gioithieu
Trang chủ Tin tức

Tin tức

TT năng lượng TG ngày 9/1/2019: Dầu tăng tiếp, khí đốt tăng do dự báo trời lạnh hơn

Giá dầu tăng tiếp do hy vọng về cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung. Trong khi giá khí đốt kỳ hạn của Mỹ tăng do dự báo thời tiết lạnh hơn so với trước đó.

TT năng lượng TG ngày 9/1/2019: Dầu tăng tiếp, khí đốt tăng do dự báo trời lạnh hơn

Dầu tăng do hy vọng cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung thành công
Giá dầu tăng trong hôm nay, tiếp tục tăng từ phiên trước do hy vọng Washington và Bắc Kinh có thể giải quyết tranh chấp thương mại đã gây ra suy giảm kinh tế toàn cầu.
Dàu thô WTI giao sau của Mỹ ở mức 50,29 USD/thùng, tăng 51 US cent hay 1% so với đóng cửa phiên trước. Đây là lần đầu tiên trong năm nay giá dầu WTI vượt ngưỡng 50 USD/thùng. Dầu thô Brent giao sau tăng 42 US cent hay 0,7% lên 59,14 USD/thùng. Cả hai dầu này đã tăng hơn 2% trong phiên trước.
Stephen Innes, giám đốc giao dịch khu vực Châu Á Thái Bình Dương tại công ty môi giới kỳ hạn Oanda, Singapore cho biết “dầu thô tiếp tục tăng do các báo cáo ban đầu từ Bắc Kinh lạc quan về các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc thành công”.
Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ tiếp tục đàm phán thương mại tại Bắc Kinh ngoài kế hoạch trong ngày hôm nay, trong bối cảnh những dấu hiệu tiến bộ về các vấn đề gồm nhập khẩu hàng hóa nông nghiệp và năng lượng từ Mỹ và tăng khả năng tiếp cận của Mỹ vào các thị trường Trung Quốc.
Tờ China Daily ngày hôm nay cho biết Bắc Kinh rất muốn kết thúc tranh chấp thương mại với Mỹ, nhưng họ sẽ không thực hiện bất kỳ nhượng bộ vô lý nào và bất kỳ thỏa thuận nào cũng phải liên quan tới hai bên.
Nếu không có thỏa thuận nào đạt được vào ngày 2/3/2019, Tổng thống Trump đã nói ông sẽ nâng thuế lên 25% từ 10% với hàng hóa của Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD tại một thời điểm khi kinh tế của Trung Quốc đang chậm lại đáng kể.
Giá dầu cũng nhận được hỗ trợ từ việc cắt giảm nguồn cung cuối năm 2018 của tổ chức OPEC và các đồng minh ngoài tổ chức này gồm cả Nga.
Ngân hàng ANZ cho biết “giá dầu thô tiếp tục lên mức cao, với các nhà đầu tư ngày càng tin tưởng rằng việc cắt giảm của OPEC sẽ thắt chặt thị trường này”.
Khí tự nhiên của Mỹ tăng do dự báo thời tiết lạnh hơn vào cuối tháng 1/2019
Khí tự nhiên kỳ hạn của Mỹ tăng trong phiên ngày 8/1/2019 do các dự báo thời tiết lạnh hơn dự đoán trước đó vào cuối tháng 1/2019.
Trong các dự báo mới nhất, các nhà khí tượng dự báo thời tiết sẽ vẫn hầu như ấm hơn bình thường tới ngày 17/1/2019 trước khi trở thành lạnh hơn bình thường ít nhất trong vài ngày tới.
Dự trữ vẫn dưới mức trung bình 5 năm (2013 – 2017) trong cả năm 2018. Chỉ 3 tuần trước dự trữ thấp hơn bình thường 21% nhưng hiện nay thấp hơn 17% sau vài tuần ấm hơn thường lệ trong tháng 12/2018.
Giá khí tự nhiên giao tháng 2/2019 trên sàn giao dịch bán buôn New York tăng 2,3 US cent hay 0,8% đóng cửa phiên tại 2,967 USD/triệu đơn vị nhiệt Anh.
Giới phân tích cho biết các cơ sở tiện ích có thể giảm dự trữ 95 tỷ feet khối khí ít hơn bình thường trong tuần kết thúc vào 4/1/2018.

Dầu thô (USD/thùng)

Mặt hàngGiáChênh lệch% thay đổi
Dầu WTI50.45+0.67+1.35%
Dầu Brent59.36+0.64+1.09%

Khí gas tự nhiên (USD/MMBtu)

Mặt hàngGiáChênh lệch% thay đổi
Khí gas kỳ hạn Nymex3.00+0.03+1.08%

Xăng dầu (US cent/gal)     

Mặt hàngGiáChênh lệch% thay đổi
Xăng kỳ hạn Nymex RBOB138.35+2.09+1.53%
Dầu đốt kỳ hạn Nymex183.61+0.91+0.50%

Nguồn: VITIC/Reuters

H. Lan  –  Vinanet

TT cà phê ngày 09/01: Hồi phục trở lại 300 đồng/kg

Giá cà phê nhân xô các tỉnh Tây Nguyên ngày 09/01/2019 bật tăng 300 đồng/kg lên mức 33.300 – 34.100 đồng/kg (lúc 9h sáng). Tại cảng TPHCM, giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% giao dịch tại 1.476 USD/tấn (FOB), trừ lùi ở 80 USD/tấn.

TT cà phê ngày 09/01: Hồi phục trở lại 300 đồng/kg

Tham khảo giá cà phê nhân xô tại Việt Nam

TT nhân xôGiá trung bìnhThay đổi
FOB (HCM)1.476Trừ lùi: -80
Đắk Lăk34.100+300
Lâm Đồng33.300+300
Gia Lai33.900+300
Đắk Nông33.800+300
Hồ tiêu50.0000
Tỷ giá USD/VND23.165+10
Đơn vị tính: VND/kg|FOB: USD($)/tấn

 Nguồn: Diễn đàn của người làm cà phê

Hai sàn cà phê thế giới toàn sắc xanh đẩy thị trường cà phê trong nước ngược dòng tăng trở lại.
Những diễn biến trong năm 2018 cho thấy ngành cà phê của Việt Nam đang có một số tồn tại. Điển hình là vụ cà phê năm nay bị mất mùa, lại thêm tình trạng giá giảm sâu liên tiếp, có lúc về dưới giá thành sản xuất khiến người trồng cà phê ở Tây Nguyên thất thu nặng. Những ngày này, người dân các địa phương trong tỉnh Gia Lai nói riêng, khu vực Tây Nguyên nói chung đang bước vào cuối vụ thu hoạch cà phê nhưng nhiều chủ vườn cà phê không thuê được người hái. Không ít vườn bị lỗ nặng, có bán hết cà phê cũng không đủ tiền tái đầu tư.
Theo ghi nhận tại huyện Ia Grai (Gia Lai) bà con nông dân đang thu hoạch những quả cà phê cuối cùng trên cây để trang trải chi phí công thuê hái. Bà con nông dân cho biết, có lúc giá bán 1kg cà phê xuống tới gần 31.000 đồng/kg, trong khi chi phí sản xuất trung bình ở mức 35.000 đồng/kg nên hầu như ai cũng bị lỗ nặng, do đó nhiều hộ quyết định giữ hàng lại chờ giá cao hơn.
Trên thị trường thế giới, đàm phán thương mại Mỹ – Trung được kéo dài đến hôm nay 9/1/2019 nhằm hạ nhiệt căng thẳng. Sau họp báo, trái phiếu 10 năm của chính phủ Mỹ phục hồi, giá dầu thô và đồng USD tăng, các sàn nông sản khác tăng trong đó có cà phê. Giá robusta giao tháng trong tháng 3/2019 trên sàn London tăng 1% lên 1.558 USD/tấn. Giá arabica giao trong tháng 3/2019 trên sàn New York tăng 2,4% lên 105,3 UScent/lb.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2018/19 dự báo đạt ngưỡng kỉ lục 174,5 triệu bao, tăng 15,6 triệu bao so với niên vụ trước. Trong đó, Brazil được dự báo sẽ chiếm tới một nửa mức tăng trưởng do vụ mùa arabica của nước này bước vào chu kì tăng sản lượng trong khi cà phê robusta vẫn tiếp tục tăng. Tiêu thụ cà phê của thế giới được dự báo sẽ chỉ tăng khiêm tốn 3,3 triệu bao lên kỉ lục 163,6 triệu bao kéo theo tồn kho có thể tăng mạnh tới 7,1 triệu bao lên 37,1 triệu bao.
Cùng lúc đó, ở Brazil, nhu cầu tiêu thụ cà phê được đáp ứng nhiều hơn bởi sự tăng vọt của nguồn cung cà phê nhờ làn sóng đầu tư vào cây xanh, phân bón và kỹ thuật trồng trọt được cải thiện. Việc thừa nguồn cung cùng với đồng real của Brazil yếu đã gây áp lực lên giá cà phê năm 2018. Tính chung năm ngoái, chỉ số giá cà phê ICO giảm 10%. Giá cà phê arabica, loại cà phê được Starbucks ưa chuộng, đã giảm khoảng 20% tại New York, chạm mức thấp nhất kể từ năm 2006.
Phạm Hòa

TT bánh mứt kẹo: Sôi động ở cả thị trường nội địa và hoạt động xuất nhập khẩu

Hiện nhiều sản phẩm bánh mứt kẹo phục vụ Tết Nguyên đán đã được bày bán nhiều hơn, giá cả nhìn chung không tăng so với năm ngoái. Bên cạnh đó, hoạt động xuất nhập khẩu cũng sôi động, 11 tháng năm 2018 Việt Nam đã xuất siêu trên 200 triệu USD bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc.

TT bánh mứt kẹo: Sôi động ở cả thị trường nội địa và hoạt động xuất nhập khẩu

Tại thị trường nội địa, thời điểm này chỉ còn 1 tháng nữa là tới Tết Nguyên đán, các hoạt động kinh doanh đang trở nên nhộn nhịp.

Tại các siêu thị đã bày bán nhiều hơn các sản phẩm quà bánh kẹo, hoa quà Tết để phục vụ người tiêu dùng. Các sản phẩm đa dạng về mẫu mã, phù hợp với túi tiền người tiêu dùng.
Nhìn chung, giá các sản phẩm bánh kẹo, mứt tết năm nay gần không tăng so với năm ngoái. Một số sản phẩm cao cấp đóng gói trong hộp thiếc – giá tăng không đáng kể, khoảng 2 – 5%. Nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng là ưa thích những sản phẩm vừa mang tính truyền thống, vừa hiện đại, nên nhiều doanh nghiệp đã có ngay sản phẩm đặc trưng trong dịp Tết, mà giá cả không cao hơn sản phẩm cùng chủng loại ngày thường bao nhiêu.
Thị trường bánh, kẹo năm nay ngoài những mặt hàng ngoại nhập, thì hàng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước giá cả hợp lý, chất lượng ngày càng cao, mẫu mã đẹp, chủng loại phong phú thêm nữa giá cả hàng hóa không biến động nên được nhiều khách hàng lựa chọn.
Tuy nhiên, thời điểm này, sức mua sản phẩm bánh mứt vẫn chưa cao. Thông thường, đến tết ông táo 23 tháng chạp trở đi, thị trường bánh mứt mới sôi động.
Để khuyến khích người tiêu dùng, nhiều siêu thị đã áp dụng về cạnh tranh giá, giảm giá nhiều sản phẩm hay quà tặng đi kèm sản phẩm, tích lũy thêm nhiều điểm thưởng trong thẻ khách hàng. Bên cạnh đó, nhiều chương trình ưu đãi rất lớn cho khách hàng.
Tham khảo bảng giá của Công ty bánh mứt kẹo Hà Nội – Áp dụng từ 28/12/2018

Cùng với thị trường nội địa, thì hoạt động xuất nhập khẩu cũng sôi động. Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc trong tháng 11/2018 đạt 62,8 triệu USD, tăng 1,8% so với tháng 10/2018, nâng kim ngạch mặt hàng này 11 tháng năm 2018 lên 598,8 triệu USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước.
Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng 11/2018 đạt 49,3 triệu USD, tăng 11% so với tháng 10/2018, nâng kim ngạch 11 tháng 2018 lên 323,75 triệu USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ 2017.
Như vậy, 11 tháng đầu năm 2018, Việt Nam đã xuất siêu 275,11 triệu USD.
Trong 11 tháng đầu năm nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao nhất 22% đạt 51,57 triệu USD, tăng 27,26% so với cùng kỳ, mặc dù trong tháng 11/2018 kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này giảm 15,11% so với tháng 10/2018, nhưng nếu so với tháng 11/2017 tăng 9,08% đạt trên 5 triệu USD.
Thị trường đứng thứ hai sau Mỹ là Campuchia chiếm 21% tỷ trọng, kế đến là Hàn Quốc chiếm 19%, Nhật Bản 18%. Ngoài những thị trường kể trên, thì sản phẩm bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc còn được xuất sang các trường khác như: Ba Lan, Saudi Arabia, Lào, Indonesia….
Đặc biệt, trong thời gian này Việt Nam tăng mạnh xuất khẩu sang thị trường Ghana tuy chỉ đạt 1,42 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng vượt trội gấp 2,2 lần (tức tăng 119,24%), mặc dù tháng 11/2018 kim ngạch xuất sang Ghana chỉ đạt 246,8 nghìn USD, giảm 2,54% so với tháng 10/2018.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc 11 tháng năm 2018

 

Ngược lại Việt Nam nhập khẩu bánh kẹo chủ yếu từ các thị trường Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Hàn Quốc với kim ngạch đạt lần lượt 99,37 triệu USD; 47,46 triệu USD; 37,68 triệu USD và Hàn Quốc 28,05 triệu USD và tốc độ nhập khẩu từ các thị trường này đều tăng trưởng và tăng tương ứng 27,20%; 21,54%; 18,51% và 10,98%.
Thị trường nhập khẩu bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc chiếm tỷ trọng lớn trong 11 tháng năm 2018

 

Việt Nam chuyển từ xuất siêu sang nhập siêu từ Nhật Bản

11 tháng đầu năm 2018 Việt Nam nhập siêu từ Nhật Bản 153,41 triệu USD (trong khi cùng kỳ năm 2017 xuất siêu sang Nhật 458,31 triệu USD).

Việt Nam chuyển từ xuất siêu sang nhập siêu từ Nhật Bản

Hàng hóa của Nhật Bản nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng tăng mạnh. Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng đầu năm 2018, nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam tăng 17,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017, trị giá trên 17,45 tỷ USD. Riêng tháng 11/2018 kim ngạch đạt 1,77 tỷ USD, giảm 2,6% so với tháng 10/2018 nhưng tăng 9,6% so với tháng 11/2017.

Hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản cũng tăng 12,8%, đạt 17,3 tỷ USD; như vậy, mức nhập siêu từ Nhật Bản 11 tháng đầu năm đạt 153,41 triệu USD (trong khi 11 tháng đầu năm 2017 Việt Nam xuất siêu sang Nhật 458,31 triệu USD).

Trong 11 tháng đầu năm 2018 có 3 nhóm hàng nhập khẩu từ Nhật Bản đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng nhập khẩu nhiều nhất từ Nhật Bản là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 4,05 tỷ USD, chiếm 23,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa các loại từ thị trường này, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện nhập khẩu đứng thứ 2 về kim ngạch đạt 3,76 tỷ USD, chiếm 21,6%, tăng mạnh 34,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Đứng thứ 3 là nhóm sắt thép các loại trị giá 1,47 tỷ USD, chiếm trên 8,4%, tăng 15,8%;

Ngoài ra, còn số nhóm hàng cũng đạt kim ngạch cao như: Sản phẩm nhựa trị giá 783,77 triệu USD, tăng 9,5%; linh kiện, phụ tùng ô tô trị giá 725,27 triệu USD, tăng 25,3%; vải may mặc 681,95 triệu USD, tăng 15,5%.

Kim ngạch nhập khẩu phần lớn các nhóm hàng từ Nhật Bản trong 11 tháng đầu năm 2018 tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó nhóm hàng than đá nổi bật với mức tăng rất mạnh 425,9%, đạt 8,64triệu USD; bên cạnh đó, nhập khẩu còn tăng mạnh ở một số nhóm hàng như: Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 113,8%, trị giá 239,97 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 80,7%, trị giá 313,84 triệu USD; xơ, sợi dệt các loại tăng 58%, trị giá 73,6triệu USD; chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh tăng 40,9%, trị giá 33,12 triệu USD.

Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên phụ liệu thuốc lá từ Nhật Bản sụt giảm rất mạnh 51,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt 0,02 triệu USD; ngoài ra, nhập khẩu phương tiện vận tải phụ tùng; ô tô nguyên chiếc, phân bón từ Nhật Bản cũng sụt giảm tương đối mạnh, với mức giảm tương ứng 30,9%, 26,5% và 19,3% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu hàng hóa từ Nhật Bản 11 tháng đầu năm 2018

ĐVT: USD

Nhóm hàngT11/2018% tăng giảm so với T10/201811T/2018% tăng giảm so với cùng kỳ
Tổng kim ngạch NK1.769.083.048-2,6317.452.104.62017,29
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác385.325.160-5,424.046.911.1365,36
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện370.402.158-17,283.761.876.13734,55
Sắt thép các loại146.086.3671,321.467.201.81815,81
Sản phẩm từ chất dẻo80.815.7987,54783.770.9579,49
Linh kiện, phụ tùng ô tô63.263.363-17,78725.265.21525,26
Vải các loại74.803.0658,67681.950.31115,48
Sản phẩm từ sắt thép50.133.119-3,7530.365.00816,12
Phế liệu sắt thép52.378.41919,87527.196.57030,1
Kim loại thường khác55.194.65424,46476.814.24935,73
Chất dẻo nguyên liệu44.147.7631,55450.858.15824,6
Sản phẩm hóa chất49.750.5195,91435.685.89413,79
Hóa chất30.708.941-20,09358.290.9221,25
Điện thoại các loại và linh kiện49.891.00841,05313.824.99180,72
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày27.516.438-4,86265.092.90816,82
Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện27.171.988-13,63239.965.411113,8
Giấy các loại29.533.97112,81231.280.88439,22
Phương tiện vận tải khác và phụ tùng15.922.284110,6152.660.579-30,94
Sản phẩm từ cao su13.919.620-1,84141.164.46913,63
Dây điện và dây cáp điện14.028.8049,89130.827.5106
Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh15.352.026-2,21127.533.0236,58
Cao su12.996.869-9,95126.969.957-3,89
Hàng thủy sản9.326.33216,1498.447.26131,06
Sản phẩm từ kim loại thường khác8.472.865-5,0686.916.7528,94
Xơ, sợi dệt các loại8.642.90122,6173.596.68457,96
Ô tô nguyên chiếc các loại13.880.43116,1871.199.004-26,5
Dược phẩm4.355.84535,0358.183.50738,72
Sản phẩm từ giấy4.461.515-8,0548.058.5905,12
Sản phẩm khác từ dầu mỏ3.231.780-3,2237.170.679-18,61
Chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh3.852.6631,9833.120.88140,88
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm3.645.6656,4432.006.43019,06
Sữa và sản phẩm sữa3.671.20628,3631.171.12236,66
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu4.044.52820,7430.268.543-10,81
Phân bón các loại3.211.28796,9724.357.056-19,28
Chế phẩm thực phẩm khác2.383.4752,122.071.93915,04
Hàng điện gia dụng và linh kiện1.617.90748,713.603.480-19,23
Than các loại1.724.1006,687,808.638.593425,88
Gỗ và sản phẩm gỗ807.106-7,058.266.6812,6
Quặng và khoáng sản khác658.612-41,57.269.71210,94
Thức ăn gia súc và nguyên liệu345.839-7,883.676.129-17,34
Nguyên phụ liệu thuốc lá24.144-51,84

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)

Thủy Chung

Tăng liền 8 phiên, giá dầu cao nhất gần 1 tháng

Giá dầu WTI tăng 5,2%, giá dầu Brent tăng 4,6% trong phiên ngày thứ Tư…

Với phiên tăng này, giá dầu WTI đã thoát khỏi trạng thái thị trường đầu cơ giá xuống (bear market).

Giá dầu thế giới tiếp tục đi lên trong phiên giao dịch ngày thứ Tư, đánh dấu phiên tăng thứ 8 liên tục và đạt mức cao nhất trong gần 4 tuần.

Nâng đỡ cho giá “vàng đen” phiên này là tâm trạng lạc quan về đàm phán thương mại Mỹ-Trung, sự giảm sút sản lượng tháng 12 của một số nước sản xuất dầu lớn, và lượng dầu tồn kho của Mỹ giảm.

“Giá dầu được đẩy lên bởi thông tin Saudi Arabia cắt giảm sản lượng nhiều hơn quy định trong thỏa thuận của Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và đối tác, cộng thêm triển vọng về một thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung”, chuyên gia kinh tế về năng lượng James Williams thuộc WTRG Economics phát biểu với trang Market Watch. “Một thỏa thuận thương mại sẽ giúp ích cho nền kinh tế Trung Quốc và cải thiện nhu cầu tiêu thụ dầu”.

Trong một cuộc trao đổi với tờ báo Financial Times, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Saudi Arabia, ông Khalid al-Falih khẳng định quyết tâm “bình ổn” thị trường dầu và nói rằng nỗ lực cắt giảm sản lượng của OPEC và đối tác đã bắt đầu có tác dụng.

Theo kết quả một cuộc khảo sát do S&P Global Platts thực hiện, sản lượng dầu của OPEC đã giảm 630.000 thùng/ngày, xuống mức thấp nhất trong 6 tháng là 32,43 triệu thùng/ngày trong tháng 12.

Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu WTI giao sau tại thị trường New York tăng 2,58 USD/thùng, tương đương tăng 5,2%, chốt ở 52,36 USD/thùng, mức cao nhất kể từ ngày 13/12.

Với phiên tăng này, giá dầu WTI đã thoát khỏi trạng thái thị trường đầu cơ giá xuống (bear market), nhờ tăng 23% so với mức đáy của 52 tuần thiết lập vào hôm 24/12, theo dữ liệu của Dow Jones Market Data.

Tại thị trường London, giá dầu Brent giao sau tăng 2,72 USD/thùng, tương đương tăng 4,6%, đạt 61,44 USD/thùng. Đây là mức giá cao nhất của dầu Brent kể từ giữa tháng 12.

Với phiên này, giá dầu WTI và dầu Brent đã có 8 phiên tăng liên tiếp, chuỗi phiên tăng dài nhất trong 18 tháng.

Sau khi kéo dài thêm một ngày, vòng đàm phán thương mại Mỹ-Trung đã kết thúc ở Bắc Kinh vào ngày thứ Tư. Chứng khoán toàn cầu đồng loạt tăng điểm khi quan chức hai nước cùng thể hiện thái độ lạc quan sau đàm phán, dù kết quả cụ thể còn chưa được công bố chính thức.

Các nhà phân tích thuộc Commerzbank nói rằng niềm lạc quan về thương mại đang là một yếu tố quan trọng hỗ trợ giá dầu. Theo một báo cáo của ngân hàng này, đợt giảm mạnh cuối năm 2018 của giá dầu “không chỉ do thừa cung, mà còn do sự bán tháo trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu bị bán mạnh do lo ngại chiến tranh thương mại sẽ làm suy giảm tăng trưởng kinh tế Mỹ và Trung Quốc, kéo theo nhu cầu dầu tại hai quốc gia tiêu thụ dầu hàng đầu thế giới này”.

Một chất xúc tác khác cho giá dầu tăng phiên này là báo cáo hàng tuần từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho thấy tồn kho dầu thô của Mỹ giảm 1,7 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 4/1. Mức giảm này lớn hơn dự báo giảm 1,4 triệu thùng mà giới phân tích đưa ra trước đó.

DIỆP VŨ

Khối ngoại rót 2,8 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp năm 2018 vào Việt Nam

Mức rót ròng vốn đầu tư gián tiếp của khối ngoại vào thị trường Việt Nam năm nay tương đương kỷ lục 2,9 tỷ USD năm 2017, trong khi nhiều nước Đông Nam Á đã có biểu hiện rút vốn.

Giá trị giao dịch mua ròng kỷ lục trong lịch sử chứng khoán Việt Nam của khối ngoại năm qua được ông Phạm Hồng Sơn, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước công bố tại Hội nghị Tổng kết công tác tài chính – ngân sách nhà nước năm 2018 và triển khai nhiệm vụ năm 2019.

Cụ thể, ông Sơn cho biết nhà đầu tư nước ngoài đã rót ròng tới 2,8 tỷ USD vào thị trường chứng khoán Việt Nam năm qua. Trong khi nhiều thị trường khác tại Đông Nam Á chứng kiến sự rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài này. Tổng giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 32,8 tỷ USD

Đây là giá trị mua ròng lớn nhất của khối ngoại trong lịch sử hơn 20 năm vận hành của thị trường chứng khoán Việt. Nếu so với mức mua ròng năm 2017 (28.000 tỷ đồng), giá trị giao dịch mua ròng năm này tăng tới hơn 2 lần.

Theo vị lãnh đạo UBCKNN, năm qua kinh tế thế giới tăng trưởng ở mức cao trong diễn biến rất phức tạp. Việc Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) 4 lần tăng lãi suất và những tranh chấp thương mại của các nền kinh tế lớn đã ảnh hưởng đến nền kinh tế và thị trường chứng khoán toàn cầu.

Khoi ngoai rot 2,8 ty USD von dau tu gian tiep nam 2018 vao Viet Nam hinh anh 1
Phó Chủ tịch UBCKNN Phạm Hồng Sơn tại Hội nghị tổng kết ngành tài chính năm 2018. Ảnh: H.Thọ

Theo đó, xu hướng giảm sâu diễn ra tại hầu hết thị trường chứng khoán năm qua. Trong bối cảnh đó, thị trường Việt Nam cũng nằm trong xu hướng giảm, với những biến động tương đối mạnh, có sự trồi sụt.

“Tuy nhiên, nhờ sự tăng trưởng mạnh của nền kinh tế và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, cả quy mô và thanh khoản của thị trường đã tăng trưởng mạnh”, ông Sơn cho hay.

Theo đó, quy mô vốn hóa của thị trường đến cuối năm 2018 đã đạt 3,9 triệu tỷ đồng, tăng 12,7% so với 2017 và tương đương 71,6% GDP năm 2018. Con số này thậm chí đã vượt chỉ tiêu 70% GDP dự kiến đến năm 2020.

Ông Sơn cho biết thêm bình quân giá trị giao dịch mỗi phiên năm vừa qua ước đạt 6.500 tỷ đồng, tăng tới 29% so với năm trước đó. Và trên thị trường trái phiếu, giá trị niêm yết cũng đạt 1,122 triệu tỷ đồng, tăng 10,5% cùng kỳ và tương đương 20,3% GDP năm 2018. Giao dịch trái phiếu về cơ bản vẫn giữ được mức sôi động với giá trị giao dịch đạt 8.834 tỷ đồng/phiên.

Thị trường chứng khoán phái sinh tuy mới vận hành trong 1 năm nhưng thanh khoản đã vượt 7 lần so với năm 2017. Lượng hợp đồng giao dịch tính đến cuối năm cũng đạt 21.653 hợp đồng, tăng 2,7 lần so với năm trước.

Khoi ngoai rot 2,8 ty USD von dau tu gian tiep nam 2018 vao Viet Nam hinh anh 2

Không chỉ quy mô thị trường được mở rộng, số liệu được ông Sơn công bố cũng cho thấy sự tăng trưởng rất mạnh về kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán năm qua.

