng 12/2018 ghi nhận vào lúc 22:59:51 giờ CT ngày 17/9 đứng ở mức 1.203,6 USD/Ounce, giảm 2,2 USD/Ounce trong phiên.

Giá vàng 9999 hôm nay tăng nhẹ trong phiên giao dịch sáng 18/9 là do tác động của giá vàng thế giới tăng trong phiên giao dịch ngày 17/9. Tuy nhiên, mức tăng của vàng 9999 không cao vì giới đầu tư vẫn có tâm lý chờ đợi, nghe ngóng quyết định của chính quyền Tổng thống Donald Trump về việc áp thuế lên thêm 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc.

Ghi nhận trong sáng 18/9, chỉ số đồng USD (ICE U.S. Dollar Index) – thước đo diễn biến của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt khác – tiếp tục xu hướng giảm với mức giảm 0,03%, đứng ở mức 94,06 điểm, mức thấp nhất trong nhiều tuần trở lại đây.

Mặc dù đồng USD thoái lui nhưng giá vàng vẫn không thể đột phá vì theo thông báo mới nhất, mức thuế mà chính quyền Tổng thống Donald Trump áp lên 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc là 10% thay vì 25% như trước. Thông tin này phần nào đã giúp những lo ngại về rủi ro thương mại toàn cầu “hạ nhiệt”, tác động của quyết định áp thuế này của Mỹ là có nhưng sẽ không căng thẳng như dự báo và đã tạo tâm lý chờ đợi, nghe ngóng phản ứng của các thị trường của giới đầu tư.

Minh Ngọc

IEA cảnh báo nguy cơ dầu tăng giá mạnh

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) ngày 13/9 cảnh báo giá dầu trong thời gian tới có thể tăng mạnh do sự sụt giảm trong xuất khẩu từ Venezuela và Iran.

iea canh bao nguy co dau tang gia manh

“Nếu xuất khẩu của Venezuela và Iran tiếp tục giảm, nguồn cung thị trường sẽ thiếu và đẩy giá dầu leo ​​thang nếu mà không có sự gia tăng sản xuất để bù đắp”, IEA cho biết.

“Giá dầu Brent dao động từ 70-80 đôla/thùng từ tháng Tư đến nay. Biên độ này sẽ bị thay đổi trong thời gian tới”, IEA nói. Dầu thô Brent Biển Bắc ngày 12/9 giao tháng 11 đóng cửa ở mức 79,74 USD trên sàn giao dịch liên lục địa London (ICE).

Trong báo cáo mới nhất, IEA tin rằng “chúng ta đang bước vào giai đoạn tuyệt đối quan trọng đối với thị trường dầu mỏ”. Thứ nhất, Venezuela đã trải qua một sự xói mòn liên tục về sản xuất do sự xáo trộn nội bộ nghiêm trọng trong nước. Sản lượng của nước này đạt 1,24 triệu thùng mỗi ngày trong tháng 8/2018 và có thể giảm xuống chỉ còn 1 triệu thùng mỗi ngày vào cuối năm nay, theo IEA.

Tiếp đến, Iran bị ảnh hưởng bởi các biện pháp trừng phạt do Hoa Kỳ đưa ra sau khi đơn phương rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran vào tháng 5/2018. Mỹ đã tái lập gói biện pháp thứ nhất với Iran và gói thứ 2 sẽ được thực hiện vào ngày 4/11, trực tiếp ảnh hưởng đến ngành dầu khí của Iran. Xuất khẩu của Iran đã giảm “đáng kể”, theo IEA.

IEA cũng nêu ra trường hợp của Libya, nơi sản xuất đã tăng trở lại, nhưng tình hình vẫn còn mong manh, như các cuộc tấn công gần đây nhằm vào trụ sở của Công ty Dầu khí Quốc gia (NOC) ở Tripoli đã cho thấy.

Khi đối mặt với các mối đe dọa nguồn cung cấp ở trên, “thị trường chỉ còn chờ các nhà sản xuất khác tăng sản lượng”, IEA nói.

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và các đối tác – bao gồm Nga – đã đồng ý vào cuối tháng 6/2018 tăng sản lượng. Iraq và Saudi Arabia đã bơm thêm dầu trong tháng trước. Nhưng thật không dễ dàng để ước tính được năng lực sản xuất bổ sung của các nước, IEA nói.

Th.Long

Theo AFP

Hai nhóm mặt hàng của Việt Nam chịu thuế tự vệ của Liên minh kinh tế Á – Âu năm 2018

Hai nhóm mặt hàng của Việt Nam đang bị áp dụng cơ chế tự vệ ngưỡng của Liên minh kinh tế Á – Âu (EAEU) trong năm 2018 là quần áo lót và quần áo trẻ em.

Hai nhóm mặt hàng của Việt Nam chịu thuế tự vệ của Liên minh kinh tế Á – Âu năm 2018

Cục Phòng vệ thương mại cho biết, mặt hàng quần áo lót nhập khẩu từ Việt Nam vào thị trường EAEU chịu thuế trong 9 tháng, từ ngày 14/3/2018 đến ngày 13/12/2018. Sau đó, mức thuế suất nhập khẩu đối với mặt hàng này sẽ quay về 0%.

Đối với mặt hàng quần áo trẻ con, thuế nhập khẩu sẽ rơi vào khoảng 1,1 – 1,75 euro/kg (1,25 – 1,99 USD/kg) và có hiệu lực trong 6 tháng, kể từ ngày 14/3/2018 đến ngày 13/9/2018. Sau thời gian trên, thuế suất nhập khẩu sẽ về 0%.

Trước đó vào ngày 29/5, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EAEU đã được ký kết và có hiệu lực từ ngày 5/10/2016. Theo hiệp định, EAEU (bao gồm Liên bang Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia và Kyrgyzsta) cam kết loại bỏ thuế quan đối với 9.774 dòng thuế cho hàng nhập khẩu từ Việt Nam, tương đương với khoảng 90% số dòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu của EAEU.
Theo điều khoản ghi trong Hiệp định, một số mặt hàng dệt may, giày dép và đồ nội thất nhập khẩu từ Việt Nam được hưởng thuế suất 0%, tuy nhiên phải chịu sự điều chỉnh của cơ chế tự vệ ngưỡng.
Cụ thế, nếu khối lượng nhập khẩu các nhóm mặt hàng này từ Việt Nam trong một năm vượt một ngưỡng khối lượng nhất định quy định tại Hiệp định, EAEU có quyền điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu từ 0% lên mức thuế nhập khẩu tối huệ quốc (tức ngang bằng các quốc gia không có quan hệ thương mại tự do với EAEU). Thời gian áp dụng trong khoảng 6 tháng (nếu khối lượng nhập khẩu trong năm vượt 100% – 150% ngưỡng quy định) hoặc 9 tháng (nếu khối lượng nhập khẩu trong năm vượt 150% ngưỡng quy định).
Hiện tại, chưa mặt hàng nào có nguy cơ bị áp dụng cơ chế tự vệ ngưỡng trong năm 2019 do khối lượng xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm vẫn nằm trong giới hạn cho phép.