Cụ thể, tính đến cuối năm 2018, doanh thu của các doanh nghiệp niêm yết đã tăng 20,5%, và lợi nhuận tăng 24,9% so với cùng kỳ. Đặc biệt, các công ty, tổ chức kinh doanh chứng khoán có lợi nhuận sau thuế tăng bình quân tới 40%.

“Điều này cho thấy chứng khoán tiếp tục khẳng định là một kênh huy động vốn hữu hiệu của nền kinh tế”, ông Sơn nhấn mạnh.

Về trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, vị này cho biết giá trị giao dịch đã đạt 192.000 tỷ đồng với kỳ hạn phát hành đạt bình quân tới trên 12,55 năm, dài nhất từ trước đến nay, đáp ứng nhu cầu đầu tư công và cơ cấu nợ công của Chính phủ. Ngoài ra, kênh huy động vốn qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu năm qua cũng mang về cho các doanh nghiệp cổ phần hóa trên 86.800 tỷ, tăng 71%.

Tất cả yếu tố này giúp thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường thành công nhất khu vực Đông Nam Á về huy động vốn năm 2018.

Quang Thắng

Giá vàng hôm nay 10/1: USD giảm, vàng treo giá mức cao

Giá vàng hôm nay 10/1 trên thị trường thế giới chịu áp lực giảm khá lớn nhưng vẫn treo ở mức cao nhờ một đồng USD suy yếu. Những tiến triển trong quan hệ Mỹ-Trung khiến nhu cầu mua vàng giảm.

Tới đầu giờ sáng 10/1 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.286 USD/ounce.

Giá vàng giao tháng 2 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.288 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay thấp hơn 1,3% (17,5 USD/ounce) so với đầu năm 2018. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 35,6 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 1,1 triệu đồng/lượng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới chịu áp lực giảm khá lớn nhưng vẫn treo ở mức cao nhờ một đồng USD suy yếu. Những tiến triển trong quan hệ Mỹ-Trung khiến nhu cầu mua vàng giảm.

Vàng giảm giá nhẹ chủ yếu do thị trường chứng khoán toàn cầu hồi phục trở lại sau những tín hiệu tích cực trong cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung vừa kết thúc. Cuộc đàm phán ban đầu dự kiến 2 ngày nhưng sau đó kéo dài thành 3 ngày và được bật mí là tốt đẹp.

Trong một đoạn tweet, tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, các cuộc đàm phán với Trung Quốc “đang tiến triển rất tốt”.

Giá vàng hôm nay 10/1: USD giảm, vàng treo giá mức cao
Giá vàng hôm nay: giảm nhẹ.

Đây là cuộc đàm phán trực tiếp đầu tiên giữa 2 nước kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hồi tháng 12/2018 nhất trí về một thỏa thuận “đình chiến thương mại”. Mỹ và Trung Quốc hiện tại vẫn đang trong quá trình tạm ngừng việc đáp trả thuế quan đối với các mặt hàng xuất khẩu của nhau, tìm cách hoàn tất đàm phán về công nghệ và các quyền sở hữu trí tuệ trong vòng 90 ngày.

Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Wilbur Ross trước đó cũng đã đưa ra dự đoán rằng Bắc Kinh và Washington có thể đạt được thỏa thuận thương mại do “2 bên có thể đồng thuận”.

Nỗi lo ngại về những tác động tiêu cực của cuộc chiến thương mại giữa Mỹ-Trung tạm thời giảm bớt. Thị trường tài chính toàn cầu diễn biến tích cực là yếu tố khiến dòng tiền không còn dồn vào vàng như một kênh trú bão.

Chứng khoán Mỹ tăng phiên thứ 4 liên tiếp, trong khi các thị trường chứng khoán châu Á và châu Âu đều tăng điểm.

Quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust tiếp tục giảm nhẹ lượng vàng nắm giữ, bớt khoảng 0,03% xuống 796,53 tấn vào ngày 8/1.

Hiện thị trường đang chờ đợi Ủy ban Thị trường mở Liên bang công bố kết quả cuộc họp chính sách vào ngày 18-19/12.

Tuy nhiên, đồng USD suy yếu khiến vàng giảm không nhiều và vẫn rập rình tăng trở lại.

Đồng USD yếu do giới đầu tư dự đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục cân nhắc về kế hoạch tăng lãi suất, không còn tăng với tốc độ nhanh như trước.

Trên thị trường vàng trong nước chốt 9/1 đa số các cửa hàng vàng giảm giá vàng 9999 trong nước 30-50 ngàn đồng so với phiên liền trước.

Tính tới cuối phiên giao dịch 9/1, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 36,59 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,70 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 36,50 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,69 triệu đồng/lượng (bán ra).

Theo Doji, thị trường vàng trong nước lắng lại sau chuỗi ngày giá tịnh tiến tăng dần do sự tác động từ giá vàng thế giới. Thị trường trong nước hôm thứ Tư ghi nhận mức độ giao dịch giảm hơn phiên liền trước, lượng khách bán vàng ra chiếm tới 60% số lượng khách tham gia giao dịch tại Doji.

V. Minh

Giá USD biến động trái chiều tại các ngân hàng thương mại sáng 5/1

Tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam (VND) và USD sáng 5/1 được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.829 VND, không đổi so với hôm qua.

Đồng USD. (Nguồn: THX/TTXVN)

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.513 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.145 VND/USD.

Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước lúc 8 giờ 10 sáng nay giá niêm yết USD ở mức 23.200 – 23.464 VND/USD (mua vào-bán ra), không đổi so với hôm qua.

[Giá vàng đồng loạt tăng, tỷ giá trung tâm thêm 20 đồng]

Tại các ngân hàng thương mại sáng nay giá USD biến động trái chiều.

Lúc 8 giờ 10, tại Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.155-23.245 VND/USD (mua vào-bán ra), giảm 5 đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm sáng qua.

Tại BIDV, giá USD đang được niêm yết ở mức 23.155-23.245 VND/USD (mua vào-bán ra), giảm 5 đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm sáng qua.

Tại Techcombank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.135-23.245 VND/USD (mua vào-bán ra), tăng 5 đồng ở cả hai chiều so với cùng thời điểm sáng qua./.

KHÁNH VY (TTXVN/VIETNAM+) 

Giá vàng hôm nay 5/1: Đồng loạt giảm mạnh, chênh lệch giá vàng lên gần 1 triệu/lượng

Giá vàng hôm nay 5/1 ghi nhận giá vàng trong nước giảm mạnh theo giá vàng thế giới, xuống mức 36,74 triệu đồng/lượng.

Ảnh minh hoạ

Ghi nhận của Petrotimes, vào hồi 10 giờ sáng 5/1, giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.285,24 USD/Ounce, giảm hơn 11 USD/Ounce so với cuối giờ sáng 4/1.

Trên sàn Comex thuộc New York Mercantile Exchanghe, giá vàng thế giới giao tháng 1/2019 đứng ở mức 1.282,6 USD/Ounce, giảm 9,2 USD/Ounce trong phiên.

Quy theo giá USD ngân hàng, vàng thế giới hiện có giá 35,79 triệu đồng/lượng. Chưa tính thuế và phí, giá vàng thế giới hiện đang thấp hơn giá vàng trong nước 0,95 triệu đồng/lượng.

Giá vàng thế giới quay đầu giảm mạnh sau khi thị trường đón nhận những thông tin tích cực từ nền kinh tế Mỹ. Cụ thể, ngày 4/1, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell đã có những phát biểu nhằm trấn an thị trường tài chính FED sẽ không bỏ qua những dấu hiệu suy giảm tăng trưởng kinh tế.

Theo tin từ Reuters, phát biểu trước Hội Kinh tế Mỹ (AEA) ở Atlanta, ông Powell cho biết FED đang lắng nghe những tín hiệu của thị trường và sẽ có sự cân nhắc giữa những dữ liệu kinh tế khả quan với những rủi ro lớn, trong đó có vấn đề suy giảm tăng trưởng toàn cầu và cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Phản ứng trước phát biểu trên, chốt phiên giao dịch ngày thứ 6, thị trường Phố Wall đã có biến động mạnh, cả 3 chỉ số chính đồng loạt tăng hơn 3%. Trong đó, chỉ số Dow Jones tăng 3,29%, chốt ở 23.433,16 điểm; chỉ số S&P 500 tăng 3,43%, đạt 2.531,94 điểm; chỉ số Nasdaq tăng 4,26%, đạt 6.738,86 điểm.

Tại thị trường trong nước, theo diễn biến của của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước sáng 5/1 cũng được điều chỉnh giảm mạnh. Tính đến cuối phiên giao dịch sáng 5/1, giá vàng SJC được niêm yết tại TP Hồ Chí Minh ở mức 36,54 – 36,74 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra), giảm đồng thời 50 ngàn đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với cuối giờ sáng 4/1.

Trong khi đó, giá vàng SJC được Tập đoàn DOJI niêm yết ở mức 36,65 – 36,75 triệu đồng/lượng (mua vào/bán ra), giảm đồng thời 30 ngàn đồng/lượng ở cả chiều mua và bán so với cuối phiên 4/1.

Cùng thời điểm, giá vàng SJC được Phú Quý SJC niêm yết ở mức 36,64 – 36,74 triệu đồng/lượng, giảm 40 ngàn đồng/lượng so với cuối phiên 4/1.

Minh Ngọc

Giá dầu thế giới tăng hơn 1% trong phiên giao dịch ngày 3/1

Trong phiên giao dịch nhiều biến động ngày 3/1, giá dầu thô thế giới tăng hơn 1% trước những dấu hiệu cho thấy Saudi Arabia đang triển khai việc cắt giảm sản lượng dầu thô.

Chú thích ảnh
Giá dầu thế giới tăng hơn 1% ngày 3/1. Ảnh: Benzinga/TTXVN

Tuy nhiên, thị trường năng lượng vẫn chịu sức ép từ những lo ngại về khả năng kinh tế toàn cầu giảm tốc, qua đó tác động tiêu cực tới nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ.

Kết thúc phiên này tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao kỳ hạn tăng 0,55 USD (hay 1,18%) lên 47,09 USD/thùng. Trong khi tại London, giá dầu Brent Biển Bắc giao kỳ hạn tiến 1,04 USD (1,89%) lên 55,95 USD/thùng.

Biên độ giao dịch của giá dầu trong phiên này khá rộng, với giá dầu Brent dao động trong biên độ 53,93-56,30 USD/thùng, còn dầu WTI dao động trong khoảng từ 45,35 USD/thùng đến 47,49 USD/thùng.

Yếu tố hỗ trợ đà tăng của giá dầu trong phiên này là những thông tin cho thấy các thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tiến hành cắt giảm nguồn cung theo thoả thuận đã đạt được trong năm 2018.

Theo một khảo sát của hãng tin Reuters, nguồn cung dầu của OPEC trong tháng 12/2018 đã giảm mạnh nhất trong gần hai năm, với sự khởi động cắt giảm sản lượng sớm của nhà xuất khẩu dầu hàng đầu của tổ chức này là Saudi Arabia. Trong khi đó, sản lượng dầu của Iran và Libya cũng sụt giảm ngoài chủ đích.

Tuy nhiên, đà tăng giá của dầu thô trong phiên này cũng bị hạn chế phần nào bởi những lo ngại về triển vọng ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu. Đáng chú ý, “người khổng lồ” về công nghệ Apple Inc của Mỹ ngày 2/1 vừa hạ dự báo doanh thu quý IV/2018 do cho rằng doanh số bán tại Trung Quốc chậm lại, khiến thị trường chứng khoán Mỹ đỏ sàn và tác động tới giá dầu. Thêm vào đó, số liệu mới nhất về hoạt động chế tạo kém lạc quan của Mỹ cũng làm thị trường thêm lo ngại về “sức khoẻ” của nền kinh tế.

Ngoài ra, sự gia tăng nguồn cung dầu từ các nhà sản xuất hàng đầu thế giới, như Mỹ và Nga, cũng tạo áp lực lên thị trường dầu mỏ. Dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần trước (kết thúc ngày 28/12) đã giảm 4,5 triệu thùng xuống 443,7 triệu thùng, so với mức dự báo giảm 3,1 triệu thùng của giới phân tích.

Minh Trang (Theo Reuters)

Kinh tế Việt Nam 2019: Mục tiêu và khuyến nghị

Sự chuyển mình của nền kinh tế trong năm 2018 được thể hiện rõ nét không chỉ ở những con số mà chất lượng tăng trưởng ngày càng đi vào chiều sâu, tạo tiền đề cũng như kỳ vọng và lạc quan cho năm 2019.

Kinh tế Việt Nam 2019: Mục tiêu và khuyến nghị

Tăng trưởng cao nhất 10 năm qua
Những ngày cuối cùng của năm 2018, các con số được công bố đã cho thấy một kết quả đầy tích cực của nền kinh tế, trên nhiều phương diện. Theo Báo cáo Tổng quan thị trường tài chính Việt Nam 2018 – một sản phẩm thường niên của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (NFSC) đã được đưa vào danh mục ấn phẩm định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ – tăng trưởng kinh tế năm 2018 ước đạt 6,9 – 7%, mức cao nhất 10 năm qua nhờ vào động lực chính là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành dịch vụ; lạm phát được kiểm soát dưới 3,6%…
Theo ông Đặng Ngọc Tú – Trưởng ban Nghiên cứu và Điều phối chính sách giám sát (NFSC) – các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo: cán cân thanh toán quốc tế thặng dư cao; nợ công và cân đối ngân sách được kiểm soát đảm bảo các mục tiêu Quốc hội đề ra. Bên cạnh đó, nền tảng tài chính tiếp tục được củng cố, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế; cung ứng vốn từ khu vực ngân hàng giảm nhưng hiệu quả và chất lượng hơn; thanh khoản hệ thống được đảm bảo, lãi suất và tỷ giá ổn định. Thị trường chứng khoán tăng trưởng vượt bậc về quy mô với mức vốn hóa thị trường đạt 75% GDP, vượt chỉ tiêu đề ra của năm 2020.
Phân tích những mặt được trong tăng trưởng kinh tế 2018, ông Nguyễn Xuân Thành – Giám đốc Phát triển, giảng viên chính sách công của Đại học Fulbright Việt Nam – chỉ ra rằng, động lực tăng trưởng của năm 2018 đến từ hai khu vực chính là công nghiệp chế biến và dịch vụ, song đã có sự thay đổi căn bản trong cấu thành của hai bộ phận này. Nếu như năm 2017, nước ta phụ thuộc vào điện thoại và thiết bị điện tử với tốc độ tăng trưởng 20 – 30% thì nhóm ngành này chỉ tăng khoảng 11% trong 11 tháng năm 2018. “Bánh xe” tăng trưởng của năm nay lại đến từ những ngành hưởng lợi từ chính sách để thay thế hàng nhập khẩu, như sản xuất ôtô và dược phẩm. Đặc biệt, theo TS. Thành, dấu ấn tăng trưởng tích cực của kinh tế Việt Nam 2018 cần phải nhắc đến là không bị phụ thuộc vào tín dụng.
Hy vọng và lạc quan
Nền kinh tế có quyền hy vọng, lạc quan về một năm 2019, thậm chí trong những năm tiếp theo với những tăng trưởng ổn định, đi vào chiều sâu, tận dụng, duy trì và phát triển được những thế mạnh vốn có.
Dự báo của NFSC cho thấy, năm 2019, kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng 7%; lạm phát có thể chỉ 3,6%, tương đương mức lạm phát năm nay và thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu được Quốc hội thông qua.
Những dự báo nêu trên không phải không có cơ sở nếu nhìn lại chặng đường vừa qua, nền kinh tế trong nước đang bước đi những bước vững chắc, và những “ổ gà” trên đường đi của “bánh xe” kinh tế đã được lấp đầy bằng các chính sách cụ thể, bởi một Chính phủ kiến tạo, hành động vì doanh nghiệp. Những động lực cho tăng trưởng năm 2019 được nhắc tới là tiềm năng từ khu vực kinh tế tư nhân. Theo các chuyên gia kinh tế, đầu tư tư nhân/GDP ngày càng cao trong khi của khu vực công ngày càng giảm và đầu tư của FDI có xu hướng ngày càng giảm. Đặc biệt, việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để đẩy mạnh đầu tư tư nhân là mục tiêu trọng tâm của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương. Đồng thời, Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực trong năm 2019 được đánh giá sẽ tạo cơ hội lớn trong thu hút dòng vốn dịch chuyển từ các thị trường khác sang Việt Nam.
Ông Trương Văn Phước – quyền Chủ tịch NFSC – cho rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 7% của năm 2019, bên cạnh việc cải cách thể chế và môi trường kinh doanh, chính sách điều hành cần hướng đến trọng tâm ổn định tài chính. Yếu tố tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế 2019 là xu hướng dịch chuyển sản xuất do tác động của chiến tranh thương mại; triển vọng tích cực từ các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và một số các FTAs… Do đó, lạm phát có thể kiểm soát ở mức khoảng 4% nếu việc điều chỉnh giá dịch vụ công được kiểm soát chặt chẽ.
Nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy khuyến nghị, CPI là chỉ số cần quan tâm nhưng điều hành chính sách năm 2019 phải linh hoạt hơn. Mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 4% phải có điều chỉnh co giãn 0,5% nhằm lường trước yếu tố bất thường.
Kinh tế Việt Nam năm 2019 ít nhiều sẽ chịu tác động bởi yếu tố quốc tế biến động khó lường. Do đó, ổn định tài chính cần tiếp tục được coi là một trong những ưu tiên khi điều hành chính sách.
Nguồn: Thùy Linh /Báo công thương điện tử

Nhiệt điện than – Nguồn năng lượng ngày càng thân thiện

Theo các chuyên gia, trong khi chưa có nguồn năng lượng đủ lớn để thay thế thì nhiệt điện than với công nghệ ngày càng cao, thân thiện với môi trường vẫn là một giải pháp ưu thế cho Việt Nam.

Nhiệt điện than – Nguồn năng lượng ngày càng thân thiện

Nhiệt điện than vẫn là một giải pháp tối ưu với Việt Nam trong giai đoạn trước mắt

Tỷ trọng nhiệt điện than của Việt Nam còn khiêm tốn
Đóng vai trò quan trọng trong tỷ trọng nguồn điện quốc gia, đến năm 2017, nhiệt điện điện than có công suất lắp đặt khoảng 15.000MW, sản xuất được 73 tỷ kWh điện chiếm 38% tổng sản lượng điện sản xuất, cao nhất trong cơ cấu sản suất điện năng của toàn hệ thống.
Theo số liệu của IEA, Việt Nam xếp thứ 22 trên thế giới về tổng công suất nhiệt điện chạy than, tỷ trọng nhiệt điện than trong tổng công suất phát điện của Việt Nam chỉ chiếm 26,3%, trong khi mức bình quân của thế giới là 36%. Tỷ trọng nhiệt điện than của Việt Nam so với thế giới chỉ chiếm 0,3% khi mà dân số chiếm tỷ trọng 1,2%.
Điều đáng nói, một số nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc… dù không có than nội địa và phải nhập nhưng cũng đứng thứ 6 và thứ 10 trên thế giới về công suất nhiệt điện chạy than.
Trong khi các dự án thủy điện lớn hầu như đã khai thác hết, nguồn khí tự nhiên khai thác hữu hạn, triển vọng nhập khí hóa lỏng chỉ có thể thực hiện được sau năm 2025, cùng với việc dừng các dự án điện hạt nhân thì câu hỏi nguồn điện nào sẽ bù đắp được đặt ra.
Công nghệ tốt, sạch hơn nhiều
Theo TS Nguyễn Thành Sơn – Nguyên Trưởng ban Chiến lược TKV, nhiệt điện chạy than đang ngày sạch và thân thiện với môi trường hơn.
Cụ thể, từ những năm 1980, công nghệ sạch sử dụng than (Clean Coal Technology – CCT) trên thế giới đã bắt đầu phát triển theo nhiều hướng như cải tiến quy trình đốt than trong lò hơi, cải tiến quy trình phát điện tổ máy.
Chỉ tính tại các nhà máy thuộc TKV, nhiều nhiệt điện chạy than sử dụng lò hơi theo kiểu “tầng sôi tuần hoàn” giúp giảm đáng kể lượng phát thải khí NOx cũng như đốt được nhiều loại than và đốt được than kèm đá vôi để khử lưu huỳnh, cho phép giảm tới 90÷95% lượng phát thải Sox; giảm thành phần “carbon không cháy hết” trong tro bay và xỉ đáy lò xuống mức dưới 2÷5%, cho phép sử dụng tro xỉ để làm phụ gia cho xi măng.
Chưa kể công nghệ siêu tới hạn và trên siêu tới hạn của dự án nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I và các nhà máy nhiệt điện than khác (Nghi Sơn 1, Duyên Hải…), các công nghệ xử lý khói thải hiện đại bằng khử bụi tĩnh điện ESP, khử NOx bằng công nghệ SCR và khử SO2 bằng công nghệ SWFGD … thì thông số nồng độ chất phát thải tại Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I sẽ thấp hơn rất nhiều so với QCVN 22:2009/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như tiêu chuẩn phát thải theo khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới.
Chưa kể, trong quá trình vận hành, các thông số dữ liệu về chất lượng khí thải, nước thải được hệ thống giám sát quan trắc môi trường online cập nhật liên tục và được truyền về trung tâm của Sở Tài nguyên và Môi trường để các cấp có thẩm quyền theo dõi, giám sát chặt chẽ 24/24h.
Như vậy, với công nghệ điện than đã tốt, sạch và thân thiện với môi trường hơn rất nhiều, không có lý do gì để phải nghi ngại về vai trò của nhiệt điện than trong nền kinh tế quốc gia.
Nguồn: Ngọc Thọ – Minh Trí/Báo Công thương điện tử

Những xu hướng mới trên thị trường bất động sản năm 2019

Các chuyên gia đều lạc quan vào sự phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế ổn định, cho rằng sự đa dạng của thị trường sẽ mang lại nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư.

Những xu hướng mới trên thị trường bất động sản năm 2019

Ông Stephen Wyatt, Tổng giám đốc Công ty Jones Lang LaSalle Việt Nam, cho biết chu kỳ phát triển của thị trường bất động sản đã thay đổi rất nhiều so với chu kì trước. Lần này, thị trường phát triển nhiều phân khúc hơn, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư. Trước đây, chúng ta chỉ nhắc đến thị trường nhà ở đơn thuần, nhưng hiện nay thị trường văn phòng, bán lẻ cũng hoạt động rất tốt.

Ngoài ra, lượng du khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều khiến cho thị trường du lịch phát triển. Thương mại điện tử, mảng sản xuất mở rộng khiến cho thị trường logistics hay khu công nghiệp cũng phát triển. Các lĩnh vực trong đầu tư bất động sản khá đa dạng, giúp cho các nhà đầu tư có nhiều lựa chọn hơn.
Còn theo Ông Nguyễn Mạnh Hà, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Bất động sản Việt Nam, thị trường bất động sản năm 2019 sẽ phát triển với nguồn cung dồi dào, tập trung vào các dự án lớn. Những thành phố thu nhỏ với dịch vụ đầy đủ, hạ tầng đồng bộ như dự án của Vingroup sẽ là xu hướng dẫn dắt thị trường.
“Các dự án nhỏ lẻ ở khu vực khác rất khó cạnh tranh với những dự án lớn đồng bộ. Nhưng chúng tôi đánh giá cao các dự án như vậy vì đó là xu hướng tất yếu để đô thị gọn gàng hơn. Do nguồn cung dồi dào, vì vậy chúng tôi đánh giá, sang năm 2019 bất động sản sẽ không có khả năng tăng giá đột biến, thị trường ổn định. Cơ cấu hàng hóa sẽ phù hợp với khả năng của thị trường, nhất là nhà ở năm 2019 sẽ phù hợp với khả năng chi trả của người dân”, ông Hà cho biết thêm.
Cũng theo vị này, trong năm 2019, phân khúc bất động sản công nghiệp sẽ đặc biệt phát triển. Đây là làn sóng mới tại Việt Nam, việc phát triển các khu công nghiệp theo đó cũng phải đồng bộ hơn để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư cũng phải quan tâm đến nhà ở thương mại để đáp ứng các khu công nghiệp. “Chúng tôi đánh giá đây sẽ là một trong những phân khúc thị trường còn nhiều dư địa phát triển”, ông Hà kết luận.
Cùng quan điểm này, GS. Đặng Hùng Võ, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhận định rằng bất động sản công nghiệp, bất động sản thương mại là yếu tố mới, triển vọng rất lớn trong năm 2019 sắp đến.
Lý giải về quan điểm này, ông Võ cho biết chiến tranh thương mại Mỹ – Trung có thể chính là cơ hội tuyệt vời cho Việt Nam. Điều chúng ta phải làm là thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thay vì để họ đến Trung Quốc hay các nước khác. Do vậy, chúng ta cần phải chuẩn bị đủ điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Thị trường shophouse đang rất lớn
Nhận định về các xu hướng của thị trường sắp tới, ở góc độ một nhà đầu tư, bà Hương Nguyễn, Tổng giám đốc Đại Phúc Land, đưa ra dự báo cho thấy xu hướng khách hàng lựa chọn phân khúc căn hộ trong các khu đô thị được quy hoạch bài bản, đầy đủ tiện nghi, không gian sống xanh thân thiện, thoáng đãng tăng mạnh hơn. Thứ hai là các dự án ven sông, hoặc có hồ nhân tạo được ưu tiên tìm hiểu. Thứ ba là các căn hộ 2 phòng ngủ, có diện tích phù hợp từ 55 – 78m2, được bố trí không gian mở, hiện đại.
Đối với phân khúc shophouse, hầu hết các dự án bất động sản, tỷ lệ shophouse khá khan hiếm từ khoảng 2 – 5% dự án. Các shophouse thường được chủ đầu tư đặt vào vị trí đắc địa của dự án. Thêm vào đó, sản phẩm này chiếm rất nhiều ưu thế vượt trội, tích hợp nhiều chức năng, khai thác cho thuê hiệu quả. Trong năm qua và những năm tới, tiềm năng phát triển của thị trường shophouse rất lớn.
“Theo tôi thấy, sản phẩm shophouse sẽ có biên độ sinh lời rất tốt. Đối với các dự án chủ đầu tư uy tín, dự án chất lượng thì biên độ sinh lời còn cao hơn nữa. Trong năm 2018, thị trường chứng kiến sự sụt giảm về nguồn cung shophouse chất lượng trên thị trường. Trong năm 2019, tiếp tục sự thiếu hụt về nguồn cung shophouse. Dự báo phân khúc này vẫn được săn đón và dự kiến giá shophouse sẽ tăng trong năm tiếp theo”, bà Hương phân tích.
Khách hàng nên bỏ tiền vào đâu?
Về cơ hội đầu tư bất động sản thuộc các tỉnh giáp ranh TP.HCM trong năm 2019, ông Lê Hoàng Châu – Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM cho biết cùng với sự phát triển hạ tầng liên vùng ngày càng hoàn chỉnh, các tỉnh lân cận đã được xem như vùng ngoại ô của TP.HCM. Cơ hội đầu tư về những địa bàn này tuy khá nhiều nhưng còn phụ thuộc vào kế hoạch phát triển các dự án hạ tầng giao thông trong tương lai, đặc biệt là các quy hoạch các ga metro.
Bà Nguyễn Vũ Thiên Diễm, Chủ tịch HĐQT Thiên Minh Group, cũng cho biết các tỉnh thành xung quanh khu vực TP.HCM trong những năm qua rất được quan tâm. Thuận lợi đầu tiên vì là đây là thị trường mới nổi, chưa được nhiều chủ đầu tư để mắt tới. Trong khi hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng đang được đầu tư khép kín. Trong năm 2019, nhiều chủ đầu tư sẽ đưa ra thị trường các dự án tại khu vực vùng ven và đây là điểm nhấn trong thị trường bất động sản khu vực phía Nam.
Đồng ý với những nhận định trên, ông Nguyễn Hoài Sơn, Giám đốc kinh doanh BĐS Gamigroup, cho rằng mật độ dân số sẽ quyết định đến giá của bất động sản. Các nhà đầu tư nên hướng đến những địa phương sẽ có đông dân trong tương lai, kết nối giao thông tốt. Nếu các nhà đầu tư kỳ vọng sinh lời cao thì phải chấp nhận rủi ro do đầu tư ở khu vực đó trong nhiều năm mà chưa chắc giá đã lên. Còn nếu nhà đầu tư quan tâm hệ số sinh lời thấp thì có thể đầu tư căn hộ dạng officetel, căn hộ 1 – 2 phòng ngủ cho thuê để ổn định hơn.
“Trong 2 năm tới, thị trường nhà ở sẽ là kênh đầu tư được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, trước khi đầu tư chúng ta cần tìm hiểu kỹ về thị trường để hiểu rõ hơn về dự án, năng lực đầu tư. “Vị trí, vị trí và vị trí” vẫn sẽ là yếu tố quan trọng để xác định được giá bán. Đồng thời, những dự án có cơ sở hạ tầng thuận tiện với những tuyến đường mới, cao tốc, metro… sẽ được nhiều người quan tâm “, ông Stephen Wyatt nhận định.
Ông Trần Khánh Quang, Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư bất động sản Việt An Hòa, đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam 2019 vẫn tăng trưởng tốt, trong đó phân khúc đất nền sẽ tiếp tục được quan tâm đầu tư. Phú Quốc sẽ là thị trường tiềm năng vào quý 2/2019 khi giá đất các tỉnh hiện nay đạt giá khá cao.
Theo ông Quang, trong năm tới, nhiều dự án condotel đi vào hoạt động sẽ gây áp lực rất lớn cho các chủ đầu tư vì có cam kết lợi nhuận về khai thác. Những căn hộ giá dưới 1,5 tỉ đồng sẽ tiếp tục được tiêu thụ tốt và dịch chuyển qua các khu vực như Bình Chánh, Bình Tân thu hút được nhà đầu tư mới.
Nguồn: cafef

TT kim loại thế giới ngày 4/1/2019: Đồng tuần giảm mạnh nhất trong 2 tháng

 Giá đồng tại London ngày 4/1/2019 tăng hơn 1%, do hoạt động mua vào kiếm lời, song giá đồng hướng tới tuần giảm mạnh nhất trong gần 2 tháng, bởi lo ngại hoạt động tiêu thụ tại nước tiêu thụ hàng đầu – Trung Quốc – chậm lại.

TT kim loại thế giới ngày 4/1/2019: Đồng tuần giảm mạnh nhất trong 2 tháng

Giá đồng giao sau 3 tháng  trên sàn London tăng 1,1% lên 5.801,5 USD/tấn và giá đồng kỳ hạn tại Thượng Hải giảm 1,1% xuống 46.720 CNY (6.806,63 USD)/tấn. Tính chung cả tuần, giá đồng trên sàn London giảm 3,3%, tuần giảm mạnh nhất kể từ đầu tháng 11/2018, trong khi giá đồng tại Thượng Hải giảm 3,1% trong tuần này, tuần giảm mạnh nhất kể từ giữa tháng 8/2018.

Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc có thể giảm xuống dưới 6,5% trong quý 4/2018, khi các công ty đối mặt với những khó khăn gia tăng.

Hoạt động nhà máy của Trung Quốc giảm lần đầu tiên trong 19 tháng trong tháng 12/2018, do các đơn hàng trong và ngoài nước suy giảm.

Chỉ số quản lý sức mua của Caixin/Markit trong tháng 12/2018 giảm xuống 49,7 so với 50,2 trong tháng 11/2018, giảm lần đầu tiên kể từ tháng 5/2017.

Nhà sản xuất đồng lớn thứ 2 châu Phi tăng thuế tài nguyên 4% lên 6% thêm 1,5% điểm từ ngày 1/1/2019 và đưa ra mức thuế mới 10% khi giá đồng vượt 7.500 USD/tấn.

Thị trường  toàn cầu suy giảm do số liệu kinh tế Mỹ giảm ảnh hưởng nặng nề đến chứng khoán phố Wall và khiến các nhà đầu tư đặt cược Cục Dự trữ Liên bang có thể đảo ngược chính sách thắt chặt trước cuối năm nay.

Nguồn: VITIC/Reuters

Giá vàng trong nước tăng mạnh sáng 4/1

Giá vàng SJC sáng 4/1 tăng 40.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 140.000 đồng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch ngày 3/1.

Sáng nay (4/1), công ty VBĐQ Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,6 – 36,8 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), tăng 40.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 140.000 đồng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch ngày hôm qua (3/1). Giá bán ra cao hơn giá mua vào 200.000 đồng mỗi lượng.

gia vang trong nuoc tang manh ngay 4/1 hinh 1
Ảnh minh họa/KT

Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng đầu giờ sáng nay ở mức 36,66 – 36,76 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra), tăng 170.000 đồng/lượng ở chiều mua, tăng 70.000 đồng chiều bán ra so với giá vàng ngày hôm qua. Mức chênh lệch giá mua – bán vẫn duy trì là 100.000 đồng/lượng.

Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay ở mức 1.287,4 USD/ounce, giảm 0,4 USD so với ngày 3/1. Tính theo tỷ giá Vietcombank hôm nay (23.250 đồng/USD), giá vàng thế giới hiện ở mức 36,06 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC 740.000 đồng/lượng./.

HP/VOV.VN

Giá dầu vẫn bật tăng dù nỗi lo nhu cầu phủ bóng

Bắt đầu từ tháng 1 này, OPEC và Nga sẽ thực hiện thỏa thuận cắt giảm sản lượng để vực dậy giá dầu…

Gần đây, giá dầu theo khá sát các diễn biến của chứng khoán Mỹ.

Giá dầu thế giới tăng trên 2% trong phiên giao dịch giằng co ngày thứ Tư, nhờ lực hỗ trợ từ phiên tăng nhẹ của chứng khoán Mỹ. Tuy nhiên, những mối lo về sự suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu và nhu cầu tiêu thụ năng lượng vẫn gây áp lực giảm giá lên “vàng đen” – hãng tin Reuters cho hay.

Lúc đóng cửa tại thị trường New York, giá dầu thô WTI tăng 1,13 USD/thùng, tương đương tăng 2,5%, đạt 46,54 USD/thùng. Tại thị trường London, giá dầu thô Brent tăng 1,11 USD/thùng, tương đương tăng 2,1%, đạt 54,91 USD/thùng.

Giá dầu được hỗ trợ khi cả ba chỉ số chính của chứng khoán Mỹ cùng chốt phiên trong trạng thái tăng điểm nhẹ. Gần đây, giá dầu theo khá sát các diễn biến ở Phố Wall – thị trường chứng khoán có mức giảm tệ nhất 1 thập niên trong 2018.

Mặc dù vậy, sức ép giảm giá đối với dầu vẫn đang lớn. Dữ liệu do Trung Quốc công bố cho thấy hoạt động của các nhà máy ở nước này đang giảm tốc. Trong khi đó, sản lượng dầu từ các quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới như Nga đang tăng lên.

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) của Trung Quốc cho thấy ngành chế biến-chế tạo của nước này trong tháng 12 đã lần đầu tiên suy giảm trong hơn 2 năm. Số liệu này cho thấy thách thức mà Bắc Kinh phải đối mặt trong cuộc chiến thương mại với Washington.

“Chúng tôi vẫn xem sự trượt giảm của nền kinh tế Trung Quốc là một nhân tố bất lợi lớn đối với giá dầu, bởi Trung Quốc đã trở thành quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới”, ông Jim Ritterbusch, Chủ tịch Ritterbusch and Associatees, nhận định.

Dữ liệu ngành sản xuất từ khu vực Eurozone cũng gây thất vọng khi cho thấy ngành này hầu như không tăng trong tháng cuối cùng của năm 2018.

Những mối lo về sự giảm tốc của nền kinh tế toàn cầu và tình trạng thừa dầu đã khiến giá dầu giảm sâu khỏi mức đỉnh của 4 năm thiết lập hồi đầu tháng 10/2018. Năm ngoái, giá dầu đã có năm giảm đầu tiên kể từ 2015, trong đó giá dầu WTI sụt 25% và giá dầu Brent giảm 21%.

Dữ liệu công bố ngày thứ Tư cho thấy sản lượng dầu của Nga trong năm 2018 đạt mức kỷ lục kể từ khi Liên Xô tan rã. Các số liệu khác cho thấy sản lượng dầu của Mỹ đạt mức cao chưa từng thấy trong tháng 10 và Iraq tăng xuất khẩu dầu trong tháng 12.

Năm ngoái, sản lượng dầu đá phiến tăng mạnh đã đưa Mỹ vượt Saudi Arabia và Nga để trở thành quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Mấy tháng gần đây, sản lượng dầu của các nước nước này liên tục đạt hoặc ở gần mức kỷ lục.

Bắt đầu từ tháng 1 này, Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và đối tác, gồm Nga, sẽ thực hiện thỏa thuận cắt giảm sản lượng 1,2 triệu thùng/ngày để vực dậy giá dầu.

Hôm thứ Ba, Bộ trưởng Bộ Năng lượng của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), một thành viên OPEC, bày tỏ tin tưởng rằng thị trường dầu lửa sẽ cân bằng cung-cầu trong quý 1 năm nay.

DIỆP VŨ

Tỷ giá ngoại tệ ngày 3/1: Ngân hàng Nhà nước tăng mạnh giá mua USD

Giá USD sáng nay Ngân hàng Nhà nước mua vào ở mức 23.200 đồng/USD, tăng 500 đồng mỗi USD so với cùng thời điểm hôm qua.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) sáng nay đang là 96,32 điểm, tăng so với 95,72 điểm cùng thời điểm phiên hôm qua. Phiên hôm qua, chỉ số USD Index vọt tăng lên 96,54 điểm.

Theo Bloomberg, giá USD so với Euro hôm nay bật tăng, hiện ở mức 1 Euro = 1,1344 USD; USD cũng bật tăng so với Nhân dân tệ, hiện 1 USD = 6,86 CNY. Phiên hôm qua, 1 Euro = 1,1453 USD; nhưng USD tăng so với Nhân dân tệ, hiện 1 USD = 6,68 CNY.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, sáng nay, giá USD biến động nhẹ so với chốt phiên hôm qua. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.160-23.250 VND/USD, ngang giá; VietinBank niêm yết giá 23.156-23.246 đồng/USD, giảm 5 đồng; BIDV niêm yết giá 23.165-23.255 đồng/USD, tăng 15 đồng mỗi chiều giao dịch.

Tỷ giá trung tâm giữa đồng Việt Nam (VND) và đô la Mỹ (USD) sáng 2/1 được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.828 VND, tăng 3 đồng so với  hôm qua.

Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.512 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.144 VND/USD.

Tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước lúc 8h20 sáng nay giá niêm yết USD ở mức 23.200 – 23.460 VND/USD (mua vào – bán ra), tăng 500 đồng mua vào, bán ra không đổi so với cùng thời điểm sáng qua.

Trên thị trường tự do, giá mua-bán USD hiện đang phổ biến là 23.200-23.230 đồng/USD, giảm 50 đồng mỗi mua vào, giảm 40 đồng chiều bán ra./.

PV/VOV.VN

Giá vàng SJC tiếp tục tăng mạnh

Mỗi lượng vàng SJC được điều chỉnh tăng từ 120 nghìn đến 150 nghìn so với sáng qua.

Giá vàng SJC tiếp tục tăng mạnh

Ảnh minh họa.

Khảo sát lúc 8h55 sáng nay (3/1/2019) giá vàng miếng SJC tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đang niêm yết ở mức 36,50 – 36,70 triệu đồng/lượng, tăng tới 120 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với giá khảo sát sáng qua.
Chênh lệch giá mua – bán ra vẫn ở mức 200 nghìn đồng/lượng.
Trong khi đó, Tập đoàn Doji cũng tăng mạnh giá vàng, tới 150 nghìn đồng mỗi chiều, lên 36,60- 36,70 triệu đồng/lượng.

Biểu đồ: Kitco
Cùng thời điểm, giá vàng giao ngay trên sàn Kitco đang niêm yết ở mức 1.287,7 USD/ounce, tăng 5,6 USD/ounce, tương đương 0,44% so với sáng qua.
Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank sáng nay, hiện giá vàng thế giới khoảng 36,07 triệu đồng/lượng, rẻ hơn giá vàng SJC trong nước khoảng 0,43 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, kết thúc phiên giao dịch đêm qua (giờ Việt Nam), giá vàng giao kỳ hạn tháng 2/2019 tăng 2,80USD/ounce tương đương 0,2% lên 1.284,10USD/ounce – đây là mức đóng cửa cao nhất của giá vàng tính từ giữa tháng 6/2018, dù vậy nó vẫn dưới ngưỡng cao 1.291,USD/ounce, theo tính toán của FactSet.
Trước đó, chốt  lại phiên giao dịch cuối cùng của năm 2018, giá vàng giảm 2%, tuy nhiên tăng được 4,6% trong tháng 12/2018 và 7,2% trong 3 tháng cuối cùng của năm 2018.

LINH LINH

Giá dầu thô tăng nhẹ sau bất chấp lo ngại về kinh tế toàn cầu suy giảm

Giá dầu thô trong ngày hôm nay (2-1) đã tăng giá nhẹ bất chấp nguồn cung dầu thô của Mỹ tăng và những lo ngại về kinh tế toàn cầu suy giảm.

gia dau tho tang nhe sau bat chap lo ngai ve kinh te toan cau suy giam

Theo đó, chốt phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 1-2019 trên sàn New York Mercantile Exchanghe ở mức 45,04 USD/thùng. Trong khi đó, giá dầu Brent giao tháng 1-2019 đứng ở mức 53,35 USD/thùng.

Còn tại thị trường London, cùng thời điểm, giá dầu WTI được giao dịch ở mức thấp nhất là 45,22 USD/thùng và cao nhất là 45,28 USD/thùng. Đóng của phiên giao dịch trước, giá dầu WTI đứng ở mức 45,22 USD/thùng, tăng 3,44%. Giá mở cửa phiên giao dịch ngày 2-1 là 45,49 USD/thùng.

Với dầu Brent, giá dầu được giao dịch ở mức thấp nhất là 53,06 USD/thùng và cao nhất là 53,12 USD/thùng. Đóng cửa phiên giao dịch trước, giá dầu Brent đứng ở mức 53,06 USD/thùng. Giá mở cửa phiên giao dịch ngày 2-1 là 53,95 USD/thùng.

Các thương nhân cho biết dầu giao sau tăng bởi các thị trường chứng khoán tăng, mặc dù tổng thể tâm lý thị trường dầu mỏ vẫn yếu.

Theo báo cáo mới nhất sản lượng dầu thô của Mỹ đạt kỷ lục 11,7 triệu thùng/ngày trong cuối tháng 12-2018, đánh dấu Mỹ là nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới, vượt Nga và Saudi Arabia.

CK

Xuất khẩu gạo: Nhìn lại và hướng tới

Chính sách “xoay trục” trong nông nghiệp đã làm thay đổi vị trí ưu tiên lúa gạo từ số 1 xuống số 2. Tuy có những lúng túng ban đầu, nhưng xuất khẩu gạo đã đổi mới, bứt phá, giành thắng lợi cả về cơ cấu và giá bán; tiếp tục khẳng định vai trò một loại nông sản chủ lực và bền vững trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

“Cởi trói”, bứt phá, tăng ấn tượng

Với sản lượng 43,9 triệu tấn lúa năm 2018 (tăng 1,2 triệu tấn so với năm 2017) thì giải pháp xuất khẩu gạo đạt mức cao, được giá hơn và hài hòa lợi ích là điều trăn trở. Vì lẽ đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 107/2018/NĐ-CP nhằm bãi bỏ những quy định không còn phù hợp để “cởi trói”, giúp doanh nghiệp rộng đường hơn khi xuất khẩu. Cũng từ “nút mở” này, ngành lúa, gạo Việt Nam đã có những chuyển biến lạc quan trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, giúp các địa phương nâng cao chất lượng lúa, gạo với ba khâu quan trọng: Tìm tạo giống mới chất lượng cao; tăng tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất lúa và công nghệ bảo quản, sấy khô, xay xát, nhằm tối ưu hóa và thương mại hóa sản phẩm gạo xuất khẩu. Từ “cởi trói” trong chính sách việc tổ chức sản xuất lúa, xuất khẩu gạo đã tiếp cận sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu theo hướng lấy giá trị làm thước đo hiệu quả kinh tế, lấy thị trường (cầu) để điều chỉnh sản xuất (cung).

xuat khau gao nhin lai va huong toi
Từ “cởi trói” trong chính sách, doanh nghiệp rộng đường hơn khi xuất khẩu gạo

Nhờ đó, đã làm cơ cấu và giá gạo xuất khẩu thay đổi tích cực theo chiều hướng giảm gạo trắng chất lượng trung bình, thấp xuống còn 2,07%; tăng gạo trắng chất lượng cao lên mức 51%, gạo Jasmine, gạo thơm 32%, gạo nếp 12% và gạo Japonica, gạo giống Nhật 5%… Tổng sản lượng gạo xuất khẩu năm 2018 đạt 6,13 triệu tấn, tăng 6% về lượng và 20% về giá. Hiện giá gạo xuất khẩu bình quân đạt mức 450 USD/tấn, cao hơn của Thái Lan 15 USD/tấn và của Ấn Độ 40 USD/tấn. Gạo của Việt Nam đã đến người tiêu dùng tại thị trường 150 quốc gia, khu vực, vùng lãnh thổ và bước đầu đã thâm nhập được vào thị trường khắt khe về tiêu chuẩn, như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, EU… Tuy sản xuất lúa, xuất khẩu gạo chưa vận hành và đạt như mong muốn, giá gạo thơm, gạo dẻo còn thấp so với gạo cùng loại của Thái Lan, Ấn Độ… nhưng chúng ta có quyền tự tin – Hạt gạo vẫn mãi là nông sản chủ lực.

Thị trường và ba mũi giáp công

Trong vòng 4 năm tới, cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn khi các quốc gia thu mua lớn giảm khối lượng nhập khẩu, các quốc gia xuất khẩu gạo tăng cường bán ra. Ấn Độ sẽ giữ vững vai trò dẫn đầu xuất khẩu gạo toàn cầu vào năm 2019, tiếp theo là Thái Lan, Việt Nam, Pakistan, Myanmar và Mỹ. Dự báo, Trung Quốc sẽ trở thành một nhân tố chủ chốt trên thị trường gạo thế giới.

Tại Việt Nam, sự liên kết, chuyển hướng xuất khẩu và hoạt động thương mại gạo đang diễn biến theo xu hướng mới. Đó là các hợp đồng Chính phủ dần ít đi, thay vào đó là các hợp đồng thương mại. Mục tiêu xuất khẩu gạo đến năm 2020, định hướng đến 2030: Tỷ trọng gạo trắng thường chiếm khoảng 25%; gạo thơm, gạo đặc sản, gạo Japonica chiếm khoảng 40%; gạo nếp khoảng 25%; tăng dần tỷ trọng các sản phẩm gạo có giá trị gia tăng cao như: Gạo tăng cường vi chất dinh dưỡng, gạo đồ, gạo hữu cơ, bột gạo, sản phẩm chế biến từ gạo, cám gạo và một số phụ phẩm khác từ lúa gạo khoảng 10%. Để đạt mục tiêu trên, sản xuất lúa, xuất khẩu gạo cần có sự nỗ lực cao từ phía nhà nước, người dân và doanh nghiệp, với “ba mũi giáp công”, đó là: Đổi mới thể chế quản lý và chính sách sản xuất lúa, gạo theo hướng trọng chất lượng; nâng cao chất lượng gạo thông qua nghiên cứu lai tạo, chọn lọc giống để đáp ứng sự thay đổi tiêu dùng; xây dựng thương hiệu Quốc gia gạo Việt Nam.

Để tăng khả năng nhận diện, tiếp thị, cạnh tranh tại thị trường xuất khẩu và nội địa, tăng hiệu quả sản xuất và giá trị gạo, việc xây dựng thương hiệu phải bắt đầu từ thị trường, từ nhu cầu người tiêu dùng, từ các yếu tố tác động đến sản xuất và thương mại. Bản sắc của thương hiệu gạo Quốc gia phải dựa trên sự tập hợp phong phú và đa dạng về chất lượng của các sản phẩm gạo bản địa, kèm theo một hệ thống kiểm soát chất lượng tối ưu từ trung ương đến địa phương và dọc theo chuỗi giá trị, đảm bảo cho vị thế, uy tín và sự tin cậy của người tiêu dùng trên thế giới đối với hạt gạo Việt Nam.

Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy

Năng suất lao động tăng 5,93%

Cùng với các thành tựu kinh tế nổi bật, năm 2018 cũng ghi nhận một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng lập kỷ lục chính là năng suất lao động tăng mạnh.

Năng suất lao động, yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới /// Công Hân

Năng suất lao động, yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới
Tổng cục Thống kê cho biết: Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN.
Tạo mọi điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển

Năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD), tăng 346 USD so với năm 2017. Tính theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017. Nếu tính bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm, cao hơn mức tăng 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015.

Năng suất lao động của Việt Nam trước đây rất thấp, chỉ bằng 1/4 Thái Lan, Trung Quốc, bằng 1/10 so với Hàn Quốc, Nhật, Mỹ… Sự cải thiện năng suất lao động của Việt Nam những năm qua còn chậm hơn cả Lào và Campuchia hay Myanmar. Năng suất lao động thấp là một trở lực cho sự phát triển kinh tế, chính vì vậy con số tăng trưởng này trong năm nay là một trong những tính hiệu rất tích cực và tạo đà cho phát triển kinh tế trong năm 2019.
Theo các chuyên gia kinh tế, những lợi thế truyền thống của Việt Nam như: giá lao động rẻ, chi phí nguyên liệu thấp đang dần biến mất. Vấn đề còn lại để tăng trưởng kinh tế ổn định, thu hút đầu tư và hội nhập quốc tế và thoát bẫy thu nhập trung bình chính là việc làm sao đẩy năng suất lao động tăng trưởng 7 – 8%/năm. Điều này cần có một chiến lược cụ thể và các giải pháp đồng bộ của Nhà nước.
Cũng chính vì thế mà hồi giữa năm 2018, Tổ tư vấn của Thủ tướng đã khuyến nghị: Việt Nam nên chọn năm 2019 là năm tăng năng suất lao động quốc gia. Theo đó, cần đặc biệt khuyến khích tư nhân làm đầu tàu, dẫn dắt phong trào nâng cao năng suất lao động quốc gia, từ việc cung cấp các dịch vụ tư vấn, đến chia sẻ các điển hình, đưa ra phản hồi chính sách đối với Chính phủ. Lựa chọn một số ngành để thực hiện thí điểm năng cao năng suất lao động hiệu quả. Bên cạnh đó, cần hợp tác quốc tế để xây dựng chương trình xúc tiến năng suất có hiệu quả.
CÔNG HÂN

Xuất khẩu nông sản Việt và những “bom tấn” 10 tỷ USD

Nhờ thị trường rộng mở, tư duy thay đổi, ngày càng nhiều nông sản Việt trở thành “bom tấn” xuất khẩu. Đặc biệt, năm 2019, lần đầu tiên, ngành nông nghiệp có 2 mặt hàng đặt mục tiêu xuất khẩu trên 10 tỷ USD.

Tới tấp tin vui đầu năm

Những ngày này, Nafood Group đang cấp tập chuẩn bị lên kế hoạch cho năm 2019. Thị trường mới nhất mà công ty này vừa khai phá là Nga với các mặt hàng chủ lực là chanh dây, điều, trái cây đông lạnh… Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch, kiêm Tổng giám đốc Nafood cho hay, Nafood kỳ vọng có thể đẩy mạnh hơn nữa doanh số xuất khẩu năm 2019.

Với Tập đoàn Tân Long,  – doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nông sản – năm 2018 cũng là năm rất thành công. Ông Nguyễn Chánh Trung, Tập đoàn Tân Long cho biết, năm 2018, sản lượng xuất khẩu của Công ty tăng gấp đôi so với năm 2017.

Năm 2018 là một năm xuất khẩu đại thắng với nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngành gạo, cá tra, đồ gỗ, lâm sản, rau quả… Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), trừ một số loại cây công nghiệp, năm qua, hầu hết các  loại nông sản được tiêu thụ kịp thời, giá có lợi cho nông dân. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 40,02 tỷ USD, tăng 9,6% so với năm 2017.

Trong năm vừa qua, 10 mặt hàng vẫn giữ phong độ trong “câu lạc bộ trên 1 tỷ USD”; 5 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỷ USD là tôm, rau quả, hạt điều, cà phê, gỗ và sản phẩm gỗ.

Điều đáng mừng nhất trong năm qua là thị trường tiêu thụ nông sản ngày càng được mở rộng. Nhiều nông sản Việt trước đây “áo gấm đi đêm”, phải xuất khẩu qua đường tiểu ngạch, thì nay đã được xuất khẩu chính ngạch. Những ngày cuối năm 2018, Trung Quốc đã đồng ý mở cửa chính ngạch thêm 7 loại trái cây Việt Nam (sầu riêng, bưởi, chanh dây, khoai lang, dừa, mãng cầu, măng cụt) và đồng ý cấp phép xuất khẩu chính ngạch cho cá ngừ, cá rô phi Việt.

Với kim ngạch xuất khẩu 40 tỷ USD, năm 2018, Việt Nam đang đứng thứ 15 thế giới về xuất khẩu nông sản (đã xuất sang hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới), khẳng định vị thế cường quốc về xuất khẩu nông sản. Năm 2019, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu xuất khẩu khoảng 42 – 43 tỷ USD. Bộ NN&PTNT khẳng định, sẽ tích cực xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường xuất khẩu, triển khai hiệu quả cơ hội của các Hiệp định thương mại tự do… để đạt mục tiêu này.

Thay đổi tư duy xuất khẩu 

Với hàng loạt hiệp định thương mại tự do đã và sắp có hiệu lực, một chợ lớn xuyên biên giới đang mở ra cho nông sản Việt. “Nông nghiệp của ta đang có những tiến bộ rất lớn. Chúng ta đang có 6 thị trường lớn cho nông sản là: Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN. Tới đây, nhiều hiệp định thương mại tự do có hiệu lực càng khiến thị trường rộng mở. Tuy nhiên, cắt giảm thuế quan mới chỉ là một phần, quan trọng là phải đàm phán mở cửa thị trường về mặt kỹ thuật”,  ông Trần Thanh Hải, Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương nói.

Quả thực, năm 2018 chứng kiến sự thay đổi tư duy của nhiều cơ quan quản lý. Chuyện tổng tư lệnh ngành hay các lãnh đạo cấp vụ đi đàm phán bán rau, cá, thịt… ngày càng nhiều. Năm 2018, Bộ NN&PTNT đã có 6 đoàn sang làm việc với cơ quan chức năng Trung Quốc để mở cửa cho các mặt hàng.

Nhờ đó, nhiều nông sản Việt cũng đã mở rộng cánh cửa xuất khẩu như: thịt bò, sữa vào Malaysia; thịt lợn, gà, trứng vào Singapore; thịt lợn, sữa, thủy sản, gạo vào Trung Quốc… Năm 2018, lần đầu tiên, nhiều nông sản Việt đã được các nước cấp “visa” xuất khẩu như: thịt gà vào được Nhật Bản, thịt lợn đông lạnh vào Myanmar, vú sữa vào Hoa Kỳ, chôm chôm vào New Zealand, chanh leo vào EU… Tuy số lượng chưa lớn, song đã cho thấy uy tín của nông sản Việt ngày càng được thế giới thừa nhận.

Tiếp nối thành công đó, năm 2019, lần đầu tiên, ngành nông nghiệp có hai mặt hàng đặt mục tiêu xuất khẩu trên 10 tỷ USD là thủy sản và lâm sản – đồ gỗ.

Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của nông sản xuất khẩu nước ta là giá trị chế biến trong các lô hàng xuất khẩu còn thấp. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc từng “đặt hàng” cho ngành nông nghiệp trong 10 năm tới phải đứng top 15 các nước phát triển nhất thế giới, trong đó, lĩnh vực chế biến nông sản đứng top 10 thế giới, đưa nông nghiệp Việt Nam thành trung tâm chế biến sâu của nông nghiệp thế giới, là một trung tâm logistics của thương mại nông sản toàn cầu.

Mục tiêu này chưa dễ đạt được, khi ngành chế biến nông sản nước ta mới đang trong giai đoạn đầu phát triển. Tuy nhiên, đáng mừng là, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.

Chất lượng là con đường duy nhất của nông sản xuất khẩu

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, muốn tham gia thị trường nông sản thế giới ngày càng phát triển và nhiều rào cản kỹ thuật khắt khe, không còn con đường nào khác là đảm bảo chất lượng, mà một trong những biện pháp là thông qua chế biến. Chính vì vậy, trong tái cơ cấu nông nghiệp, tăng đầu tư chế biến là biện pháp quyết định, không chỉ giúp tăng giá trị xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu, mà còn đảm bảo tính bền vững của thị trường xuất khẩu. Chế biến cũng là phương châm, mục tiêu và giải pháp đột phá những năm tới của ngành nông nghiệp.

Theo Thùy Liên
baodautu.vn

Giá vàng hôm nay 2.1: Vàng miếng SJC tăng mạnh

Giá vàng hôm nay 2.1, vàng miếng SJC tăng mạnh, trong khi đó trên thị trường thế giới giảm nhẹ so với phiên đầu năm hôm qua.

Ảnh minh hoạ.

Những xu hướng mới trên thị trường bất động sản năm 2019

Các chuyên gia đều lạc quan vào sự phát triển của thị trường bất động sản Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế ổn định, cho rằng sự đa dạng của thị trường sẽ mang lại nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư.

Những xu hướng mới trên thị trường bất động sản năm 2019

Ông Stephen Wyatt, Tổng giám đốc Công ty Jones Lang LaSalle Việt Nam, cho biết chu kỳ phát triển của thị trường bất động sản đã thay đổi rất nhiều so với chu kì trước. Lần này, thị trường phát triển nhiều phân khúc hơn, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư. Trước đây, chúng ta chỉ nhắc đến thị trường nhà ở đơn thuần, nhưng hiện nay thị trường văn phòng, bán lẻ cũng hoạt động rất tốt.

Ngoài ra, lượng du khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều khiến cho thị trường du lịch phát triển. Thương mại điện tử, mảng sản xuất mở rộng khiến cho thị trường logistics hay khu công nghiệp cũng phát triển. Các lĩnh vực trong đầu tư bất động sản khá đa dạng, giúp cho các nhà đầu tư có nhiều lựa chọn hơn.
Còn theo Ông Nguyễn Mạnh Hà, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Bất động sản Việt Nam, thị trường bất động sản năm 2019 sẽ phát triển với nguồn cung dồi dào, tập trung vào các dự án lớn. Những thành phố thu nhỏ với dịch vụ đầy đủ, hạ tầng đồng bộ như dự án của Vingroup sẽ là xu hướng dẫn dắt thị trường.
“Các dự án nhỏ lẻ ở khu vực khác rất khó cạnh tranh với những dự án lớn đồng bộ. Nhưng chúng tôi đánh giá cao các dự án như vậy vì đó là xu hướng tất yếu để đô thị gọn gàng hơn. Do nguồn cung dồi dào, vì vậy chúng tôi đánh giá, sang năm 2019 bất động sản sẽ không có khả năng tăng giá đột biến, thị trường ổn định. Cơ cấu hàng hóa sẽ phù hợp với khả năng của thị trường, nhất là nhà ở năm 2019 sẽ phù hợp với khả năng chi trả của người dân”, ông Hà cho biết thêm.
Cũng theo vị này, trong năm 2019, phân khúc bất động sản công nghiệp sẽ đặc biệt phát triển. Đây là làn sóng mới tại Việt Nam, việc phát triển các khu công nghiệp theo đó cũng phải đồng bộ hơn để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư cũng phải quan tâm đến nhà ở thương mại để đáp ứng các khu công nghiệp. “Chúng tôi đánh giá đây sẽ là một trong những phân khúc thị trường còn nhiều dư địa phát triển”, ông Hà kết luận.
Cùng quan điểm này, GS. Đặng Hùng Võ, Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhận định rằng bất động sản công nghiệp, bất động sản thương mại là yếu tố mới, triển vọng rất lớn trong năm 2019 sắp đến.
Lý giải về quan điểm này, ông Võ cho biết chiến tranh thương mại Mỹ – Trung có thể chính là cơ hội tuyệt vời cho Việt Nam. Điều chúng ta phải làm là thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thay vì để họ đến Trung Quốc hay các nước khác. Do vậy, chúng ta cần phải chuẩn bị đủ điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Thị trường shophouse đang rất lớn
Nhận định về các xu hướng của thị trường sắp tới, ở góc độ một nhà đầu tư, bà Hương Nguyễn, Tổng giám đốc Đại Phúc Land, đưa ra dự báo cho thấy xu hướng khách hàng lựa chọn phân khúc căn hộ trong các khu đô thị được quy hoạch bài bản, đầy đủ tiện nghi, không gian sống xanh thân thiện, thoáng đãng tăng mạnh hơn. Thứ hai là các dự án ven sông, hoặc có hồ nhân tạo được ưu tiên tìm hiểu. Thứ ba là các căn hộ 2 phòng ngủ, có diện tích phù hợp từ 55 – 78m2, được bố trí không gian mở, hiện đại.
Đối với phân khúc shophouse, hầu hết các dự án bất động sản, tỷ lệ shophouse khá khan hiếm từ khoảng 2 – 5% dự án. Các shophouse thường được chủ đầu tư đặt vào vị trí đắc địa của dự án. Thêm vào đó, sản phẩm này chiếm rất nhiều ưu thế vượt trội, tích hợp nhiều chức năng, khai thác cho thuê hiệu quả. Trong năm qua và những năm tới, tiềm năng phát triển của thị trường shophouse rất lớn.
“Theo tôi thấy, sản phẩm shophouse sẽ có biên độ sinh lời rất tốt. Đối với các dự án chủ đầu tư uy tín, dự án chất lượng thì biên độ sinh lời còn cao hơn nữa. Trong năm 2018, thị trường chứng kiến sự sụt giảm về nguồn cung shophouse chất lượng trên thị trường. Trong năm 2019, tiếp tục sự thiếu hụt về nguồn cung shophouse. Dự báo phân khúc này vẫn được săn đón và dự kiến giá shophouse sẽ tăng trong năm tiếp theo”, bà Hương phân tích.
Khách hàng nên bỏ tiền vào đâu?
Về cơ hội đầu tư bất động sản thuộc các tỉnh giáp ranh TP.HCM trong năm 2019, ông Lê Hoàng Châu – Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM cho biết cùng với sự phát triển hạ tầng liên vùng ngày càng hoàn chỉnh, các tỉnh lân cận đã được xem như vùng ngoại ô của TP.HCM. Cơ hội đầu tư về những địa bàn này tuy khá nhiều nhưng còn phụ thuộc vào kế hoạch phát triển các dự án hạ tầng giao thông trong tương lai, đặc biệt là các quy hoạch các ga metro.
Bà Nguyễn Vũ Thiên Diễm, Chủ tịch HĐQT Thiên Minh Group, cũng cho biết các tỉnh thành xung quanh khu vực TP.HCM trong những năm qua rất được quan tâm. Thuận lợi đầu tiên vì là đây là thị trường mới nổi, chưa được nhiều chủ đầu tư để mắt tới. Trong khi hệ thống hạ tầng giao thông kết nối liên vùng đang được đầu tư khép kín. Trong năm 2019, nhiều chủ đầu tư sẽ đưa ra thị trường các dự án tại khu vực vùng ven và đây là điểm nhấn trong thị trường bất động sản khu vực phía Nam.
Đồng ý với những nhận định trên, ông Nguyễn Hoài Sơn, Giám đốc kinh doanh BĐS Gamigroup, cho rằng mật độ dân số sẽ quyết định đến giá của bất động sản. Các nhà đầu tư nên hướng đến những địa phương sẽ có đông dân trong tương lai, kết nối giao thông tốt. Nếu các nhà đầu tư kỳ vọng sinh lời cao thì phải chấp nhận rủi ro do đầu tư ở khu vực đó trong nhiều năm mà chưa chắc giá đã lên. Còn nếu nhà đầu tư quan tâm hệ số sinh lời thấp thì có thể đầu tư căn hộ dạng officetel, căn hộ 1 – 2 phòng ngủ cho thuê để ổn định hơn.
“Trong 2 năm tới, thị trường nhà ở sẽ là kênh đầu tư được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, trước khi đầu tư chúng ta cần tìm hiểu kỹ về thị trường để hiểu rõ hơn về dự án, năng lực đầu tư. “Vị trí, vị trí và vị trí” vẫn sẽ là yếu tố quan trọng để xác định được giá bán. Đồng thời, những dự án có cơ sở hạ tầng thuận tiện với những tuyến đường mới, cao tốc, metro… sẽ được nhiều người quan tâm “, ông Stephen Wyatt nhận định.
Ông Trần Khánh Quang, Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư bất động sản Việt An Hòa, đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam 2019 vẫn tăng trưởng tốt, trong đó phân khúc đất nền sẽ tiếp tục được quan tâm đầu tư. Phú Quốc sẽ là thị trường tiềm năng vào quý 2/2019 khi giá đất các tỉnh hiện nay đạt giá khá cao.
Theo ông Quang, trong năm tới, nhiều dự án condotel đi vào hoạt động sẽ gây áp lực rất lớn cho các chủ đầu tư vì có cam kết lợi nhuận về khai thác. Những căn hộ giá dưới 1,5 tỉ đồng sẽ tiếp tục được tiêu thụ tốt và dịch chuyển qua các khu vực như Bình Chánh, Bình Tân thu hút được nhà đầu tư mới.
Nguồn: cafef

H. Lan

Vinanet

Gạo Việt đã xuất khẩu đi hơn 150 thị trường, cơ hội tiếp tục rộng mở

Gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, thị trường xuất khẩu đã mở rộng vào các nước châu Mỹ, Trung Đông…

Gạo Việt đã xuất khẩu đi hơn 150 thị trường, cơ hội tiếp tục rộng mở

Nhiều tín hiệu lạc quan

Lượng gạo xuất khẩu hàng năm của nước ta chiếm khoảng 15% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới. Hiện nay, gạo Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, bên cạnh thị trường truyền thống đã từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu vào các nước châu Mỹ, Trung Đông…Sản phẩm gạo trắng cao cấp và gạo thơm đã bước đầu thâm nhập vào thị trường khó tính, giúp sản phẩm gạo Việt Nam từng bước hiện diện trên khắp thế giới.

Năm 2018 là dấu mốc đáng kể với ngành sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam, với kim ngạch gia tăng đến 20%, tăng cả giá trị và sản lượng. Xuất khẩu gạo của Việt Nam đã duy trì xu hướng tích cực ngay từ đầu năm nhờ tín hiệu nhập khẩu trở lại từ nhiều thị trường, theo cả hợp đồng tập trung và hợp đồng thương mại.

Hạt gạo Việt Nam cũng đã bước đầu thâm nhập được các thị trường yêu cầu chất lượng cao như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông (Trung Quốc), Mỹ, EU và liên tiếp duy trì vị trí nước xuất khẩu lớn thứ 3 thế giới, sau Ấn Độ và Thái Lan. Giá gạo xuất khẩu duy trì ở mức cao góp phần tiêu thụ lúa gạo hàng hóa với mức giá cao, có lợi cho người nông dân; tăng trưởng xuất khẩu các loại gạo chất lượng cao và giảm dần tỷ trọng các loại gạo chất lượng trung bình và thấp.

Cùng với đó, chính sách mới quản lý điều hành xuất khẩu gạo qua việc Chính phủ ký ban hành Nghị định số 107 ngày 15/8/2018 về kinh doanh xuất khẩu gạo giúp cho việc xuất khẩu gạo dần dần được hình thành một cách hệ thống. Thể chế chính sách xuất khẩu gạo đã từng bước theo hướng tự do hóa, dần phù hợp với quy định của quốc tế, loại bỏ các rào cản gây bất lợi cho thương nhân trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo.

“Về mặt thể chế, 2018 là năm có dấu ấn đặc biệt. Đây là năm đầu tiên triển khai quyết định 942 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược xuất khẩu gạo. Đây cũng là năm mà có những thay đổi đột phá về mặt cơ chế khi có Nghị định 107 thay thế 109. Qua đó, đáp ứng mong mỏi không chỉ của các doanh nghiệp mà của cả các địa phương, đặc biệt là ở khu vực ĐBSCL” – ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương nói.

Ông Đỗ Hà Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Intimex Group cho rằng, thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam trước đây chủ yếu trông vào hợp đồng đấu thầu của Chính phủ chứ doanh nghiệp Việt Nam không giỏi về mở rộng thị trường. Nhưng nay có cơ chế mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc chủ động tìm kiếm thị trường.

“Nếu doanh nghiệp có sự phối hợp hành động, biết liên kết thì sẽ tìm được hợp đồng xuất khẩu giá tốt. Thêm cơ chế thoáng hơn cho doanh nghiệp nữa thì tạo nhiều cơ hội hơn. Với cơ chế mới mở ra nhiều hướng phát triển” – ông Đỗ Hà Nam cho biết.

Chưa chú trọng cải thiện chất lượng

Dù có những tín hiệu tích cực nhưng trong công tác điều hành xuất khẩu gạo và phát triển thị trường vẫn còn một số hạn chế. Điều nhận thấy rõ trong năm 2018 là xuất khẩu gạo thiên về bề rộng, gia tăng khối lượng, chưa chú trọng cải thiện chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả xuất khẩu.

Thị trường xuất khẩu còn phụ thuộc nhiều vào một số thị trường truyền thống, trọng điểm, đặc biệt là thị trường Trung Quốc, tỷ lệ gạo xuất khẩu trực tiếp với thương hiệu gạo từ Việt Nam còn thấp, nhiều thị trường bị chi phối bởi trung gian. Uy tín, năng lực tiếp cận, thâm nhập thị trường, đàm phán ký kết thực hiện hợp đồng, xử lý tranh chấp thương mại quốc tế, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo Việt Nam còn hạn chế…

Đây sẽ là những vấn đề cần có giải pháp cho một năm xuất khẩu mới 2019 với nhiều chuyển động.

“Chúng ta có thể thúc đẩy về thể chế để phân định được rạch ròi giữa 2 thị trường tập trung và thị trường thương mại để chúng ta đạt được mức giá tốt nhất. Cộng đồng doanh nghiệp tăng cơ hội xuất khẩu. Xu hướng chuyển đổi ngành gạo từ cơ chế kiểm soát sang cơ chế phát triển. Các cơ quan nhà nước hay hiệp hội cũng chuyển từ hành chính sang hỗ trợ, kiến tạo phát triển để góp phần tạo cuộc chơi lớn hơn cho ngành gạo” – ông Phạm Quang Diệu, Giám đốc Công ty Agromonitor chia sẻ,

Kết quả sản xuất và xuất khẩu gạo trong năm 2018 khả quan nhưng nhiều chuyên gia cũng đã dự báo tình hình xuất khẩu trong thời gian tới có thể gặp không ít khó khăn do thay đổi chính sách nhập khẩu lương thực của một số thị trường nhập khẩu. Cùng với đó, những thách thức: đảm bảo an ninh lương thực; đáp ứng xu hướng tiêu dùng gạo chất lượng, an toàn cho sức khỏe con người vẫn còn đó.

Trong khi đó, xu hướng tự do hóa thương mại toàn cầu, những thay đổi trong ứng xử của các quốc gia về xuất nhập khẩu gạo cũng là những thách thức mà ngành gạo Việt Nam phải đối mặt và vượt qua. Từ đó, để khẳng định được thương hiệu, chất lượng, xứng tầm với tiềm năng của một quốc gia lợi thế về nông nghiệp.

Xem thêmgao viet da xuat khau di hon 150 thi truong co hoi tiep tuc rong moXuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc đối mặt thách thức gì năm 2019gao viet da xuat khau di hon 150 thi truong co hoi tiep tuc rong moViệt Nam chính thức có thương hiệu gạo quốc giagao viet da xuat khau di hon 150 thi truong co hoi tiep tuc rong moXuất khẩu gạo Việt Nam ảm đạm trong tuần qua vì yêu cầu kiểm tra khắt khe từ Trung Quốcgao viet da xuat khau di hon 150 thi truong co hoi tiep tuc rong moGạo Việt Nam khó mở rộng hơn ở thị trường Trung Quốc

Nguồn: VOV

Năm 2018, ô tô nội trụ vững trước áp lực rất lớn từ xe nhập khẩu miễn thuế, đạt ức tăng trưởng đột biến về cả doanh số lẫn thị phần.

Năm 2018 chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của ô tô nội với tăng trưởng đột biến về cả doanh số cũng như thị phần. Trụ vững trước áp lực rất lớn từ xe nhập khẩu miễn thuế từ ASEAN, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được kỳ vọng sẽ có sự chuyển hướng mạnh mẽ mang tính bước ngoặt làm bàn đạp cho một chu kỳ phát triển mới.

Keyword đầu tiên có dấuTrong năm 2018, Hyundai Grand i10 được chuyển từ nhập khẩu sang lắp ráp và đã gặt hái thành công ngoài mong đợi

Xe nội tăng cả doanh số lẫn thị phần

Theo số liệu mới nhất từ Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), tính đến hết tháng 11/2018, doanh số bán hàng của các doanh nghiệp trực thuộc đã đạt hơn 253 nghìn xe, tăng 4% so với cùng kỳ. Trong đó, các loại xe sản xuất, lắp ráp trong nước đạt doanh số hơn 193 nghìn xe (tăng 11%), trong khi xe nhập khẩu (CBU) chỉ đạt hơn 60 nghìn xe (giảm 14%) so với cùng kỳ. Tỷ lệ trên chưa thể hiện hết sự vươn lên của các mẫu xe lắp ráp trong nước (CKD) bởi chưa tính doanh số của một hãng xe lớn khác hoàn toàn được lắp ráp trong nước là Hyundai Thành Công (không nằm trong VAMA).

Nếu cộng thêm doanh số gần 58 nghìn của cả Hyundai Thành Công (doanh nghiệp hiện chuyển hoàn toàn sang lắp ráp ô tô) thì tỷ lệ xe CKD chiếm tới gần 80% thị phần ô tô tại Việt Nam.

“Nếu đạt được tỷ lệ nội hóa trên 40% và được ASEAN công nhận, ô tô Việt Nam hoàn toàn có thể tính tới việc xuất khẩu đi các nước trong khu vực để cạnh tranh. Ví dụ, như VinFast hiện đang rất muốn xuất khẩu ô tô, nếu đạt được các yêu cầu thì đó là một mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, có thể giúp tạo thêm công ăn việc làm và thu nhập. Tuy nhiên, hiện nay cũng cần phải có những cơ chế, chính sách từ phía Nhà nước và sự nỗ lực từ chính doanh nghiệp muốn nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.”

Chuyên gia kinh tế

Lê Đăng Doanh

Đến nay, THACO Trường Hải vẫn là doanh nghiệp có thị phần ô tô lớn nhất tại Việt Nam. Trong 11 tháng năm 2018, doanh số của 8 thương hiệu thuộc THACO đã đạt doanh số 88.181 nghìn xe (tăng 9% so với cùng kỳ năm trước) và chiếm 36% miếng bánh thị phần, tăng 0,4% thị phần so với cùng kỳ năm trước.

Một thương hiệu có mức tăng trưởng mạnh nhất trong năm 2018 là Hyundai Thành Công (HTC). Cộng dồn 11 tháng đầu năm 2018, HTC đã bán ra tới 57.519 xe và nắm giữ 19,4% thị phần ô tô trong nước, tăng gấp đôi doanh số của cả năm 2017. HTC đang có những tháng ngày đặc biệt thành công khi hầu hết các mẫu xe của thương hiệu Hyundai đều đang tăng trưởng mạnh sau khi chuyển từ nhập khẩu sang lắp ráp tại Việt Nam. Nhiều mẫu xe như: Accent, Kona, i10… đều “cháy hàng” do không sản xuất kịp để đáp ứng nhu cầu.

Mảng xe lắp ráp của Toyota cũng có một năm thành công, đặc biệt là với 4 mẫu xe chiến lược gồm: Vios, Innova, Camry, Altis. Trong 11 tháng đầu năm 2018, 4 mẫu xe lắp ráp của Toyota đạt doanh số 46.144 nghìn xe so với 36.620 xe cùng kỳ năm trước, tăng 26%.

Chỉ tính riêng mảng xe lắp của Ford Việt Nam (EcoSport, Fiesta, Focus, Transit) đến hết 11 tháng của năm 2018 cũng đã bán được 11.942 xe, tăng 14,3% so với cùng kỳ và chiếm 57,7% tổng doanh số của hãng.

Trong năm qua thị trường ô tô Việt Nam cũng đón nhận một nhân tố mới là VinFast. Thương hiệu xe thuần Việt này đang ấp ủ nhiều kỳ vọng trở thành một thế lực mới tại thị trường trong nước. VinFast dự kiến sẽ có tỷ lệ nội địa hóa cao để hướng tới xuất khẩu ô tô ra khu vực, thế giới. Dự kiến, những chiếc xe đầu tiên của VinFast sẽ bắt đầu được bán ra ngay đầu năm 2019.

Keyword đầu tiên có dấu
Trong năm qua, Mazda CX-5 do THACO sản xuất được công nhận có chất lượng tương đương với các mẫu xe sản xuất tại Nhật Bản

Xác lập hướng đi mới

Có thể nói, ngành công nghiệp sản xuất ô tô Việt Nam đã trải qua một năm 2018 với nhiều chính sách quan trọng, mang tính bước ngoặt. Đầu tiên là Nghị định 116 quy định về điều kiện kinh doanh, sản xuất và nhập khẩu ô tô chính thức có hiệu lực ngay lập tức đã tác động đến thị trường xe nhập khẩu. Với các quy định mới về tiêu chuẩn đối với xe nhập khẩu như: Bắt buộc phải có giấy chứng nhận kiểu loại (VTA); Kiểm tra theo lô thay vì theo mẫu xe như trước… đã khiến xe nhập khẩu phải tự nâng cao các điều kiện để bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng cũng như tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn với xe lắp ráp trong nước.

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Trần Quang Hà, Phó vụ trưởng Vụ KHCN (Bộ GTVT) khẳng định, các quy định đối với ô tô nhập khẩu tại Nghị định 116 và Thông tư 03 là nhằm mục đích đảm bảo chất lượng, nguồn gốc xuất xứ đối với ô tô nhập khẩu về Việt Nam, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng cũng như sự bình đẳng giữa ô tô sản xuất lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu chứ không phải là lập hàng rào để làm khó xe nhập khẩu, tạo lợi thế cho xe sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận, với những hàng rào kỹ thuật đối với xe nhập khẩu đã mở ra những cơ hội cạnh tranh tốt hơn giữa xe nội với xe ngoại, nhất là trong bối cảnh thuế nhập khẩu ô tô từ ASEAN về mức 0% theo Hiệp định Thương mại ATIGA. Các quy định mới đã khiến xe nhập khẩu phải định hình lại cuộc chơi và buộc phải tính toán kỹ hơn các phương án nhập khẩu xe để đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Các chính sách mới cũng được coi là cơ hội cho các doanh nghiệp có tâm huyết phát triển công nghiệp ô tô yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao tỷ lệ nội địa hoá.

Thực tế, trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp ô tô tại VN hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đều vừa sản xuất, lắp rắp đồng thời cũng là nhà nhập khẩu ô tô. Chính vì vậy, theo nhận định, với cơ cấu doanh nghiệp như vậy, các doanh nghiệp sẽ rất linh hoạt trong việc điều chỉnh chiến lược của mình. Nếu thấy mảng lắp ráp thuận lợi thì sẽ đẩy mạnh sản xuất trong nước, ngược lại sẽ chuyển sang nhập khẩu nguyên chiếc.

Tuy nhiên, đến cuối năm 2018 gần như tất cả các hãng đã lo xong thủ tục nhập khẩu ô tô về Việt Nam. Nên sang năm 2019, lợi thế bán hàng của các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ mất dần.

Ô tô Việt tìm đường xuất khẩu

Là doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô lớn nhất Việt Nam hiện nay, ông Trần Bá Dương, Chủ tịch THACOTrường Hải mới đây cho biết, bước vào giai đoạn hội nhập ASEAN doanh nghiệp này đã chủ động nắm bắt cơ hội và từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm ô tô, từng bước xuất khẩu xe.

Cụ thể, hiện nay xe buýt của THACO chiếm hơn 70% thị trường Việt Nam. Thời gian tới THACO sẽ ký kết với Mercedes, Volvo để sản xuất xe bán tại thị trường Việt Nam và xuất qua ASEAN nhằm tận dụng thuế suất ưu đãi 0%. Trong tháng 1/2019, THACO bắt đầu xuất khẩu xe buýt sang thị trường Thái Lan, Philippines. Đối với xe tải trung cấp, THACO cũng đang chiếm 40% thị phần tại Việt Nam và sẽ được xuất khẩu sang các nước ASEAN với tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%.

“Trong giai đoạn tới đây, chúng tôi cũng đang nỗ lực để nâng tỷ lệ nội địa hóa của xe con (Kia, Mazda) lên 40%, xuất khẩu sang các nước có tay lái thuận trong ASEAN”, ông Dương cho biết thêm.

Kể từ năm 2018, Hyundai Thành Công (HTC) cũng đã chuyển hoàn toàn sang sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước với tỷ lệ nội địa hóa đạt trung bình 12 – 14%. Mục tiêu của nhà sản xuất này đến năm 2019 đạt tỷ lệ nội địa hóa 40% và trở thành trung tâm sản xuất các sản phẩm ô tô Hyundai trong khu vực. Ông Lê Ngọc Đức, Tổng giám đốc HTC cho biết, Nhà máy Ô tô Hyundai thứ 2 đang được gấp rút xây dựng không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước mà còn hướng tới xuất khẩu, trở thành trung tâm sản xuất của Hyundai trong khu vực Đông Nam Á. Cùng với đó, HTC cũng đã và đang nỗ lực mở rộng mạng lưới các doanh nghiệp phụ trợ nhằm cung cấp phụ tùng linh kiện, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm.

Toyota Việt Nam (TMV) cũng đang đẩy mạnh việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Điều này thể hiện rõ nhất thông qua mẫu xe Toyota Vios 2018 ra mắt hồi tháng 8/2018 vừa qua. Tại lễ ra mắt, ông Toru Kinoshita, Tổng giám đốc TMV chia sẻ: “Trên Toyota Vios, mẫu xe CKD chiến lược của TMV, số lượng phụ tùng trong nước đã tăng gấp 3 lần so với thế hệ cũ, từ 51 phụ tùng lên 151 phụ tùng. Hiện tại, về số lượng nhà cung cấp đã tăng lên 29 nhà cung cấp với trên 400 sản phẩm, trong đó có 4 nhà cung cấp Việt Nam”.

Ngọc Anh

Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng cao, giá USD vẫn giảm ‘vượt đáy’

Phiên giao dịch sáng nay, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng cao kỷ lục. Cạnh đó, giá vàng miếng cũng tăng nhẹ, giá USD vẫn tiếp đà giảm mạnh.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Mở cửa lúc 8h30 sáng 28/12, giá vàng miếng trong nước được Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức mức 36,35 – 36,45 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá  này giảm 10.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và giảm 40.000 đồng/USD  ở chiều bán ra so với  phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Công ty Phú Quý niêm yết vàng miếng SJC với mức giá 36,34 – 36,44  triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giữ nguyên mức tăng 70.000 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra từ phiên giao dịch ngày 26/12. Vàng 24K niêm yết ở mức 35,60 – 36,20 triệu đồng/lượng, không có thay đổi  so với phiến giao dịch hôm qua 27/12.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,31 – 36,49  triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này tăng 30.000 đồng/lượng  ở cả hai chiều mua vào – bán ra  so với phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Sáng ngày 28/12, giá vàng thế giới ở mức 1276.8 – 1277.3  USD/ounce (mua vào – bán ra), giảm 6,6 USD/ounce  ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Trên thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ áp dụng ngày 28/12 là 22.825 VND, tăng 20 đồng  so với phiên phiên giao dịch ngày 27/12.

Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng cao trong sáng nay, đạt 22.825 đồng, mức cao nhất cho đến thời điểm hiện tại. Cạnh đó, USD giao dịch tại các ngân hàng thương mại vẫn giảm mạnh trong phiên hôm nay.

Cụ thể, Ngân hàng Tiên Phong niêm yết giá USD ở mức 23.155 – 23.265 đồng/USD, giảm 1 đồng/USD ở chiều mua vào và giảm 5 đồng/USD ở chiều bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Giá USD tại ngân hàng Vietcombank (hội sở chính) được mức niêm yết với mức 23.165 – 23.255 đồng/USD,  giảm 15 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua ngày 27/12.

Cùng với đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) niêm yết  giá giao dịch USD ở mức 23.165 – 23.255  đồng/USD, cũng  giảm 25 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 27/12.

Sáng nay, giá vàng thế giới tiếp tục tăng cao lên mức 1277 USD, mức cao nhất trong vòng hai tháng qua. Cạnh đó, thị trường USD lại lao dốc, khi giá giao dịch trong sáng tiếp tục giảm mạnh.

Giá vàng tiếp tục tăng, dự báo rủi ro gia tăng

Sáng nay (28/12), giá vàng thế giới và trong nước tiếp tục tăng. Chuyên gia khuyến cáo giá vàng vẫn còn dư địa tăng, bởi kinh tế dự báo chậm phát triển vào năm 2019 ở nhiều khu vực, rủi ro rình rập.

  • Giá vàng tăng sau ngày Lễ tặng quà, nhu cầu đầu tư trên thế giới ấm dần

Mở cửa phiên giao dịch sáng nay, tại thị trường châu Á, lúc 8 giờ 30 giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 1.278 USD/oz, tăng nhẹ hơn 9 USD/oz so với giao dịch cùng thời điểm này sáng qua, tăng thêm hơn 4 USD so với chốt phiên tại thị trường Mỹ trước đó vài giờ.
Cùng thời điểm, thị trường vàng trong nước cũng tăng giá so với phiên hôm qua. Cụ thể, giá vàng SJC trên thị trường tự do TP Hồ Chí Minh giao dịch quanh mức 36,32 – 36,5 triệu đồng/lượng. Cùng thời điểm, giá vàng SJC trên thị trường tự do TP Hà Nội và Đà Nẵng giao dịch quanh mức 36,32 – 36,52 triệu đồng/lượng. Các thị trường trên đều tăng 50.000 đồng/lượng so với chốt phiên hôm qua. Chênh lệch mua – bán 180.000 – 200.000 đồng/lượng.
Tập đoàn Doji cùng thời điểm trên niêm yết giá vàng SJC ở quanh mức 36,38 – 36,48 triệu đồng/lượng, tăng 50.000 đồng/lượng so với chốt phiên trước, chênh lệch 100.000 đồng/lượng.
Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng SJC ở quanh mức 36,37 – 36,47 triệu đồng/lượng, cũng tăng 50.000 đồng/lượng so với chốt phiên trước, chênh lệch 100.000 đồng/lượng.
Vàng nhẫn hôm nay cũng được các DN tăng 50.000 đồng/lượng so với mức chốt phiên hôm qua. Cụ thể, nhẫn phú quý 24K được Công ty Phú Quý niêm yết mua – bán ở mức 35,8 -36,2 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa 2 chiều mua bán 400.000 đồng/lượng.
Công ty CPĐT và kinh doanh vàng Việt Nam cũng niêm yết giá vàng nhẫn VIETNAMGOLD mua – bán ở mức 35,8 -36,2 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giữa 2 chiều mua bán 400.000 đồng/lượng.
Nhận định của các chuyên gia, giá vàng vẫn đang được hỗ trợ mạnh bởi bất ổn kinh tế, chính trị. Trong đó, 2 đảng tại Mỹ vẫn không có tiếng nói chung trong việc xây dựng bức tường với Mexico ngăn người nhập cư và một bộ phận Chính phủ chưa thể hoạt động.
Nga và Trung Quốc, dự báo kinh tế năm 2019 tăng trưởng chậm lại. Còn EU vướng vào bất ổn chính trị do dòng người nhập cư và Brexit.
Mỹ đang chuẩn bị công bố cấm các DN nước này nhập khẩu hàng của Huawei. Căng thẳng thương mại Mỹ – Trung chưa có hồi kết. Thị trường chứng khoán vẫn chao đảo, nhà đầu tư ngày càng tìm đến vàng nhiều hơn để dự trữ dòng vốn lúc rủi ro tăng cao. Chuyên gia cho rằng, vàng SJC vẫn đang ở mức giá thấp để mua vào đầu tư.
BÍCH HỜI

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018

Thế giới trong năm 2018 vừa qua đã “chao đảo” trước cuộc đối đầu giữa Mỹ với Trung Quốc, Nga và Iran, trong khi đó tình hình tại bán đảo Triều Tiên đã có những biến chuyển tích cực và nổi lên là các phong trào xã hội như #MeToo hay làn sóng biểu tình tại Pháp,…

Cuộc đối đầu Mỹ-Trung thu hút sự chú ý của cả thế giới trong năm 2018. Ảnh: UK Express

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung

Vào tháng 3/2018, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố sẽ áp dụng khoản thuế  50 tỷ USD cho khối hàng hóa của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ ( trị giá 250 tỷ USD).

“Khi mọi người hoặc các quốc gia đến cướp bóc sự thịnh vượng của quốc gia chúng ta, tôi muốn họ trả tiền cho đặc quyền làm việc đó. Nó sẽ luôn là cách tốt nhất để phát huy tối đa sức mạnh kinh tế của chúng ta. Chúng ta hiện đang nhận hàng tỷ USD từ thuế”, ông Trump tuyên bố.

Phía Bắc Kinh sau đó cũng tung ra đòn đáp trả và một số lời chỉ trích nhắm vào chủ nghĩa bảo hộ thương mại của Washington, tuy nhiên có thể nhận thấy Trung Quốc đang dần trở nên bất lợi và chịu những tác động tiêu cực trong cuộc đối đầu này. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chỉ đạt  mức thấp nhất kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009. Tháng 12 năm nay cũng là dịp kỷ niệm 40 năm công cuộc “Cải cách và Mở cửa” của quốc gia “tỷ dân” này, tuy nhiên các dấu hiệu tiêu cực về nền kinh tế cùng với căng thẳng gia tăng trong vụ bắt giữ CFO của Huawei – bà Mạnh Vãn Chu, đã khiến cho thỏa thuận “đình chiến 90 ngày” của lãnh đạo hai nước tại hội nghị G20 dường như trở nên vô nghĩa.

Tín hiệu tích cực từ Triều Tiên

Năm 2018 cũng chứng kiến những dấu hiệu tích cực tại khu vực Đông Bắc Á, khi nhà lãnh đạo Triều Tiên có những động thái “hạ nhiệt” trong quan hệ với Hàn Quốc và Mỹ.

Liên tiếp từ tháng 4 cho đến tháng 9, ông Kim Jong-un đã tham dự các cuộc hội nghị thượng đỉnh liên Triều, đặc biệt là vào tháng 6, hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều đã chính thức diễn ra, đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử một nhà lãnh đạo Triều Tiên gặp mặt một Tổng thống Mỹ. Trong các cuộc gặp mặt lịch sử này, ông Kim đã cho thấy thiện chí của mình bằng cách chấp thuận từ bỏ một phần chương trình phát triển vũ khí hạt nhân và cam kết phi hạt nhân hóa để đổi lấy sự đảm bảo an ninh từ phía Mỹ và Hàn Quốc, cùng với đó là việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt nhằm tạo đà cải cách nền kinh tế Triều Tiên.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 1

Cái bắt tay lịch sử giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên. Ảnh: IPD

Sau hàng loạt các lời đe dọa và các động thái căng thẳng trong năm 2017, những cuộc gặp mặt cấp cao của giới lãnh đạo Mỹ-Hàn-Triều đã giúp cho khu vực Đông Bắc Á không còn là “điểm nóng xung đột” của thế giới. Một khi những mối nghi ngại về an ninh được xóa bỏ, thì kỷ nguyên hợp tác giữa hai miền Triều Tiên sẽ sớm trở thành hiện thực trong năm 2019.

Phong trào #MeToo trở thành hiện tượng toàn cầu

Xuất hiện vào năm ngoái ở Mỹ, sau những cáo buộc lạm dụng tình dục đối với nhà sản xuất phim nổi tiếng Harvey Weinstein. Năm 2018, phong trào lan ra toàn cầu khi hàng triệu người đã đứng lên chia sẻ câu chuyện của mình.

Các phiên bản của #MeToo đã trở nên rất phổ biến trên mạng xã hội, ở Italia phong trào được dịch thành #QuellaVoltaChe, ở Tây Ban Nha là #YoTambien, ở Pháp  #BalanceTonPorc . Theo phân tích từ Google, cụm từ #MeToo và các biến thể của nó nằm trong top từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên toàn thế giới.

Đặc biệt, Giải thưởng Nobel Hòa bình 2018 đã được trao cho bác sĩ người Congo, Denis Mukwege và Nadia Murad – nữ nô lệ tình dục sống sót trong hang ổ của tổ chức khủng bố IS, “cho những nỗ lực của họ trong việc chấm dứt hành vi bạo lực tình dục”.

Phong trào #MeToo đã đạt được những thành công nhất định tại các quốc gia và khu vực khác nhau. Tuy nhiên, câu hỏi hiện nay là liệu phong trào #MeToo sẽ tạo ra hiệu quả lâu dài hay sẽ chìm dần vào quên lãng như một số phong trào xã hội khác. Để điều đó xảy ra, chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức và quan trọng nhất, mọi người sẽ cần phải thay đổi nhận thức của mình về nạn lạm dụng tình dục.

Câu chuyện Brexit vẫn chưa có hồi kết

Suốt năm qua, nữ Thủ tướng Anh Theresa May trở thành tâm điểm chỉ trích của chính giới Anh và các quan chức EU khi bà không thể dàn xếp ổn thỏa các  thỏa thuận rời Liên minh châu Âu của Vương quốc Anh.  Mùa hè năm 2018 chứng kiến biến động lớn trong nội các Anh, khi lần lượt Ngoại trưởng Boris Johnson và Bộ trưởng Brexit David Davis đồng loạt tuyên bố từ chức – động thái nhằm phản đối các điều khoản trong bản kế hoạch của Thủ tướng May. Thủ tướng May cũng đáp trả rằng một số thành viên trong Quốc hội đang tìm cách phá hỏng Brexit, đồng thời nói rõ bà không nghĩ rằng một cuộc trưng cầu ý dân khác về Brexit là đúng đắn.

Cho đến tận tháng 12, bản kế hoạch Brexit của bà May vẫn chưa được Quốc hội thông qua (theo kế hoạch là vào ngày 11/12) mặc cho thời hạn nước Anh rời khỏi EU là vào ngày 29/3. Không chỉ vậy, Thủ tướng Anh còn phải đối mặt với một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm trong nội bộ Đảng Bảo Thủ của mình, tuy nhiên bà May đã “sống sót” và phải tìm đường đàm phán với các lãnh đạo EU nhằm đưa ra một bản thỏa thuận hợp lý nhất.

Phía châu Âu vẫn nhất quyết đưa ra quan điểm về việc sẽ không có thêm một điều khoản nào được thêm vào bản kế hoạch, nếu không có gì thay đổi trong đầu năm tới, rất có thể nước Anh sẽ rời EU mà không có bất cứ một thỏa thuận nào – viễn cảnh mà chính quyền bà May xem như “cơn ác mộng”.

Cuộc khủng hoảng nhân đạo tại Trung Mỹ và Yemen

Cuộc nội chiến ở Yemen giữa phe chính phủ và phiến quân Houthi đã bước sang năm thứ tư và là tác nhân gây ra cuộc khủng hoảng nhân đạo trầm trọng nhất trên thế giới hiện nay.

Có đến mười 14.000 người Yemen đã chết trong các trận giao tranh và hơn 50.000 người đã chết vì nạn đói do chiến tranh gây ra. Những bức ảnh kinh hoàng của những đứa trẻ Yemen hốc hác vẫn chưa đủ sức thuyết phục được hai bên đặt vũ khí xuống.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 2

Lực lượng biên phòng Mỹ đã phải sử dụng hơi cay để trấn áp đám đông có ý định đột nhập trái phép. Ảnh: Reuters

Còn tại Trung Mỹ, tháng 10 vừa qua chứng kiến làn sóng di dân rất lớn tới các nước như Mexico và Mỹ, những đoàn đi dân hàng nghìn người đi bộ tới biên giới Mỹ-Mexico với hy vọng có thể xin được tị nạn tại những “miền đất hứa”, do bối cảnh chính trị, xã hội ở quê nhà hiện lâm vào khủng hoảng  đã không cho phép họ sinh sống như trước.

Hiện đã có tổng cộng hơn 8.600 người tị nạn tới từ Trung Mỹ đang trú ẩn tại thành phố Tijuana của Mexico, động thái này đã gây ra những sự xáo trộn lớn cho cuộc sống của những người dân địa phương. Sau các cuộc đụng độ với cảnh sát Mexico hoặc thậm chí là lực lượng biên phòng Mỹ, đoàn người tị nạn hiện vẫn còn đang mắc kẹt trong các trung tâm trú ẩn ở Mexico với điều kiện sinh hoạt tạm bợ cùng với đó là một “Giấc mơ Mỹ” hết sức mông lung trước mắt.

Mỹ tuyên bố rút khỏi các JCPOA và INF

Khi thông báo hôm 8/5 rằng Mỹ sẽ rút khỏi Kế hoạch Hành động Chung Toàn diện (JCPOA) và tái áp đặt các lệnh cấm vận kinh tế với Iran cũng như những công ty làm ăn với quốc gia này, ông Trump đang cho thấy mong muốn tái đàm phán song phương các thỏa thuận của chính quyền Obama, mặc cho các lời chỉ trích của đồng minh phương Tây và Iran.

Bằng cách xé bỏ thỏa thuận hạt nhân này, Mỹ muốn đặt lại chiếc “vòng kim cô” cấm vận, nhằm xiết chặt nền kinh tế Iran trước sự lo ngại của các đồng minh lâu năm là Arab Saudi và Israel về sự trỗi dậy của Iran trong khu vực.

Chưa hết bất ngờ, vào ngày 20/10, ông Trump tiếp tục tuyên bố sẽ rút Mỹ ra khỏi Hiệp ước Các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) được ký kết vào năm 1987 với Nga và cáo buộc nước này đã “vi phạm thỏa thuận trong nhiều năm qua”. Điều này khiến phương Tây và Nga dấy lên quan ngại về một cuộc chạy đua vũ trang tiếp theo sắp sửa nổ ra.

“Chúng tôi sẽ không để họ vi phạm thỏa thuận hạt nhân, vượt rào và chế tạo vũ khí trong khi chúng tôi không được phép”, ông Donald Trump nói.

Lý giải cho quyết định này, học giả Trung Quốc Yang Danzhi từ Trung tâm Nghiên cứu về an ninh khu vực thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã hội Trung Quốc, Mỹ đã xác định Nga và Trung Quốc là các đối thủ chiến lược lớn của nước này: “Xuất phát từ những mâu thuẫn về kinh tế và an ninh, Mỹ đang xem Trung Quốc là địch thủ. Bằng cách sử dụng thông điệp chống Trung Quốc làm cái cớ, Mỹ đang cố gắng từ bỏ tất cả các giới hạn liên quan đến việc kiểm soát an ninh và cuộc chạy đua vũ trang”.

Một năm tang thương đối với Indonesia

Vào ngày 28/9 năm 2018, một trận động đất xảy ra ở phần eo của bán đảo Minahassa, Indonesia, với chấn tâm của nó ở huyện miền núi Donggala,  tỉnh Trung Sulawesi, trận động đất nằm cách tỉnh lỵ Palu 77 km (48 dặm). Ngay sau đó, một cơn sóng thần cục bộ sau đó tấn công Palu, cuốn đi các ngôi nhà và tòa nhà ven biển nằm trên đường đi của nó, giết chết ít nhất 1203 và làm bị thương 540 người, hơn 100 người vẫn còn mất tích.

Sau thảm họa kép động đất và sóng thần, người dân Indonesia tiếp tục trải qua nỗi đau khi chiếc máy bay Boeing 737 MAX 8 mang số hiệu JT 610 của hãng hàng không Lion Air đã rơi xuống biển Java chỉ 13 phút sau khi cất cánh từ thủ đô   Jakarta để tới Pangkal Pinang vào sang 29/10. Toàn bộ 189 người trên máy bay (181 hành khách  cùng 8 phi hành đoàn) đều đã được thông báo thiệt mạng sau vụ tai nạn.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 3

Người dân Indonesia liên tiếp phải hứng chịu các thảm họa thiên nhiên trong năm 2018. Ảnh: The New York Times.

Tới những ngày cuối năm, Indonesia tiếp tục phải hứng chịu tổn thất sau khi một cơn sóng thần quét qua bãi biển các đảo Java và Sumatra hôm 22/12. Thống kế tới ngày 26/12 cho thấy đã có 429 người thiệt mạng, với 1.485 người bị thương và 154 người khác vẫn mất tích.

Mỹ rút quân khỏi Syria và Afghanistan

Vào dịp Giáng sinh vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đột ngột đưa ra quyết định rút toàn bộ lực lượng quân đội Mỹ (2000 binh sĩ) đang đồn trú tại Syria và dự kiến tiếp tục rút 7000 quân khỏi Afghanistan, sau khi tuyên bố Mỹ đã chiến thắng tổ chức khủng bố IS. Động thái này đã gây ra sóng gió trên chính trường Mỹ, khi ngay sau đó Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis tuyên bố chính thức nghỉ hưu do “bất đồng quan điểm với Tổng thống Trump” và điều này sẽ cho thấy sự “bỏ mặc” của Mỹ đối với các đồng minh trong khu vực.

Ngay sau khi lá thư từ chức của ông Mattis xuất hiện “rầm rộ” trên truyền thông, Tổng thống Trump đã tỏ ra rất giận dữ và tuyên bố bổ nhiệm Thứ tưởng Patrick Shanahan sẽ trở thành quyền Bộ trưởng bắt đầu từ ngày 1/1 năm 2019, qua đó chính thức sa thải Bộ trưởng Mattis sớm hơn 2 tháng so với dự định ban đầu.

Bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ

Tháng 11 năm 2018 chứng kiến một cuộc chạy đua cho các vị trí trong hệ thống lưỡng viện của Mỹ, với 35/100 ghế tại Thượng viện và toàn bộ 435 ghế ở Hạ viện sẽ được bầu lại. Kết thúc chiến dịch, đảng Cộng hòa vẫn cho thấy sự vượt trội khi thành công trong việc kiểm soát Thượng viện còn đảng Dân chủ giành lại Hạ viện sau 8 năm.

Tổng thống Mỹ Donald Trump nhìn nhận kết quả cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ là một thành công qua dòng thông báo ngắn gọn: “Chiến thắng kỳ vĩ vào tối nay. Cảm ơn tất cả”.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 4

Tổng thống Trump vẫn hết sức lạc quan sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Ảnh: New York Post

Với việc mỗi đảng kiểm soát một viện, điều này sẽ phân chia các cơ quan lập pháp của Mỹ và gây cản trở cho việc thực thi chính sách của Tổng thống Donald Trump trong hai năm tới. Tuy vậy, điều này sẽ không có quá nhiều ảnh hưởng tới tham vọng chinh phục cuộc bầu cử Tổng thống vào năm 2020, khi mức độ ủng hộ của ông Trump tại Thượng viện và các bang quan trọng đã được củng cố sau cuộc bầu cử.

Phong trào biểu tình “Áo vàng”

Bắt đầu nổ ra vào ngày 17/11 tại một số vùng nông thôn Pháp rồi lan nhanh tới các vùng đô thị, người dân Pháp đã đổ ra các đường và mặc chiếc áo phản quang màu vàng – thứ mà mỗi tài xế bắt buộc phải có ở trên xe, để phản đối chính sách tăng thuế nhiên liệu của chính quyền Tổng thống Macron sẽ có hiệu lực vào năm 2019.

Tình trạng bất ổn kéo dài do các cuộc đụng độ giữa phe áo vàng và cảnh sát đã khiến tổng cộng 1.843 thường dân và 1.048 nhân viên thực thi pháp luật đã bị thương, trong đó có 3 người thiệt mạng.

10 sự kiện quốc tế nổi bật trong năm 2018 - ảnh 5

Tình trạng bất ổn kéo dài khiến tình hình nước Pháp vào cuối năm 2018 trở nên hết sức căng thẳng. Ảnh: The Daily Star

Tình trạng bạo lực và bất ổn diễn ra liên tiếp tại nước Pháp vào các dịp cuối tuần khiến nước này thiệt hại hàng triệu USD, chính phủ Pháp sau đó đã có những động thái “nhân nhượng” với người biểu tình như tăng lương cơ bản, cắt bỏ chính sách thuế nhiên liệu,…thế nhưng vẫn chưa có dấu hiệu các cuộc biểu tình sẽ chấm dứt.

Đáng chú ý, người dân tại các nước lân cận như Bỉ, Hà Lan, hoặc chí là ở Canada hay Đài Loan cũng đổ ra đường biểu tình với biểu tượng là chiếc áo vàng, để phản đối các chính sách tăng thuế của chính phủ, tuy nhiên chỉ ở Pháp, phong trào “áo vàng” mới thực sự nhuốm màu bạo lực.

Sự kiện lớn chuẩn bị cho năm bứt phá 2019

Ngày mai 28/12, Hội nghị toàn quốc Chính phủ với các địa phương sẽ khai mạc và dự kiến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng sẽ dự, phát biểu chỉ đạo tại sự kiện lớn có ý nghĩa quan trọng này.

Dù tăng trưởng cao, Việt Nam vẫn duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô.
Diễn ra ngay sau phiên họp Chính phủ thường kỳ ngày 27/12 và ngay trước thềm năm mới, Hội nghị nhằm triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, sau một năm 2018 đạt những kết quả toàn diện trên tất cả các lĩnh vực dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, cùng sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước.

Trong đó, kết quả nổi bật, bao trùm là tăng trưởng GDP đạt mức kỷ lục, ước đạt 7%, cao nhất trong 10 năm qua và cũng cao hơn mọi dự báo. Nhiều kỷ lục khác cũng được xác lập, như về dự trữ ngoại hối, xuất khẩu, xuất siêu… Đáng lưu ý, dù tăng trưởng cao, Việt Nam vẫn duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô với việc giữ được mục tiêu CPI, thâm hụt ngân sách giảm, thị trường chứng khoán ổn định.

Với kết quả đạt được của năm bản lề 2018, tình hình đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong 3 năm 2016 – 2018 phát triển đúng hướng, chuyển biến rõ nét hơn giai đoạn trước.

Theo đó, quy mô nền kinh tế gấp 1,3 lần, GDP bình quân đầu người tăng 440 USD so với đầu nhiệm kỳ; đời sống của người dân không ngừng được cải thiện. Dự báo chúng ta sẽ đạt được các mục tiêu kế hoạch 5 năm 2016 – 2020 mà Nghị quyết Đại hội Đảng XII và Nghị quyết của Quốc hội đã đề ra, trong đó đến nay đã có 11 chỉ tiêu đạt và vượt.

Triển khai nhiệm vụ năm 2019, Chính phủ đã xác định tinh thần đột phá, dám nghĩ, dám làm, đổi mới, sáng tạo, quyết liệt, hành động, phục vụ nhân dân, thể hiện khát vọng vươn lên mạnh mẽ và tạo sức lan tỏa về khát vọng Việt Nam hùng cường tới cộng đồng doanh nghiệp và từng người dân; đồng thời đề xuất, xác định giải pháp trọng tâm trong năm 2019 gắn với các chỉ tiêu phấn đấu cụ thể, cao hơn năm 2018.

Chính phủ cũng đã xác định các nhóm giải pháp lớn cho năm 2019: Tiếp tục củng cố nền tảng vĩ mô, kiểm soát lạm phát, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; thực hiện đồng bộ, quyết liệt các đột phá chiến lược; tạo chuyển biến rõ nét trong cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Cùng với đó, phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; chấn chỉnh công tác quản lý tài nguyên, môi trường; chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu.

Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính; tăng cường công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết liệt phòng chống tham nhũng, lãng phí.

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; bảo đảm trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; làm tốt hơn nữa công tác thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội, tạo niềm tin và khát vọng dân tộc.

Việc triển khai các nhiệm vụ năm 2019 có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chủ trì các cuộc họp về xây dựng Nghị quyết 01 – nghị quyết mang tính “xương sống” cho năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh tinh thần “bứt phá” trong năm 2019 – năm có vai trò bản lề, nước rút cho việc thực hiện Kế hoạch 5 năm 2016-2020 và cả Chiến lược 10 năm 2011-2020.

Không chỉ có vậy, tại nhiều sự kiện gần đây, Người đứng đầu Chính phủ đã đề câp tới mục tiêu, tầm nhìn dài hạn hơn.  Theo đó, với tốc độ tăng trưởng tương tự như mức tăng trung bình của 3 thập niên qua thì đến năm 2045- mốc lịch sử 100 năm nước nhà được độc lập (1945 – 2045), quy mô GDP nước ta ước tính sẽ đạt mức khoảng 2.500 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người khoảng gần 18.000 USD.

Yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy, cách nghĩ cách làm,  tạo quyết tâm của toàn bộ hệ thống chính trị, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện tốt mọi chủ trương đường lối của Đảng.  Điều này càng trở nên cấp bách khi cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nền kinh tế chúng ta đã và đang hội nhập sâu rộng ở mức độ chưa từng có.

Yêu cầu đổi mới tư duy và nhận thức càng cấp bách khi làn sóng công nghệ đột phá ra đời và đang lan rộng toàn cầu, trở thành trào lưu cách mạng, các quốc gia thu nhập trung bình nếu biết tận dụng thời cơ, tiếp cận công nghệ mới sẽ sớm vượt qua được ranh giới trình độ phát triển, thu hẹp hố ngăn cách giàu nghèo. Theo Thủ tướng, Việt Nam đang ở giai đoạn cần có xung lực mới cho phát triển, chúng ta không thể đứng ngoài cuộc và cũng không được phép đi sau trong thời đại cách mạng công nghiệp này.

Phát biểu trước Quốc hội, Thủ tướng cũng đã so sánh: “Một đàn chim muốn bay nhanh không chỉ do con chim đầu đàn quyết định mà còn phụ thuộc vào con chim cuối đàn”. Đồng thời, “đàn chim sẽ bay nhanh hơn rất nhiều nếu mọi con chim cuối đàn đều có chung khát vọng, vượt lên chính mình, bay nhanh hơn nữa để có cơ hội gia nhập vào nhóm đầu đàn”. Đối với đất nước ta, nếu tất cả 63 tỉnh thành, các bộ, ngành và toàn bộ hệ thống chính trị cùng chung khát vọng đó, trong mọi hoàn cảnh, trên từng chặng đường phát triển của đất nước thì chắc chắn Việt Nam sẽ tiến một bước rất dài đến con đường thịnh vượng, sánh vai được với các cường quốc năm châu.

Khi được Quốc hội bầu giữ chức vụ Người đứng đầu Nhà nước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế như ngày nay; nhưng đất nước cũng đang đứng trước những khó khăn rất lớn, tình hình thế giới diễn biến không thể lường hết được; chúng ta vui mừng với những thành tựu, kết quả to lớn nhưng tuyệt nhiên không được chủ quan, tự mãn, không được quá say sưa với thắng lợi, ngủ quên trên vòng nguyệt quế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhắc tới yêu cầu cần phải phối hợp chặt chẽ, đoàn kết thống nhất cao.

Diễn ra ngay trước thềm năm mới, Hội nghị Chính phủ với các địa phương là sự kiện quan trọng để điểm lại những thành tựu, kết quả, khó khăn, hạn chế, rút ra các bài học kinh nghiệm, xác định và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp năm 2019.

Với tinh thần không chủ quan, tự mãn, đánh giá đúng tình hình, tăng cường thống nhất, quyết tâm cao, hành động quyết liệt, Hội nghị sẽ góp phần lan tỏa khí thế mới, quyết tâm mới tới mọi cấp, mọi ngành để triển khai các nhiệm vụ ngay từ ngày đầu, tháng đầu trong một năm bứt phá, từ đó hiện thực hóa các khát vọng phát triển.

Hà Chính

Xuất nhập khẩu 2018 đạt trên 482 tỷ USD, xuất siêu 7,2 tỷ USD

Trong năm 2018 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và có tới 36 mặt hàng trong nhóm nhập khẩu “tỷ đô” đây là những con số được Tổng cục Thống kê thông tin tại buổi họp báo Công bố số liệu tình hình kinh tế- xã hội năm 2018 được tổ chức chiều nay 27/12.

Năm 2018 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và có tới 36 mặt hàng trong nhóm nhập khẩu “tỷ đô”. Ảnh: Nguyễn Hà

Theo đó, về xuất khẩu hàng hóa, tính chung cả năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 69,20 tỷ USD, tăng 15,9%, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 175,52 tỷ USD, tăng 12,9%, chiếm 71,7%. Tỷ lệ này giảm 0,6 điểm phần trăm so với năm 2017. Loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 tăng 12,7% so với năm 2017.

Trong năm 2018 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó 9 mặt hàng đạt trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD.

Cụ thể như: Điện thoại và linh kiện đạt 50 tỷ USD, tăng 10,5%; hàng dệt may đạt 30,4 tỷ USD, tăng 16,6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 29,4 tỷ USD, tăng 13,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 16,5 tỷ USD, tăng 28%; giày dép đạt 16,3 tỷ USD, tăng 11%.

Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực chủ yếu vẫn thuộc về khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,7%; điện tử, máy tính và linh kiện 95,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 89,1%; hàng dệt may 59,9%.

Tuy nhiên, theo Tổng cục Thống kê, xuất khẩu dầu thô tính chung cả năm 2018 tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với năm trước. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 2,3 tỷ USD, giảm 21,2% và giảm 39,5% về lượng.

Ở chiều nhập khẩu, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu cả năm 2018 ước tính đạt 237,51 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm trước. Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 94,80 tỷ USD, tăng 11,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 142,71 tỷ USD, tăng 11,6%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu cả năm tăng 9,5% so với năm 2017.

Trong năm 2018 có 36 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 90,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó có 4 mặt hàng trên 10 tỷ USD.

Nhiều mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công, lắp ráp trong nước có kim ngạch tăng so với năm trước, cụ thể như: điện tử, máy tính và linh kiện đạt 42,5 tỷ USD, tăng 12,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 33,7 tỷ USD, giảm 0,5%; điện thoại và linh kiện đạt 16 tỷ USD, giảm 2,6%…

Cán cân thương mại cả năm 2018 tiếp tục xuất siêu 7,2 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,6 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 32,8 tỷ USD.

Năm 2018, khu vực kinh tế trong nước chuyển biến tích cực khi đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên so với năm 2017.

H.Anh

GDP năm 2018 tăng 7,08%, cao nhất trong 10 năm

GDP quý 4/2018 ước tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm GDP cả năm 2018 tăng 7,08%…

GDP năm 2018 tăng cao nhất kể từ năm 2011 trở về đây.

Trong mức tăng chung của GDP năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng cao nhất với 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung.

Số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê cho biết, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 4/2018 ước tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,65% và khu vực dịch vụ tăng 7,61%.

Mặc dù tăng trưởng quý 4/2018 thấp hơn tốc độ tăng trưởng quý 4/2017 nhưng cao hơn tăng trưởng quý 4 của các năm 2011-2016.

Còn xét về góc độ sử dụng GDP quý 4/2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,51% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 9,06%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 10,69% và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 9,50%.

Tính chung, GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6% và khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7%.

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,98%.

Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% so với năm 2017; tích lũy tài sản tăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%.

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2018, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 43,5%, bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 43,29%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011-2015.

Hiệu quả đầu tư được cải thiện với nhiều năng lực sản xuất mới bổ sung cho nền kinh tế. Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ mức 6,42 năm 2016 xuống 6,11 năm 2017 và 5,97 năm 2018, bình quân giai đoạn 2016-2018 hệ số ICOR ở mức 6,17, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015.

DUYÊN DUYÊN

Tỷ giá ngoại tệ ngày 26/12: USD sụt giảm nhanh

Tỷ giá ngoại tệ ngày 26/12 diễn biến theo xu hướng đồng USD trên thị trường quốc tế chốt ở mức thấp trước kỳ nghỉ lễ tết, trong khi USD trên thị trường tự do sụt giảm nhanh.

Ngày 26/12 Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ ở mức: 22.795 đồng (tăng 5 đồng). Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 22.700 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.424 đồng (không đổi).

Đầu giờ sáng 26/12, một số ngân hàng thương mại tăng tỷ giá ngoại tệ đồng đô la Mỹ hôm nay thêm 5 đồng so với cuối phiên liền trước, phổ biến ở mức 23.235 đồng (mua) và 23.325 đồng (bán).

Vietcombank và BIDV niêm yết tỷ giá ở mức: 23.230 đồng (mua) và 23.320 đồng (bán). Vietibank: 23.235 đồng (mua) và 23.325 đồng (bán). ACB: 23.240 đồng (mua) và 23.320 đồng (bán).

Đầu phiên giao dịch ngày 26/12 (giờ Việt Nam), trên thị trường thế giới, tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 96,51 điểm trước khi nghỉ lễ.

Chốt đợt nghỉ lễ, USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1400 USD; 110,33 yen đổi 1 USD  và 1,2700 USD đổi 1 bảng Anh.

Đêm qua, đồng USD trên thị trường quốc tế đứng ở mức thấp, trong khi USD trên thị trường tự do sụt giảm nhanh.

Đồng USD đứng ở mức thấp và có dấu hiệu sẽ còn suy yếu sau khi Mỹ công bố tăng trưởng kinh tế không được như kỳ vọng và chính quyền tổng thống Donald Trump đang gặp rất nhiều khó khăn, bao gồm việc phải ngừng hoạt động qua kỳ nghỉ Giáng sinh sau khi các cuộc đàm phán về dự luật ngân sách giữa các thượng nghị sĩ đảng Dân chủ và Nhà Trắng liên quan tới việc xây dựng bức tường dọc biên giới với Mexico không đạt kết quả.

Tỷ giá ngoại tệ ngày 26/12: USD sụt giảm nhanh
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay: USD chốt ở mức thấp trước kỳ lễ.

Những lời đồn đoán về việctTổng thống Mỹ Donald Trump có thể sa thải Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powel cũng tác động mạnh tới nhà đầu tư.

Trong quý 3, nền kinh tế Mỹ ghi nhận mức tăng trưởng thấp hơn so với ước tính trước đó và đà tăng trưởng được dự báo sẽ tiếp tục giảm trong quý 4 năm nay, với việc các đơn hàng mới và các lô hàng xuất khẩu giảm trong tháng 11/2018.

Đồng USD suy yếu còn do triển vọng của đồng tiền này kém sáng sủa sau khi Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) cho biết sẽ “kiên nhẫn – patient” trong việc quyết định các lần tăng lãi suất trong tương lai.

Hàng loạt các dự báo cho thấy nhiều khả năng Fed sẽ chỉ có 2 lần tăng lãi suất trong năm 2019, thay vì 3 lần như trước đó. Tốc độ tăng lãi suất chậm lại khiến đồng USD mất cơ hội tăng so với các đồng tiền khác.

Trên thị trường trong nước phiên ngày 25/12, tỷ giá USD/VND ở một số ngân hàng không đổi so với phiên liền trước, phổ biến ở mức: 23.230 đồng/USD và 23.320 đồng/USD.

Tới cuối phiên 25/12, Vietcombank và BIDV niêm yết tỷ giá ở mức: 23.230 đồng/USD và 23.320 đồng/USD. Vietinbank: 23.231 đồng/USD và 23.321 đồng/USD. ACB: 23.240 đồng/USD và 23.320 đồng/USD.

Tính từ đầu năm, tỷ giá đồng đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng tăng 520-535 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra.

Giá USD trên thị trường chợ đen đứng ở mức: 23.300 – 23.320 đồng/USD.

Chốt phiên giao dịch 25/12, tỷ giá Euro đứng ở mức: 26.356 đồng (mua) và 26.830 (bán). Tỷ giá Bảng Anh: 29.263 đồng (mua) và 29.732 (bán). Tỷ giá yên Nhật ở mức 205,1 đồng và bán ra ở mức 212,4 đồng.

V. Minh

TKV đặt mục tiêu doanh thu 128.000 tỷ đồng trong năm 2019

Mục tiêu của TKV là đạt tổng doanh thu 128.000 tỷ đồng năm 2019.

TKV đặt mục tiêu doanh thu 128.000 tỷ đồng trong năm 2019. Ảnh minh họa: TTXVN

Với mục tiêu “An toàn – đổi mới – phát triển”, ngày 26/12, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch phối hợp kinh doanh và ký hợp đồng khai thác sàng tuyển than, khoáng sản năm 2019.

Mục tiêu của TKV là đạt tổng doanh thu 128.000 tỷ đồng năm 2019; trong đó, sản xuất than là gần 69.000 tỷ đồng.

Tập đoàn sẽ tập trung thực hiện các dự án đầu tư khai thác hầm lò. Năm 2019, Tập đoàn TKV phấn đấu khai thác khoảng 40 triệu tấn than nguyên khai, nhập khẩu khoảng 4,6 triệu tấn; tiêu thụ khoảng 42 triệu tấn, lượng than sạch tồn kho dự kiến đến 31/12/2019 gần 4 triệu tấn.

Để thực hiện các mục tiêu trên, TKV tiếp tục hoàn thiện quản lý tiêu thụ than đầu nguồn theo hướng tập trung, chuyên môn hóa các khâu vận chuyển và kho, cảng than; giao nhận và kinh doanh than. Tập đoàn giao chỉ tiêu nhập khẩu cho các công ty kinh doanh than cuối nguồn để đảm bảo nguồn cung cấp cho khách hàng.

TKV xây dựng phương án tiêu thụ than từ nguồn than vùng Hòn Gai, than pha trộn tại khu vực Cảng Làng Khánh để bán cho các nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Thăng Long và Xi măng Thăng Long; đồng thời, tăng cường quản trị tài nguyên, chất lượng sản phẩm, an toàn và bảo vệ môi trường; triển khai giải pháp cụ thể bảo vệ than tại các mỏ, vận chuyển, lưu kho và trong quá trình tiêu thụ (đặc biệt chống gian lận thương mại về chất lương, số lượng và chống thu gom trộm cắp than).

Liên quan đến việc xuất khẩu than, TKV tập trung sản xuất các chủng loại chất lượng cao để phục vụ thị trường tiêu thụ truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc…; đặt mục tiêu nâng tiền lương thu nhập bình quân người lao động đạt 11,3 triệu đồng/tháng, tăng 4,7 so với năm 2018.

Cùng ngày, TKV đã tổ chức ký hợp khai thác sàng tuyển than, khoáng sản năm 2019 với các công ty thành viên./.

Văn Đức/TTXVN

Xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 14,2%, đạt 43 tỷ USD

11 tháng đầu năm 2018, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với hơn 43 tỷ USD.

Mới đây, Tổng cục Hải quan cho biết kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng đột biến. Theo đó, tính hết tháng 11, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 43.455 tỷ USD, tăng 14,2%. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 19,4% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam

Hiện thị trường này là nhà nhập khẩu lớn nhất đối với nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam như dệt may, thủy sản, giày dép, máy móc, thiết bị…

Cụ thể từng ngành hàng, 11 tháng đầu năm, xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ đạt trị giá 12,45 tỷ USD, tăng 11,8% và chiếm tỷ trọng 45% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước.

Ngoài ra, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 3,08 tỷ USD, tăng 39%. Riêng giày dép đạt 5,26 tỷ USD, tăng 14,5%. Mặt hàng thủy sản đạt 1,48 tỷ USD, tăng 14,3%. Mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,5 tỷ USD, tăng 18,4%…

HỒNG TRÂM

Giá vàng hôm nay 26/12: Cuối năm, vàng treo trên đỉnh

Giá vàng hôm nay 26/12 trên thế giới vượt đỉnh 6 tháng và treo cao ngay trước dịp nghỉ lễ do đồng USD yếu và thị trường chứng khoán toàn cầu sụt giảm và biến cố bất ngờ trong nội các ông Donald Trump.

Tới 14h ngày 26/12, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 36,330 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,430 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,240 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,440 triệu đồng/lượng (bán ra).

Mở cửa lúc 8h30 sáng 26/12, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 36,27 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,37 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 10 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ chiều phiên liền trước.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,22 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,42 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 10 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ chiều ngày 25/12.

Tới đầu giờ sáng 26/12 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.269 USD/ounce.

Giá vàng giao tháng 2 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.272 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay thấp hơn 2,6% (33,5 USD/ounce) so với cuối năm 2017. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 35,1 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 1,2 triệu đồng/lượng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới vượt đỉnh 6 tháng và treo cao ngay trước dịp nghỉ lễ do đồng USD yếu và thị trường chứng khoán toàn cầu sụt giảm và biến cố bất ngờ trong nội các tổng thống Donald Trump.

Đồng USD yếu sau khi Mỹ công bố tăng trưởng kinh tế không được như kỳ vọng và chính quyền tổng thống Donald Trump đang gặp rất nhiều khó khăn, bao gồm việc phải ngừng hoạt động qua kỳ nghỉ Giáng sinh sau khi các cuộc đàm phán về dự luật ngân sách giữa các thượng nghị sĩ đảng Dân chủ và Nhà Trắng liên quan tới việc xây dựng bức tường dọc biên giới với Mexico không đạt kết quả.

Giá vàng hôm nay 26/12: Cuối năm, vàng treo trên đỉnh
Giá vàng hôm nay: Treo cao trên đỉnh 6 tháng.

Những lời đồn đoán về việctTổng thống Mỹ Donald Trump có thể sa thải Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powel cũng tác động mạnh tới nhà đầu tư.

Trong quý 3, nền kinh tế Mỹ ghi nhận mức tăng trưởng thấp hơn so với ước tính trước đó và đà tăng trưởng được dự báo sẽ tiếp tục giảm trong quý 4 năm nay, với việc các đơn hàng mới và các lô hàng xuất khẩu giảm trong tháng 11/2018.

Vàng tăng giá còn do thị trường chứng khoán trượt dốc.

Trên thị trường vàng trong nước chốt 25/12 đa số các cửa hàng vàng giảm giá vàng 9999 trong nước 20 ngàn đồng so với phiên liền trước.

Tính tới cuối phiên giao dịch 25/12, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 36,28 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,38 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 36,23 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,43 triệu đồng/lượng (bán ra).

Theo Doji, giá vàng trong nước phản ứng khá chậm với đà tăng của giá vàng thế giới. Đây là giai đoạn cận cuối năm, là thời điểm nghỉ lễ Noel và nghỉ Tết dương lịch các nhà đầu tư quốc tế, do vậy các giao dịch trong phiên phát sinh nhỏ giọt chủ yếu với tâm lý thăm dò.

Trong ngắn hạn, nhiều chuyên gia đánh giá rằng, kim loại quý sẽ được hưởng lợi bởi những bất ổn chính trị của Mỹ và các chuỗi vấn đề liên quan. Do vậy, các nhà đầu tư cần nắm bắt xu thế một cách chính xác để có thể đưa ra những quyết định đầu tư hiệu quả nhất.

V. Minh

Tổng trị giá xuất khẩu đạt hơn 233 tỷ USD

Theo Tổng cục Hải quan, tính từ đầu năm đến hết ngày 15/12/2018, tổng trị giá xuất khẩu của cả nước đạt 233,07 tỷ USD, tăng 13,7% (tương ứng tăng 28,1 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2017.

Ảnh minh họa: Internet

Ảnh minh họa: Internet

Riêng trị giá hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ đầu của tháng 12/2018 đạt 9,38 tỷ USD. Các mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam là: điện thoại và linh kiện; hàng dệt may; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; gỗ và các sản phẩm gỗ…

Về nhập khẩu, đến hết ngày 15/12/2018, tổng trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 226,18 tỷ USD, tăng 11,4% (tương ứng tăng 23,17 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2017.

Như vậy, tính từ đầu năm đến hết ngày 15/12/2018 tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 459,25 tỷ USD, tăng 12,6% (tương ứng tăng 51,27 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2017. Với kết quả này, cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam từ đầu năm đến hết ngày 15/12 thặng dư 6,89 tỷ USD.

Trung Hiếu

Tỷ giá ngoại tệ ngày 24/12: Ngân hàng Nhà nước tăng giá bán USD

Sáng nay, Ngân hàng Nhà nước tăng 5 đồng giá bán USD, trong khi đó chỉ số USD Index thế giới giảm nhẹ và giá USD tại ngân hàng thương mại đi ngang.

Đầu phiên giao dịch hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.424 đồng/USD, tăng 5 đồng so với cùng thời điểm cuối tuần trước; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và CNY  ở mức 1 CNY đổi 3.304 VND, không đổi so với cuối tuần trước.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.790 đồng/USD, tăng 5 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.473 VND/USD và tỷ giá sàn là  23.107 VND/USD.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, sáng nay, giá USD biến động nhẹ so với cùng thời điểm cuối tuần trước. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.240-23.330 VND/USD, ngang giá; VietinBank niêm yết giá 23.238-23.328 đồng/USD, giảm 1 đồng mỗi chiều giao dịch; BIDV niêm yết giá 23.235-23.325 đồng/USD, không đổi.

VOV.VN

Giá vàng trong nước và thế giới cùng tăng

Giá vàng trong nước và thế giới hôm nay (24/12) cùng tăng trong phiên đầu tuần, giá vàng thế giới vẫn thấp hơn giá vàng SJC gần 1 triệu đồng/lượng.

Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng đầu giờ sáng nay (24/12) ở mức 36,31-36,41 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra). So với phiên cuối tuần trước, giá vàng tăng 30.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào-bán ra. Mức chênh lệch giá bán đang cao hơn giá mua vẫn giữ ở mức 100.000 đồng/lượng.

gia vang trong nuoc va the gioi cung tang hinh 1
Giá vàng trong nước và thế giới cùng tăng. (Ảnh: KT)

Mở cửa phiên giao dịch sáng nay, Công ty VBĐQ Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,26-36,44 triệu đồng/lượng (mua vào-bán ra). So với phiên giao dịch trước, giá vàng tăng 20.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua-bán. Chênh lệch giá bán đang cao hơn giá mua là 180.000 đồng/lượng.

Giá vàng thế giới giao ngay đang ở mức 1.260 USD/oz, tăng 5 USD so với cùng thời điểm phiên giao dịch cuối tuần. Tính theo tỷ giá ngoại tệ Vietcombank ngày hôm nay (23.240 đồng/USD), giá vàng thế giới tương đương 35,28 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC gần 1 triệu đồng/lượng./.

Ads by AdAsia
VOV.VN

Nhiều doanh nghiệp sẵn sàng bứt phá với CPTPP

Nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực thủy sản, dệt may, gỗ, xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp… đang sẵn sàng bứt phá với cơ hội từ Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Nhiều doanh nghiệp sẵn sàng bứt phá với CPTPP

Thủy sản Việt Nam là một trong những ngành được dự báo sẽ đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước khác trong CPTPP.

MPC mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao công suất chế biến tôm

Trong các ngành nghề, thủy sản và dệt may được đánh giá là hưởng lợi nhiều nhất từ CPTPP. Theo ông Lê Văn Điệp, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn thủy sản Minh Phú (MPC), MPC đã sẵn sàng chớp cơ hội này, đồng thời chuẩn bị những bước đi dài hạn nhằm “chinh chiến” trên thị trường quốc tế, vừa khẳng định thương hiệu, vừa tăng trưởng doanh thu.

“Chúng tôi đặt kế hoạch tăng trưởng năm 2019 khoảng 10 – 15% so với năm 2018, nằm trong chiến lược 10 năm của Minh Phú, mỗi năm đạt mức tăng trưởng hai con số. Cơ hội từ CPTPP mở ra sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Minh Phú hiện thực hóa kế hoạch này”, ông Lê Văn Điệp nói.

Lãnh đạo Minh Phú cho biết, trong 11 nước CPTPP, Công ty đang có tôm xuất khẩu vào Canada, Úc, Nhật Bản, tổng sản lượng tại ba thị trường này tính đến hết tháng 11/2018 đạt tỷ trọng hơn 33%.

Với riêng thị trường Nhật Bản, sản phẩm tôm của Minh Phú đã hưởng ưu đãi thuế xuất khẩu 0% từ Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Nhật Bản, nên CPTPP không có nhiều ảnh hưởng đến việc xuất khẩu của Công ty sang xứ sở Hoa anh đào. Hiện sản lượng xuất khẩu của Minh Phú sang Nhật chiếm 20,15% trong cơ cấu các thị trường. Trong 11 tháng đầu năm 2018, giá trị xuất khẩu sang thị trường Nhật đạt 136,3 triệu USD.

Hiện nay, Mỹ – nước không tham gia CPTPP, vẫn là thị trường chủ lực của Minh Phú khi 42,1% tổng sản lượng của doanh nghiệp xuất đi xứ Cờ hoa, đem về hơn 280 triệu USD trong 11 tháng năm 2018.

Sang năm 2019, Minh Phú sẽ tiếp tục đẩy mạnh chiến lược tung sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao vào thị trường chủ lực này. Tuy nhiên, cùng với đó, khối các nước CPTPP sẽ được Công ty chú trọng hơn để khai thác lợi thế.

Cụ thể, với thị trường Úc, từ trước đến nay, Minh Phú gặp nhiều khó khăn khi Úc có rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt, không chấp nhập nhập khẩu tôm tươi. Tôm vào Úc phải trải qua khâu kiểm duyệt gắt gao nên sản lượng tôm của Minh Phú xuất đi Úc mới chiếm 3,53% trong tổng sản lượng xuất khẩu của doanh nghiệp, doanh thu 11 tháng vừa qua đạt gần 24 triệu USD. Con số này khá khiêm tốn so với tiềm năng hiện có.

“Để đưa tôm vào Úc nhiều hơn, chúng tôi đã nhập máy kiểm tra virus đáp ứng nhu cầu kiểm dịch của Úc, kiểm tra được bệnh đốm trắng, đầu vàng, đảm bảo tôm đạt chuẩn trước khi xuất đi. Đồng thời, các vùng nguyên liệu cũng được kiểm tra nghiêm ngặt”, ông Lê Văn Điệp chia sẻ. Theo đó, Minh Phú đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng hơn cho năm 2019.

Lãnh đạo Minh Phú cho biết, năm 2019, doanh nghiệp sẽ thực hiện mua bán – sáp nhập (M&A) hai nhà máy để mở rộng quy mô sản xuất, đồng thời nâng cao công suất ở nhà máy tại Cà Mau lên 15.000 tấn/năm, tiếp tục phát triển nhà máy tại Hậu Giang phục vụ nhu cầu tăng trưởng xuất khẩu.

Sẵn sàng phát huy tiềm năng nội lực và chớp thời cơ, Minh Phú có thể bứt phá trong năm tới, khi Hiệp định CPTPP, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), chiến tranh thương mại Mỹ – Trung đang giúp Công ty hưởng lợi.

TNG tập trung vào thị trường Canada

Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG (TNG) đã có sự chuẩn bị từ lâu nhằm tận dụng cơ hội từ CPTPP. Chủ tịch Hội đồng quản trị TNG Nguyễn Văn Thời chia sẻ, Công ty đã “gõ cửa” các thị trường trong khối CPTPP từ 3 năm trước, thời điểm Hiệp định TPP (tiền thân của CPTPP) còn đang “rình rang” những kỳ vọng. Nhờ đó, đến nay, TNG đã có trong tay một số khách hàng và kinh nghiệm nhất định.

Trong các nước CPTPP, TNG tập trung vào thị trường Canada. Công ty đã có hai đối tác chiến lược tại thị trường này và sẽ tiếp tục mở rộng thị phần tại đây. TNG đã chuẩn bị sẵn sàng mọi yếu tố từ nguồn nguyên liệu, dây chuyền đến nâng cao năng lực sản xuất để đáp ứng nhu cầu gia tăng của đơn hàng. Sản lượng xuất khẩu sang thị trường Canada đang tăng mạnh, năm 2018 ước tăng 30 – 40% so với năm 2017 và dự báo tiếp tục tăng mạnh trong năm 2019, khi CPTPP chính thức có hiệu lực đối với Việt Nam.

Quý IV/2018, TNG tất bật với các đơn hàng được đặt từ trước đó 3 – 4 tháng, cổ phiếu của Công ty được nhiều nhà đầu tư kỳ vọng khi giá và thanh khoản đều tăng.

TCM nhắm đến thị trường Úc và Canada

Nằm trong nhóm những doanh nghiệp hưởng lợi từ CPTPP, Công ty cổ phần Dệt may Đầu tư Thương mại Thành Công (TCM) có chiến lược nhắm đến thị trường Úc và Canada. Úc và Canada vốn là thị trường nhập khẩu hàng may mặc rất lớn trên thế giới, trong khi TCM có lợi thế chủ động nguồn nguyên liệu từ sợi đến sản xuất thành phẩm. Khi CPTPP được thông qua, thuế xuất khẩu sản phẩm dệt may vào hai thị trường này giảm về 0% sẽ là cơ hội lớn để TCM chinh phục khách hàng tại đây.

Để chuẩn bị đón đầu các cơ hội từ CPTPP, TCM đã mua một nhà máy may ở Trảng Bàng (Tây Ninh), công suất 5 triệu sản phẩm/năm, đồng thời chuẩn bị mọi nguồn lực để sẵn sàng đáp ứng khả năng tăng sản lượng đơn hàng xuất khẩu.

Cần tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm

ảnh 1

 Dự báo tác động từ hiệp định CPTPP tới Việt Nam.

Truyền thông nhắc đến nhiều những cơ hội rộng mở xuất khẩu hàng hóa sang các nước trong CPTPP, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam, vốn có nhiều lợi thế.

Tuy nhiên, chính sách thuế được nhận định là yếu tố đòn bẩy, cốt lõi nhất vẫn là chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp Việt có thuyết phục được người mua hàng tại các nước này hay không.

Kinh nghiệm nhiều năm mang sản phẩm quế hồi Việt Nam đến với các thị trường khó tính của thế giới, bà Nguyễn Thị Huyền, Giám đốc Công ty Sản xuất và Xuất khẩu quế hồi Việt Nam cho biết, sản phẩm quế hồi của Công ty đã đi vào thị trường châu Âu và nhiều nước trong khối CPTPP.

“Chính sách hỗ trợ về thuế khi CPTPP được thông qua chỉ là một yếu tố, để sản phẩm xuất khẩu có tăng trưởng cao hay không phụ thuộc nhiều vào khách hàng và nhu cầu của thị trường. Nhưng có điều tôi chắc chắn rằng, khi khách hàng đang mua sản phẩm từ thị trường Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia…, họ sẽ chuyển sang ưu tiên đặt hàng Việt Nam hơn khi có ưu đãi về thuế”, bà Huyền nói.

Được biết, các sản phẩm của Công ty đã đạt tiêu chuẩn HACCP; hệ thống quản lý mang tính phòng ngừa được đánh giá khắt khe trong an toàn thực phẩm và đạt chứng chỉ Pesticires (đáp ứng được 1.000 chỉ tiêu của châu Âu), chứng chỉ hữu cơ quốc tế.

Hiệp định CPTPP có sự tham gia của 11 nước thành viên, gồm Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada, Australia, Peru, Chile, Malaysia, Brunei, Việt Nam.  CPTPP sẽ có hiệu lực từ ngày 30/12/2018 với 6 nước: Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada, Australia và có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 14/1/2019. Đây được xem là hiệp định thương mại tự do lớn thứ ba thế giới hiện nay.
Một số chuyên gia cho rằng, bên cạnh việc tìm kiếm mở rộng thị trường ngoài nước, các doanh nghiệp Việt Nam không nên bỏ qua thị trường 95 triệu dân trong nước, không để tình trạng “ngồi trên đống vàng mà chưa tận dụng được” như hiện nay. Đặc biệt, dư địa phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất lớn, đầu tư nông nghiệp chất lượng cao phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Hải Yến

Jetstar đạt tăng trưởng 21%, ‘cõng’ khoảng 6,2 triệu lượt khách

Thông tin từ hãng hàng không giá rẻ Jetstar Pacific, trong năm nay, lượng khách vận chuyển đạt 6,2 triệu lượt khách, tổng doanh thu dự kiến đạt 9.100 tỷ đồng với mức tăng trưởng 21% và có lợi nhuận, vượt so kế hoạch 161 tỷ đồng trong kết quả sản xuất kinh doanh 2018.

Ảnh minh họa. (Ảnh: TTXVN)

Năm 2018, thị trường hàng không tiếp tục ghi nhận sự chuyển biến tích cực của Jetstar Pacific, lượng khách vận chuyển của hãng tăng thêm 14,3%. Tổng số chuyến bay khai thác tăng 10,8%, đạt trên 40.000 chuyến với tỷ lệ an toàn tuyệt đối 100%. Hệ số sử dụng ghế tăng hiệu quả thêm 2% và doanh thu hành khách tăng trưởng 27,6% so với cùng kỳ năm trước.

[Jetstar Pacific mở đường bay Hà Nội-Cần Thơ phục vụ Tết Nguyên đán]

Đặc biệt, trong quý 3/2018, Jetstar Pacific ghi nhận lượng khách nội địa tăng ấn tượng với 31,7%, khách quốc tế tăng 18,5%. Bước sang quý 4/2018, thị trường bước sang mùa thấp điểm, Jetstar Pacific tranh thủ tiến hành cơ cấu lại đội bay, đưa máy bay đi bảo dưỡng định kỳ sớm nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và chuẩn bị giai đoạn cao điểm Tết 2019, lượng khách của hãng dự kiến tiếp tục tăng 12% .

“Thị trường hàng không năm 2018 có nhiều khó khăn, biến động tỷ giá và giá nhiên liệu bay Jet A1 tăng cao. Trong đó, giá nhiên liệu máy bay bình quân thế giới năm 2018 tăng trên 30% so với năm 2017. Tuy nhiên, bằng các biện pháp quản trị chi phí, năng suất và doanh thu tăng đã góp phần bù đắp chi phí gia tăng do giá nhiên liệu của Jetstar Pacific. Hãng ghi nhận có lợi nhuận trong năm 2018, vượt kế hoạch 161 tỷ đồng,” lãnh đạo Jetstar Pacific nhấn mạnh.

Cần phải nhấn mạnh rằng, kết quả kinh doanh có lợi nhuận của hãng hàng không giá rẻ đầu tiên của Việt Nam cho thấy sự chuyển biến tích cực của hãng sau thời gian chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chỉ số đúng giờ, chú trọng công tác bảo dưỡng đội máy bay, nâng cao văn hóa an toàn, văn hóa ứng xử nhằm mang lại niềm tin cho cộng đồng khách hàng.

Tại Việt Nam, Jetstar Pacific đang thực hiện chiến lược thương hiệu kép cùng Vietnam Airlines, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của hành khách và tăng cường tính hiện diện của hãng trong thị trường hàng không trong nước và khu vực.

Jetstar Pacific hiện đang khai thác khoảng 750 chuyến bay mỗi tuần, phủ kín hầu hết các thành phố, điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam và mạng bay quốc tế kết nối cùng Jetstar Group và Vietnam Airlines đến 85 đểm đến 17 quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Hãng có hai cổ đông chính là hãng hàng không quốc gia Vietnam Airlines và Tập đoàn hàng không quốc gia Australia-Qantas Group (Qantas Airways)./.

VIỆT HÙNG 

Hơn 7,2 tỷ USD xăng dầu đã được nhập khẩu về Việt Nam

Khối lượng xăng dầu nhập khẩu về Việt Nam đã đạt trên 10,7 triệu tấn trong 11 tháng năm 2018, tương đương trị giá 7,2 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm ngoái…

Mức giá xăng dầu nhập khẩu trung bình 11 tháng năm 2018 cũng tăng 25,4% so với năm ngoái, lên mức 676,8 USD/tấn.

Malaysia vẫn là thị trường cung cấp xăng dầu nhiều nhất cho Việt Nam với 3,12 triệu tấn, tương đương 1,97 tỷ USD, tăng 34,8% về lượng và tăng 81,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.Sau 4 tháng sụt giảm liên tiếp về khối lượng và kim ngạch nhập khẩu xăng dầu, bước sang tháng 11/2018, xăng dầu nhập khẩu về Việt Nam đã gia tăng trở lại.

Cụ thể, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, xăng dầu nhập khẩu trong tháng 11 đạt 752 nghìn tấn, trị giá 513 triệu USD, tăng 13% về lượng và tăng 5% về kim ngạch so với tháng trước.

Tính chung 11 tháng, Việt Nam đã nhập khẩu trên 10,7 triệu tấn xăng dầu, trị giá trên 7,2 tỷ USD, giảm 8,4% về lượng nhưng tăng 14,8% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.

Mức giá xăng dầu nhập khẩu trung bình 11 tháng năm 2018 cũng tăng 25,4% so với năm ngoái, lên mức 676,8 USD/tấn.

Về thị trường, Malaysia vẫn tiếp tục là thị trường cung cấp xăng dầu cho Việt Nam nhiều nhất với 3,12 triệu tấn, tương đương 1,97 tỷ USD, chiếm 29% tổng lượng và chiếm 27,2% tổng kim ngạch nhập khẩu xăng dầu của Việt Nam.

Đứng thứ hai là Hàn Quốc với nguồn cung 2,3 triệu tấn xăng dầu, tương đương 1,76 tỷ USD, giảm 11,2% về lượng nhưng tăng 5,2% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.

Singapore là thị trường cung cấp xăng dầu lớn thứ ba cho Việt Nam, tuy nhiên lượng xăng dầu nhập khẩu từ thị trường này lại có sự sụt giảm cả về lượng và trị giá. Theo đó, Việt Nam đã nhập khẩu 2,2 triệu tấn xăng dầu từ Singapore, tương đương 1,4 triệu USD, giảm 44% về lượng và 27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Là thị trường lớn thứ tư về nguồn cung xăng dầu cho Việt Nam song nhập khẩu xăng dầu từ Trung Quốc lại tăng mạnh nhất trong tất cả các thị trường từ đầu năm đến nay. Xăng dầu nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 1,33 triệu tấn, trị giá 927 triệu USD, tăng mạnh 50,8% về lượng và tăng 101,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu xăng dầu nhiều từ Thái Lan, Nga và Hồng Kông, với trị giá lần lượt là 898 triệu USD; 90 triệu USD và 61 nghìn USD.

DUYÊN DUYÊN

Xuất khẩu gạo: Tín hiệu vui từ nhiều thị trường

Kim ngạch xuất khẩu gạo sang nhiều thị trường trong 11 tháng qua đã có mức tăng trưởng khả quan, đóng góp lớn cho kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung của cả nước.

Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng đầu năm 2018, cả nước xuất khẩu 5,64 triệu tấn gạo, thu về 2,83 tỷ USD, tăng 3,2% về lượng và tăng 15,1% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Giá xuất khẩu đạt 502,7 USD/tấn, tăng 11,5%.

Riêng tháng 11/2018 xuất khẩu gạo tăng 9% về khối lượng và tăng 2,7% về kim ngạch so với tháng 10/2018, đạt 395.574 tấn, tương đương 192,41 triệu USD. So với cùng tháng năm ngoái cũng tăng 5,6% về lượng và tăng 6,9% về kim ngạch.

xuat khau gao tin hieu vui tu nhieu thi truong
Xuất khẩu gạo tăng cao ở nhiều thị trường

Xuất khẩu gạo sang thị trường Indonesia có mức tăng đột biến gấp 48,7 lần về lượng và tăng gấp 64,4 lần về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 772.098 tấn, tương đương 362,45 triệu USD, chiếm 13,7% trong tổng lượng và chiếm 12,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước. Giá xuất khẩu cũng tăng mạnh 32,2%, đạt trung bình 469,4 USD/tấn.

Xuất khẩu gạo sang thị trường Philippines trong tháng 11/2018 tăng rất mạnh 146,9% về lượng và tăng 151,6% về kim ngạch so với tháng trước đó, đạt 83.585 tấn, tương đương 35,59 triệu USD; nâng tổng khối lượng 11 tháng đầu năm lên 772.012 tấn, tương đương 348,18 triệu USD, chiếm 13,7% trong tổng lượng và chiếm 12,3% trong tổng kim ngạch, tăng 52,4% về lượng và tăng 72,8% về kim ngạch so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu tăng 13,4%, đạt 451USD/tấn.

Dù là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại gạo của Việt Nam, chiếm trên 23% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước, đạt 1,31 triệu tấn, trị giá 670,28 triệu USD, nhưng xuất khẩu sang Trung Quốc sau 11 tháng đã giảm mạnh 39,8% về lượng và giảm 31% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Giá xuất khẩu tăng 14,5%, đạt 513 USD/tấn.

Trong 11 tháng đầu năm nay, các thị trường xuất khẩu đáng chú ý, có mức về mức tăng mạnh trên 100% cả về lượng và kim ngạch gồm có: Ba Lan tăng 431,7% về lượng và tăng 494% về kim ngạch, Thổ Nhĩ Kỳ tăng 282% về lượng và tăng 308% về kim ngạch, Iraq tăng 134,3% về lượng và tăng 143,9% về kim ngạch, Pháp tăng 285,9% về lượng và tăng 205,8% về kim ngạch.

Dự báo, xuất khẩu gạo cả năm nay có thể đạt 6,15 triệu tấn với kim ngạch gần 3,2 tỷ USD, tăng gần 6% về lượng nhưng tăng tới 20% về trị giá so với năm 2017. Đây được coi là một trong những điểm sáng khi giá gạo Việt Nam lần đầu tiên vượt qua gạo Thái Lan.

Đáng chú ý, các doanh nghiệp ngày càng chú trọng làm gạo chất lượng cao. Từ làm lúa gạo đạt tiêu chuẩn Global GAP, gạo Việt Nam đã tiến đến sản xuất hữu cơ. Nhiều chuyên gia dự báo tình hình xuất khẩu gạo trong thời gian tới có thể gặp không ít khó khăn do Trung Quốc thay đổi chính sách nhập khẩu lương thực. Tuy nhiên, xu hướng tiêu dùng gạo chất lượng, an toàn và tốt cho sức khỏe con người vẫn là xu hướng ổn định mà Việt Nam có lợi thế để đáp ứng.

Bảo Ngọc

Giá vàng trong nước đồng loạt giảm

Ngày 19-12, giá vàng trong nước đồng loạt giảm giá so với phiên giao dịch trước đó.

gia vang trong nuoc dong loat giam 130954
Ảnh minh họa

Mở cửa lúc 8g30 sáng 19-12, giá vàng miếng trong nước được Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức mức 36,28 – 36,38 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này giảm 40.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 18/12.

Công ty Phú Quý niêm yết vàng miếng SJC với mức giá 36,29 – 36,39 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này tăng 40.000 đồng ở chiều mua vào và giảm 40.000 đồng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch trước đó, ngày 18/12. Vàng 24K niêm yết ở mức 35,05 – 35,65 triệu đồng/lượng, giữ nguyên giá so với phiên giao dịch trước đó.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,24 – 36,42 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này giảm 40.000 đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào – bán ra so với phiên giao dịch ngày 18-12.

Đầu giờ sáng ngày 19-12, giá vàng thế giới ở mức 1248,9 – 1249,4 USD/ounce (mua vào – bán ra). Mức giá này tăng 2,1 USD/ounce ở cả 2 chiều mua bán. Đây là phiên thứ 2 liên tiếp giá vàng thế giới tăng trở lại sau thời kỳ giảm giá ở 2 tuần trước đó.

Sáng nay, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của VND với USD áp dụng ngày 19/12 là 22.785 đồng/USD, giảm 2 đồng so với phiên trước.

Với biên độ tỷ giá +/-3%, Ngân hàng Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết tỷ giá USD từ 23.270-23.360 đồng/USD (mua vào/bán ra), không đổi so với chốt phiên trước.

Còn Eximbank công bố tỷ giá USD từ 23.260-23.360 đồng/USD, cũng không đổi so với chốt phiên trước.

Trong khi đó, BIDV lại tăng 5 đồng so với chốt phiên trước, hiện ngân hàng này niêm yết chiều mua và bán ra từ 23.275-23.365 đồng/USD.

T.Quang

Total bắt đầu cuộc chơi tỷ USD ở Việt Nam

Tập đoàn Total đang lên kế hoạch đầu tư một dự án điện khí tỷ USD ở Ninh Thuận. Ông lớn dầu khí của Pháp phải chăng sẽ bắt đầu cuộc chơi lớn ở Việt Nam?

Thông tin cho biết, tập đoàn dầu khí hàng đầu thế giới Total (Pháp) đang lên kế hoạch đầu tư Dự án Tổ hợp Điện khí Cà Ná tại tỉnh Ninh Thuận. Dự án dự kiến được Total cùng với các đối tác là Siemens, Vovatek (Nga) và Công ty TNHH Đầu tư và Công nghệ Việt Nam (A&A) triển khai với tổng công suất 4.500 MW, trong đó giai đoạn I là 1.500 MW, với tổng mức đầu tư 1,2 tỷ USD.

Có mặt từ năm 1990, Total có những bước đi khá cẩn trọng ở thị trường Việt Nam
Có mặt từ năm 1990, Total có những bước đi khá cẩn trọng ở thị trường Việt Nam

Thậm chí, không còn là “đang lên kế hoạch”, Total và các đối tác của mình thời gian gần đây đã liên tục tới Ninh Thuận để thảo luận các vấn đề liên quan đến dự án này. Total cũng đã đề xuất UBND tỉnh Ninh Thuận đề nghị Bộ Công thương và Chính phủ bổ sung Dự án vào quy hoạch.

Đầu tháng 11/2018, nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Pháp Édouard Philippe, Tập đoàn Total đã ký thỏa thuận với UBND tỉnh Ninh Thuận về việc nghiên cứu phát triển Tổ hợp Dự án Điện khí Cà Ná Ninh Thuận. Không chỉ là xây dựng nhà máy điện, trong thỏa thuận hợp tác, Total và các đối tác của mình cũng đã nhắc đến kế hoạch xây dựng một tổng kho khí hóa lỏng (LNG), với mục tiêu không chỉ cung cấp khí tự nhiên cho nhà máy điện, mà còn cung cấp khí tự nhiên cho cả khu vực.

Kế hoạch đầu tư vào nhà máy điện khí ở Việt Nam trên thực tế đã được lãnh đạo của Tập đoàn Total chia sẻ với Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, nhân chuyến thăm của Thủ tướng tới Singapore vào cuối tháng 4/2018. Khi đó, ông Christian Cabrol, Phó chủ tịch Tập đoàn Total, Chủ tịch Công ty Dầu khí Total khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đã không giấu giếm tham vọng rằng, Tập đoàn rất quan tâm đến lĩnh vực khí thiên nhiên hóa lỏng và sản xuất điện ở Việt Nam. Vị Phó chủ tịch này đồng thời cũng cho biết, sẵn sàng hợp tác với các đối tác khác để đầu tư vào lĩnh vực này.

Chỉ 3 tháng sau khi chia sẻ kế hoạch đó với Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Total đã tìm đến Ninh Thuận, đưa thêm các đối tác đầu tư mới và ít tháng sau đó, thỏa thuận đầu tiên đã được ký kết. Tất nhiên, tất cả mới đang là kế hoạch, song kế hoạch này đang mở ra một cơ hội mới ở Ninh Thuận. Sẽ không chỉ là 1-2 tỷ USD, tham vọng của Total có thể còn lớn hơn thế.

Ông lớn chơi lớn

Total có mặt tại Việt Nam từ năm 1990. Tuy nhiên, trái với kỳ vọng về một khoản đầu tư lớn của một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực dầu khí, Total có những bước đi khá cẩn trọng ở thị trường Việt Nam. Ban đầu, chỉ là Total Marketing & Services Việt Nam, với hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực khí hóa lỏng (LPG), dầu nhờn và xăng dầu.

Năm 2009, Total mua lại hoạt động dầu nhờn của Exxon Mobil tại Việt Nam, đồng thời sáp nhập với các hoạt động kinh doanh dầu nhờn của Total tại Việt Nam, đưa nhà máy dầu nhờn Total đặt tại Khu công nghiệp Gò Dầu (tỉnh Đồng Nai) vào hoạt động.

Sau đó, đầu tháng 7/2012, Totalgaz Việt Nam đã mua lại Công ty Năng lượng Đại Việt (Vinagas), từ đó tập trung kinh doanh và sở hữu 4 nhãn hàng gồm Elfgaz, Totalgaz, Saigon Gas và Vinagas tại Việt Nam. Ngoài ra, Total cũng kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam, đặc biệt là ở Đà Nẵng.

Từ đó tới nay, Total đã đầu tư và kinh doanh ở thị trường Việt Nam chỉ với quy mô như vậy, cho đến khi gặp Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vào đầu năm nay. Theo ông Christian Cabrol, Total có mối quan hệ tốt đẹp với Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) và cũng tham gia một số dự án thăm dò, khai thác dầu khí ở Việt Nam. Tuy nhiên, Total muốn mở rộng hoạt động đầu tư ở Việt Nam, không chỉ trong lĩnh vực điện, mà còn là trong cả lĩnh vực khí thiên nhiên hóa lỏng. Total muốn xây dựng một số hạ tầng cảng để tiếp nhận khí hóa lỏng.

Ngoài các kế hoạch trên, thông tin cho biết, Total cũng rất quan tâm đến kế hoạch bán 30% cổ phần cho đối tác chiến lược nước ngoài vào năm 2020 của Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas). Hiện tại, sở hữu nước ngoài tại PV Gas chỉ là 3,31% và tổng công ty này đang muốn giảm tỷ lệ nắm giữ cổ phần của Nhà nước từ 95% hiện tại xuống còn 65% trong năm 2020.

Xem ra, ông lớn Total đang có những kế hoạch lớn tại Việt Nam. Nếu những kế hoạch này trở thành hiện thực, Việt Nam sẽ có cơ hội nhận được một khoản đầu tư lớn từ một trong những tập đoàn hàng đầu châu Âu.

Nguyên Đức

Kỳ vọng bước phát triển mới của ngành công nghiệp hỗ trợ

Kỳ vọng bước phát triển mới của ngành công nghiệp hỗ trợ

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ngay từ đầu năm, Thủ tướng Chính phủ đã giao các bộ, cơ quan chuẩn bị nội dung, chương trình để tổ chức các Hội nghị này, với mục tiêu thúc đẩy các lĩnh vực hết sức quan trọng với sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Hội nghị lớn lần này nhằm xác định rõ những vấn đề của CNHT, các giải pháp cần thực hiện, không chỉ nhằm thúc đẩy CNHT mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt Nam.

Thời điểm “bản lề” của nền kinh tế

Có thể là sự kiện cuối cùng trong chuỗi các hội nghị chuyên đề trong năm nay, Hội nghị về phát triển CNHT được tổ chức trong bối cảnh khá đặc biệt.

Về vĩ mô, nền kinh tế Việt Nam năm 2018 tiếp tục tăng trưởng ngoạn mục. Việt Nam giờ đã là một “công xưởng lớn” của thế giới và là một điểm tựa cho nhiều tập đoàn lớn xuyên quốc gia cung ứng sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh tại khu vực và trên toàn cầu.

Bên cạnh đó, sự lớn mạnh của nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân của Việt Nam cũng cho thấy môi trường kinh doanh của Việt Nam hoàn toàn có thể ươm mầm nên những doanh nghiệp (DN) lớn, có tầm cỡ và khả năng cạnh tranh, là đối tác xứng tầm của các tập đoàn quốc tế.

Riêng trong năm 2018, một trong những sự kiện rất được chú ý là việc một DN lớn hàng đầu Việt Nam triển khai dự án sản xuất ô tô với những bước đi rất nhanh nhưng không kém phần bài bản.

Trong bối cảnh đó, vấn đề phát triển ngành CNHT cho sản xuất ô tô, xe máy nói riêng và ngành CNHT nói chung, đã được nhắc đến từ lâu nay một lần nữa được thảo luận sôi nổi tại nhiều diễn đàn.

Theo số liệu của Bộ Công Thương, số DN đang hoạt động trong CNHT hiện chiếm gần 4,5% tổng số DN của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; tạo việc làm cho hơn 550.000 lao động. Hiện nay, DN sản xuất linh kiện Việt Nam có năng lực khá tốt tại một số lĩnh vực. Tuy nhiên, nhìn chung, ngành CNHT tại Việt Nam vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của cả nhà quản lý và các DN.

Ông Idei Ippei, nghiên cứu cấp cao của Tổ chức Thúc đẩy ngoại thương Nhật Bản (JETRO) dẫn kết quả khảo sát của JETRO trong năm 2017 cho biết, tỷ lệ cung ứng nội địa ở Việt Nam là 33,2%, thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan. Trong đó, tỷ lệ cung ứng từ DN nội địa Việt Nam chỉ đạt trên 13%, trong khi Trung Quốc là 40%, Thái Lan gần 24%…

Trong khi đó, nhu cầu tìm kiếm nguồn cung ứng tại chỗ của các DN Nhật Bản là rất lớn. Khoảng 80%  DN được khảo sát gần đây cho biết, sẽ nâng cao tỷ lệ nội địa hóa lên, đồng thời 64% DN Nhật Bản cũng mong muốn tăng tỷ lệ cung ứng nội địa để rút ngắn thời gian giao hàng.

Riêng trong lĩnh vực ô tô, theo ông Phạm Tuấn Anh, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), thị trường CNHT ngành sản xuất ô tô đã hình thành và phát triển, bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu một số DN lắp ráp ô tô ở Việt Nam.

Mặc dù vậy, nhìn chung, chất lượng sản phẩm phụ tùng linh kiện ô tô cung ứng trên thị trường còn kém. Đa số DN nội về CNHT chỉ cung ứng sản phẩm cho lắp ráp ô tô trong nước. Tỷ lệ nội địa hóa đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi đạt thấp, đạt bình quân khoảng 7 – 10%. Hơn 90% linh kiện, phụ tùng ô tô lắp ráp hiện nay vẫn do các công ty mẹ hoặc từ công ty xuyên quốc gia  ở nước ngoài cung cấp. Trong khi, để làm một chiếc ô tô phải cần từ 30.000-40.000 linh kiện.

Chính sách vẫn cần hoàn thiện

Nhìn từ phía cơ chế, chính sách, hơn 10 năm qua, Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành nhiều quy định nhằm thúc đẩy CNHT phát triển. Điển hình như Nghị định số 111 năm 2015 của Chính phủ về phát triển CNHT; Quyết định 68 năm 2017 của Thủ tướng về việc phê duyệt chương trình phát triển CNHT từ 2016 – 2025…

Mới đây, Quyết định 598/QĐ-TTg của Thủ tướng phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành công nghiệp giai đoạn 2018 – 2020, xét đến năm 2025 cũng nêu yêu cầu tập trung phát triển CNHT trong ngành điện tử, cơ khí, dệt may, da giày; lựa chọn mô hình thí điểm hỗ trợ một số DN CNHT trong lĩnh vực dệt may, da giày, linh kiện điện tử, ô tô…

Thế nhưng, theo các chuyên gia, cơ chế, chính sách cho lĩnh vực này vẫn cần hoàn thiện. Chẳng hạn, chính sách thu hút các DN FDI chưa gắn với các ràng buộc về trách nhiệm phát triển hệ thống nhà cung ứng nội địa tại Việt Nam. Hơn nữa, CNHT có mối liên hệ hữu cơ với các ngành sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, tuy nhiên chính sách tạo ra các liên kết giữa các DN này và các DN CNHT chưa được hình thành…

Theo lãnh đạo một DN đang ráo riết triển khai tham vọng sản xuất ô tô, để phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước, phải có sự phối hợp nhuần nhuyễn của toàn bộ ngành CNHT trong nước, trong đó, phải có DN dẫn đầu, đầu ngành và một mạng lưới, hệ thống các DN bao quanh, cung cấp linh kiện, sản phẩm cho các DN lớn. Bản thân DN này hướng đến xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các DN hỗ trợ tại Việt Nam nhằm xây dựng phát triển đồng bộ ngành CNHT.

Từ góc độ địa phương, ông Tạ Đăng Đoan Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bắc Ninh cho biết chỉ riêng các nhà máy lắp ráp điện thoại của Sam sung, Nokia, máy in của Canon đòi hỏi tới hàng trăm nhà sản xuất cung cấp linh kiện, nhưng Bắc Ninh mới có khoảng trên 130 DN hỗ trợ sản xuất linh kiện, bảng mạch, phụ kiện, chi tiết cung cấp cho các DN lắp ráp và hoàn thiện sản phẩm điện tử, tạo ra 11,3% giá trị sản xuất công nghiệp.

Theo ông Đoan, CNHT phát triển sẽ tạo điều kiện cho ngành công nghiệp phát triển, là nhân tố quan trọng góp phần thu hút đầu tư trong và ngoài nước.

Muốn đi xa hãy đi cùng nhau

Ông Phan Hữu Thắng – nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài cho rằng, ngành CNHT của Việt Nam kém phát triển sẽ gây khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 cũng như gia tăng giá trị cho ngành công nghiệp Việt Nam.

Ông Thắng cho rằng các chính sách phát triển CNHT tại Việt Nam hiện nay đã ban hành tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng cách từ chính sách đi đến thực tiễn. Do đó, trong thời gian tới, cần quan tâm nhiều hơn nữa đến khâu tổ chức thực hiện các chính sách này, với sự quyết liệt vào cuộc của các bộ, ngành. Đặc biệt, là các chính sách, giải pháp liên quan đến nâng cao năng lực sản xuất của các DN để từng bước có khả năng tham gia sâu hơn vào dây chuyền sản xuất CNHT, phát triển nguồn nhân lực.

Theo Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đã có những bước cải thiện đáng kể. Thế nhưng, chúng ta chưa có nhiều thương hiệu Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao, đạt đẳng cấp quốc tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực quan trọng như ô tô, xe máy điện, điện tử, chế biến nông thủy sản và các ngành dịch vụ chất lượng.

Thời gian qua, Thủ tướng đã nhiều lần nhắc tới khát vọng thịnh vượng, khát vọng vươn lên với tinh thần đột phá, dám nghĩ, dám làm, đổi mới, sáng tạo, quyết liệt, hành động. Thủ tướng cũng nhắc tới khát vọng của người dân Việt Nam, của mọi DN Việt Nam về xây dựng các thương hiệu sản phẩm Việt chất lượng cao để phát triển kinh tế tự cường trong điều kiện hội nhập quốc tế.

Người đứng đầu Chính phủ đã nhiều lần nhắn nhủ các DN, “muốn đi nhanh hãy đi một mình, nhưng muốn đi xa hãy đi cùng nhau”. Được tổ chức vào một thời điểm mang tính bản lề, Hội nghị nói trên với những giải pháp, quyết sách mới được kỳ vọng sẽ giúp ngành CNHT của Việt Nam có bước tiến rõ rệt trong thời gian tới, qua đó nâng cao năng lực ngành công nghiệp và nền kinh tế Việt Nam.

Theo Hà Chính/baochinhphu.vn

Tăng tốc xuất khẩu

Nếu như cách đây khoảng 10 năm, giai đoạn 2007-2008, “câu lạc bộ xuất khẩu tỷ đô” chỉ điểm tên một số mặt hàng như: Dệt may, da giày, thủy sản… với kim ngạch khá khiêm tốn, thì hiện nay, số mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD đã nhiều hơn.

Tính đến nay, các nhóm hàng điện thoại, dệt may, máy móc thiết bị, máy vi tính, máy ảnh, giày dép, sắt thép, gỗ, phương tiện vận tải và sản phẩm từ sắt thép…vẫn dẫn đầu trong việc mang lại nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế. Cụ thể, điện thoại các loại và linh kiện tính đến hết tháng 11/2018, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 46,2 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là các sản phẩm hàng dệt may với kim ngạch xuất khẩu đạt 27,7 tỷ USD trong 11 tháng, tăng 17,1%, tương ứng tăng 4,05 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước…

Tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực chủ yếu vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, như điện thoại và linh kiện, điện tử, máy tính và linh kiện, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng ,hàng dệt may. Ngoài các mặt hàng có yếu tố vốn ngoại trên, một số mặt hàng nông sản, thủy sản cũng tăng trưởng khá. Khối lượng gạo xuất khẩu 11 tháng ước đạt 5,7 triệu tấn với 2,9 tỷ USD, tăng 5,6% về khối lượng và tăng 17,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản dự báo năm 2018, gạo xuất khẩu giữ vững đà tăng trưởng, kỳ vọng có thể đạt 6,15 triệu tấn với kim ngạch đạt 3,15 tỷ USD, tăng 5,7% về lượng và 19,6% về trị giá so với năm 2017.

Có được các kết quả sáng trong xuất khẩu cũng là nhờ phần nỗ lực kêu gọi đầu tư nước ngoài  trong thời gian qua. Hiện nay, các doanh nghiệp điện tử, công nghệ thông tin lớn nhất thế giới đã có mặt tại Việt Nam, đóng góp lớn vào xuất khẩu. Tuy nhiên, có nhận định cho rằng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này sẽ giảm dần vào cuối năm do nhiều nguyên nhân.

Theo Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh, trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc, Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Do vậy, cần định hướng nâng cao chiến lược xuất nhập khẩu theo hướng bền vững, trong đó tăng trưởng xuất khẩu cả về chiều rộng và chiều sâu.

Thời gian qua, các cơ quan quản lý cũng cố gắng tạo nhiều điều kiện cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư, đặc biệt không hồi tố về chính sách để doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất. Giới chuyên gia cho rằng, khi cơ quan quản lý cải cách thủ tục hành chính, không chỉ là đơn giản hơn, minh bạch hơn mà còn phải hướng đến một nền hành chính phục vụ, nền hành chính văn minh. Do đó, bên cạnh việc tự rà soát, thì việc lắng nghe và tiếp thu ý kiến của người dân và cộng đồng doanh nghiệp là điều vô cùng cần thiết.

Hồ Hương

Ngân hàng Nhà nước liên tiếp tăng giá USD

Tỷ giá trung tâm được ngân hàng nhà nước công bố sáng nay tiếp tục tăng lên mức 22.787 đồng. Bên cạnh đó giá vàng trong nước cũng trên đà phục hồi trở lại.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Mở cửa lúc 8h30 sáng 18/12, giá vàng miếng trong nước được Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức mức 36.32 – 36.42 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá  này tăng 10.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với  phiên giao dịch hôm qua 17/12.

Công ty Phú Quý niêm yết vàng miếng SJC với mức giá 36.33 – 36.43 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này tăng 20.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 17/12. Vàng 24K niêm yết ở mức 35.05 – 35.65 triệu đồng/lượng, tăng 100.000 đồng/lượng so với phiên giao dịch hôm qua 17/12.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36.28 – 36.46 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này không có thay đổi ở chiều mua vào và tăng 20.000 đồng/lượng ở chiều bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 17/12.

Giá vàng thế giới đã tăng trở lại sau năm phiên liên tiếp giảm giá trong hai tuần qua. Theo đó, đầu giờ sáng 18/12 (theo giờ Việt Nam), giá vàng thế giới ở mức 1246.8 – 1247.3 USD/ounce (mua vào – bán ra), tăng 9,6 USD/ounce ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 17/12.

Trên thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ áp dụng ngày 18/12 là 22.787 VND, tăng 4 đồng/USD so với phiên giao dịch hôm qua 17/12.

Tỷ giá trung tâm lại lập kỷ lục mới với mức 22.787 đồng. Cạnh đó, giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng đồng loạt tăng mạnh trong phiên sáng nay.

Ngân hàng Tiên Phong niêm niêm yết ở mức 23.270 – 23.370 đồng/USD (mua vào – bán ra), tăng 25 đồng/USD ở chiều mua vào và tăng 23 đồng/USD ở chiều bán ra so với phiên giao dịch hôm qua 17/12

Giá USD tại ngân hàng Vietcombank (hội sở chính) mức niêm yết 23.270 – 23.360 đồng/USD (mua vào – bán ra), tănn 15 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với phiên giao dịch trước đó 17/12.

Sáng nay, tỷ giá trung tâm lại tiếp tục tăng, kéo theo giá giao dịch USD cũng tăng mạnh, đây là tín hiệu tốt cho thị trường USD phục hồi. Bên cạnh đó, giá vàng miếng trong nước cũng tăng nhanh trong hai phiên giao dịch gần đây.

Theo các chuyên gia, thị trường vàng và USD nước ta tuần qua có những biến động khó lường từ thị trường thế giới, tính tuần hoàn của thị trường cũng bị phá vỡ liên tục. Điều này khiến các nhà đầu tư rất khó khăn trong việc nắm bắt cơ hội đầu tư chớp nhoáng như trước đây.

Giá vàng trong nước bật tăng, chênh lệch với thế giới chưa đầy 1,4 triệu đồng/lượng

Sáng 18/12, cả giá vàng miếng SJC và Doji đều bật tăng từ 20-30 nghìn đồng/lượng khi giá vàng thế giới tăng mạnh trước buổi họp chính sách tiền tệ quan trọng của Fed.

Giá vàng trong nước bật tăng, chênh lệch với thế giới chưa đầy 1,4 triệu đồng/lượng

Ảnh minh họa.

Khảo sát lúc 8h30 sáng nay (18/12) giá vàng miếng SJC tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đang niêm yết ở mức 36,28 – 36,46 triệu đồng/lượng, tăng 30 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với sáng hôm qua (17/12).
Chênh lệch giá mua – bán vẫn ở mức 180 nghìn đồng/lượng.
Tương tự, Tập đoàn Doji đang niêm yết giá vàng miếng ở mức 36,32 – 36,42 triệu đồng/lượng, tăng 20 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào – bán ra.

 Diễn biến giá vàng giao ngay trên thị trường New York. Biểu đồ: Kitco 
Cùng thời điểm, giá vàng giao ngay trên sàn Kitco đang được niêm yết ở mức 1.246,7 USD/ounce, tăng 9,6 USD, tương đương gần 0,78% so với giá khảo sát sáng 17/12.
Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank sáng nay, hiện giá vàng thế giới khoảng 35,09 triệu đồng/lượng, rẻ hơn giá vàng SJC trong nước khoảng 1,37 triệu đồng/lượng.
Phiên giao dịch ngày thứ Hai đầu tuần, giá vàng giao kỳ hạn khi chỉ số đồng USD giảm giá, lợi suất trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ giảm và thị trường chứng khoán Mỹ đi xuống.
Đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Hai, trên thị trường New York, giá vàng giao kỳ hạn tháng 2/2019 tăng 10,4 USD/ounce tương đương 0,8% lên mức 1.251,8 USD/ounce.

HOÀNG HÀ

FDI của Hàn Quốc liên tục dẫn đầu trong 5 năm qua

Với tổng vốn FDI đăng ký hằng năm của Hàn Quốc luôn duy trì ổn định ở mức 7 – 9 tỉ USD liên tục trong 5 năm qua và đây là đối tác dẫn đầu đầu tư ổn định vào Việt Nam.

Theo Thứ trưởng Bộ KHĐT – Vũ Đại Thắng, Hàn Quốc hiện là đối tác FDI lớn nhất của Việt Nam với hơn 62 tỉ USD tổng vốn đầu tư đăng ký. Nếu tính cả một số dự án quy mô lớn đầu tư qua nước thứ 3, tổng vốn FDI Hàn Quốc tại Việt Nam đạt khoảng 70 tỉ USD.

Phần lớn các dự án tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế tạo, góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển, chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Các nhà đầu tư Hàn Quốc luôn nhạy bén, quyết định nhanh và quyết liệt triển khai nghiêm túc, tuân thủ pháp luật, thực hiện các dự án đầu tư đúng tiến độ và luôn có trách nhiệm với người lao động cũng như quan tâm đến các hoạt động xã hội.

FDI của Hàn Quốc liên tục dẫn đầu trong 5 năm qua

Trong 3 năm qua, sự cải thiện mạnh mẽ về môi trường đầu tư của Việt Nam cũng như quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước đã nổi lên của một số thương vụ M&A quan trọng của các đối tác Hàn Quốc tại Việt Nam. Trong đó, riêng năm 2018, tổng giá trị góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam dự kiến đạt khoảng 1,4 tỉ USD (tăng 50% so với năm 2017).

Đây là sự thay đổi quan trọng về mục tiêu đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam, có sự chuyển dịch từ các dự án sản xuất đơn thuần sang quan hệ hợp tác theo chiều ngang tiếp cận trực tiếp đến doanh nghiệp, thị trường trong nước.

Điều này chứng tỏ Việt Nam đang có sự chuyển mình tích cực trở thành đối tác và thị trường có độ trưởng thành đồng thời Việt Nam đã cam kết tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp FDI nói chung, doanh nghiệp Hàn Quốc nói riêng trong quá trình hợp tác, đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Theo Lao động

276 doanh nghiệp kết nối hải quan tự động

 Tổng cục Hải quan cho biết, đến đầu tháng 12, cả nước có 25/25 cục hải quan địa phương triển khai hệ thống hải quan tự động với 65 chi cục hải quan và 276 doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi.

Quản lý thủ tục Hải quan tự động là một bước tiến đưa khoa hoạc kỹ thuật vào đổi mới nền hành chính quốc gia. Ảnh minh họa: Internet

Quản lý thủ tục Hải quan tự động là một bước tiến đưa khoa hoạc kỹ thuật vào đổi mới nền hành chính quốc gia. Ảnh minh họa: Internet

Số lượng doanh nghiệp kết nối tập trung chủ yếu liên quan đến kinh doanh cảng biển, hãng tàu, địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung… Theo Tổng cục Hải quan, với số lượng doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng lớn tập trung trên nhiều địa bàn trong phạm vi toàn quốc nên Tổng cục Hải quan đã ưu tiên triển khai Hệ thống quản lý hải quan tự động trước cho những doanh nghiệp, đơn vị hải quan có tần suất giao dịch, lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn; mức độ sẵn sàng cao về hệ thống công nghệ thông tin; triển khai đồng bộ từ cảng đến các kho, bãi bảo đảm sự gắn kết giữa các khâu nghiệp vụ trong việc giám sát vận chuyển hàng hóa.

Hiện nay, Tổng cục Hải quan đang tập trung triển khai Hệ thống đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kho ngoại quan.

Xuân Yến

Ngành dầu khí: Cơ hội song hành cùng thách thức

Ngành dầu khí đang phải đối mặt với 4 thách thức cũng như có 4 cơ hội lớn để phát triển. Đó là đánh giá của các đại biểu tại tọa đàm “Dầu khí Việt Nam phát triển cùng đất nước” do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) vừa tổ chức.

  • Dầu khí Việt Nam phát triển cùng đất nước
Theo ông Nguyễn Hùng Dũng – thành viên Hội đồng thành viên PVN, mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức nhưng tổng sản lượng khai thác quy dầu của Tập đoàn 11 tháng năm 2018 đạt 22,1 triệu tấn, hoàn thành 96,8% kế hoạch năm. Sản lượng sản xuất điện, xăng dầu và đạm trong 11 tháng qua đều đạt chỉ tiêu đề ra. Tổng doanh thu toàn Tập đoàn 11 tháng đạt 542.344 tỷ đồng, vượt 2,2% kế hoạch năm. Đặc biệt, chỉ qua 11 tháng, Tập đoàn đã nộp ngân sách Nhà nước đạt hơn 108.122 tỷ đồng, vượt 46,5% kế hoạch năm 2018. Về lợi nhuận, tập đoàn đạt được 45,561 nghìn tỷ đồng, tăng 88% so với kế hoạch.

Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam Hồ Quang Lợi cho rằng, ngành dầu khí đang phải đối mặt với 4 thách thức lớn. Đó là một số vỉa dầu, mỏ dầu đang khai thác trong những năm qua đang có dấu hiệu cạn kiệt; cạnh tranh quốc tế và cạnh tranh trong chính lĩnh vực dầu khí rất gay gắt; tình hình thế giới, khu vực và nhất là tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, ngành dầu khí Việt Nam cũng đang có 4 cơ hội lớn. Đó là: Tiềm năng của ngành dầu khí còn rất lớn; PVN có truyền thống vẻ vang; thường xuyên nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước; sự năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân.
Để thúc đẩy ngành dầu khí thời gian tới, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho rằng, PVN cần hoàn thiện quy hoạch phát triển, tìm kiếm thăm dò khai thác có tính ổn định, khả thi. Bên cạnh đó, Tập đoàn cần xây dựng các danh mục dự án, kêu gọi đầu tư nước ngoài, hướng đến những nhà đầu tư lớn như Nga, Mỹ, Nhật Bản… Từ góc độ Chính phủ và các bộ, ngành, điều cần làm là rà soát các cơ chế hiện hành, điều chỉnh, bổ sung các cơ chế mới, đặc biệt là thành lập Ban chỉ đạo cấp quốc gia để có được tác động liên ngành; phát triển công nghiệp hỗ trợ, chế biến dầu khí, đa dạng sản phẩm để xuất khẩu. Ngoài ra, ngành cần có một cơ chế đầu tư ra nước ngoài sao cho đảm bảo duy trì nguồn thu, giữ vững vị thế và tiếp thu được các công nghệ mới…
Xác định được vị trí, vai trò quan trọng của ngành dầu khí, Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết chuyên đề về “Về định hướng Chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035”. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là cần khẩn trương thể chế hóa chủ trương của Đảng thành những biện pháp cơ bản, cụ thể hỗ trợ ngành dầu khí. Theo các chuyên gia, ngành dầu khí đòi hỏi phải có công nghệ, kỹ thuật cao, đầu tư rất lớn. Vì vậy, cần có sự quan tâm đầu tư nguồn lực tài chính cho ngành dầu khí nhiều hơn đặc biệt là trong việc tìm kiếm, thăm dò những mỏ dầu mới.
KHẮC KIÊN

Tỷ giá ngoại tệ ngày 17/12: Giá USD bật tăng mạnh

Sáng nay, giá USD tại nhiều ngân hàng ở Việt Nam bật tăng mạnh so với cuối tuần trước, trong khi chỉ số USD Index giảm nhẹ.

Lúc 8h20 hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.411 đồng/USD, ngang giá cuối tuần qua; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và CNY  ở mức 1 CNY đổi 3.306 VND, không đổi so với ngày hôm qua.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.783 đồng/USD, tăng 5 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.466 VND/USD và tỷ giá sàn là  23.100 VND/USD.

Tại nhiều ngân hàng thương mại, sáng nay, giá USD tăng mạnh so với cùng thời điểm cuối tuần trước. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.255-23.345 VND/USD, tăng 20 đồng mỗi chiều giao dịch; VietinBank niêm yết giá 23.260-23.350 đồng/USD, tăng 35 đồng mua vào, tăng 25 đồng bán ra; BIDV niêm yết giá 23.240-23.330 đồng/USD, không đổi.

Trên thị trường tự do, giá mua-bán USD hiện đang là 23.340-23.360 đồng/USD, tăng 20 đồng/USD mỗi chiều mua vào – bán ra.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng USD với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đang là 97,44 điểm, giảm nhẹ so với chốt phiên tuần trước 97,69 điểm, nhưng tăng so với cùng thời điểm sáng cuối tuần vừa qua 97,27 điểm./.

PV/VOV.VN

Dự báo giá vàng tuần 17-21/12: Chật vật trước cuộc họp của Fed

Mặc dù một kết cục u ám cho thị trường vàng năm 2018 đã được xác định, nhưng giới đầu tư vẫn đang chờ đợi sự kiện quan trọng cuối cùng vào thứ Tư tuần sau khi Fed đưa ra quyết định chính sách tiền tệ cuối cùng trong năm nay và đưa ra dự báo cho năm 2019.

Dự báo giá vàng tuần 17-21/12: Chật vật trước cuộc họp của Fed

Thị trường chờ đợi dự báo của Fed về năm 2019 trong cuộc họp tuần tới

7 trong số các nhà đầu tư chuyên nghiệp, tương đương 39%, trả lời khảo sát của Kitco News dự báo giá vàng sẽ tăng tuần tới. Trong khi, 7 người đoán giá giảm (39%) và 4 (22%) đoán giá đi ngang.

Trong khi đó, 291 nhà đầu tư nghiệp dư, chiếm 57% số được khảo sát, dự đoán giá vàng tăng tuần tới, 115 (23%) dự đoán giảm và 101 (20%) trung lập.

Kết quả khảo sát dự đoán giá vàng của Kitco News

Tuần qua, giá vàng đóng cửa ở dưới mức đỉnh 5 tháng thiết lập trong tuần trước đó. Hợp đồng tương lai vàng Comex giao tháng 2/2019 dừng ở mức 1.243,9 USD/ounce, giảm 0,69% so với cuối tuần trước.

Một số nhà phân tích nhận định, giá vàng sẽ phải chật vật để giữ đà tăng hiện tại khi năm mới sắp tới và đồng USD hưởng lợi từ sự suy giảm của đồng Euro và nhân dân tệ.

Theo Ole Hansen, Trưởng bộ phận chiến lược hàng hóa tại Saxo Bank, vàng đang bị mắc kẹt trong phạm vi hiện tại và bị cuốn vào sự giằng co giữa sự suy giảm của cổ phiếu và đà tăng mạnh của đồng USD. ‘Đối với nhà đầu tư vàng, tôi nghĩ chúng ta phải chờ xem sức mạnh đồng USD sẽ phát huy như thế nào trong năm mới’.

Chỉ số đồng USD đã chốt tuần qua gần đỉnh 1 năm, đạt 97,45 điểm, tăng 0,77% so với tuần trước, một phần đến từ đà lao dốc bất ngờ của đồng Euro. Do đồng Euro là một thành phần chính chiếm tỷ trọng cao trong chỉ số đồng USD.

Đà suy yếu của đồng USD bắt đầu mạnh hơn vào thứ Năm (ngày 13/12), sau khi Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Mario Draghi, nhấn mạnh tới những rủi ro ngày càng tăng đối với nền kinh tế châu Âu. Trước đó, ECB quyết định giữ nguyên lãi suất, và khẳng định sẽ ngừng chương trình mua tài sản hàng tháng vào cuối tháng 12.

Ông Draghi cho rằng những rủi ro xung quanh triển vọng tăng trưởng của khu vực đồng tiền chung có thể được được đánh giá là khá cân bằng. Tuy nhiên, cán cân rủi ro đang nghiêng về hướng tiêu cực khi những bất ổn địa chính trị kéo dài, mối đe dọa của chủ nghĩa bảo hộ, các lỗ hổng trong thị trường mới nổi và biến động trên thị trường tài chính.

Ngoài ra, ‘lãi suất thực 10 năm đang vượt mức 1%, mặc dù lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm xuống dưới ngưỡng 3%. Điều này là do kỳ vọng lạm phát ở dưới mốc 2% trong 10 năm, do đó loại bỏ những tác động tích cực từ mức lãi suất thấp tới giá vàng, đồng nghĩa với ‘một cơn gió thổi ngược khác’ đối với giá vàng trong ngắn hạn’, theo Richard Baker, biên tập viên của Eureka Miner Report.

Mặc dù một kết cục u ám cho thị trường vàng năm 2018 đã được xác định, nhưng giới đầu tư vẫn đang chờ đợi sự kiện quan trọng cuối cùng vào thứ Tư tuần sau khi Fed đưa ra quyết định chính sách tiền tệ cuối cùng trong năm nay và đưa ra dự báo cho năm 2019.

Thị trường phần lớn đều dự báo Fed sẽ tăng lãi suất lần nữa vào tuần tới. Tuy nhiên, điều họ mong đợi nhất là việc Fed dự báo về số lần nâng lãi suất vào năm 2019. Kỳ vọng Fed duy trì con đường thắt chặt đã giảm mạnh trong vài tháng qua. Hiện nay, thị trường cho rằng khả năng cao sẽ xảy ra 2 đợt nâng lãi suất năm tới, giảm từ dự báo 4 đợt ghi nhận hồi tháng 10.

Ông Hansen cho rằng, ‘Nếu Fed không thay đổi dự báo của mình xuống thấp hơn và thu hẹp khoảng cách với kỳ vọng của thị trường, thì sẽ rất khó để giá vàng tăng giá vào tuần tới’. Tuy nhiên, điều này không chắc chắn sẽ xảy ra trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ vẫn khỏe mạnh với dữ liệu bán lẻ mới nhất tích cực của tháng 11 mới được công bố.

An Nhiên

Kỷ lục mới: Xuất siêu hơn 7,4 tỷ USD trong 11 tháng

Thông tin chính thức từ dữ liệu thống kê vừa được Tổng cục Hải quan công bố cho thấy trị giá xuất siêu của nước ta đạt kỷ lục mới 7,411 tỷ USD.

Kỷ lục mới: Xuất siêu hơn 7,4 tỷ USD trong 11 tháng

Cụ thể, hết tháng 11 tổng trị giá xuất khẩu cả nước đạt 223,723 tỷ USD, trong khi đó trị giá kim ngạch nhập khẩu đạt 216,312 tỷ USD.

Trị giá xuất siêu 11 tháng qua vượt xa so với ước tính đưa ra mới đây của các nhà chuyên môn (ước tính xuất siêu 6,8 tỷ USD). Với tổng quy mô kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 440 tỷ USD trong 11 tháng qua, cộng với mức tăng trưởng 2 con số ở cả chiều xuất khẩu và nhập khẩu, nhiều khả năng tổng trị giá xuất nhập khẩu cả nước năm 2018 đạt khoảng 480 tỷ USD.

Hết tháng 11, cả nước có tới 27 nhóm hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên.

Số lượng nhóm hàng xuất khẩu “tỷ USD” không tăng so với cùng kỳ 2017 nhưng hầu hết các nhóm hàng chủ lực có trị giá tăng thêm với mức tăng trưởng 2 con số.

Trong 27 nhóm hàng “tỷ USD” có 5 nhóm đạt kim ngạch từ 10 tỷ USD trở lên gồm: Điện thoại đạt 46,203 tỷ USD, tăng 11,7%; dệt may đạt 27,697 tỷ USD, tăng 17,1%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 26,946 tỷ USD, tăng 13,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 15,128 tỷ USD, tăng 28,6%; giày dép đạt 14,647 tỷ USD, tăng 10,9%.

Về thị trường xuất khẩu, trong hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại với Việt Nam, có rất nhiều bạn hàng nước ta đạt được kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên.

Trong số đó có 4 thị trường có kim ngạch “chục tỷ USD” gồm: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Đây cũng là 4 đối tác thương mại lớn nhất của nước ta xét về tổng kim ngạch thương mại 2 chiều.
Trong đó Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 43,445 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ 2017.
Tiếp đến là Trung Quốc đạt 37,663 tỷ USD, tăng 21,7%. Trung Quốc cũng là thị trường có mức tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng nhất trong số 4 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.
Kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 17,3 tỷ USD, tăng 12,8%.
Kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 16,732 tỷ USD, tăng 23,7%.

Nguồn: Baohaiquan.vn

ST: Thủy Chung

Lĩnh vực sản xuất Việt Nam dẫn đầu ASEAN

Chỉ số nhà quản trị mua hàng PMI (Purchasing Managers Index) tháng 11/2018 của Việt Nam do Nikkei – IHS Markit (Công ty dịch vụ tài chính độc lập toàn cầu) mới công bố cho thấy số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh, từ mức 53,9 điểm của tháng 10/2018 lên 56,5 điểm trong tháng 11. Đây cũng là mức cao kỷ lục kể từ tháng 3/2011 đến nay, đứng đầu các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Lĩnh vực sản xuất Việt Nam dẫn đầu ASEAN

Chỉ số PMI tháng 11/2018 của Việt Nam dẫn đầu các nước Đông Nam Á, điều này cho thấy nền sản xuất của Việt Nam phát triển lạc quan. Ngoài Việt Nam, những nước có chỉ số PMI tăng trong tháng 11 là Philippines, Myanmar và Indonesia. Ngược lại, ngành sản xuất của Thái Lan, Malaysia, và Singapore đều chứng kiến sự sụt giảm chỉ số PMI.
Theo IHS Markit, số lượng đơn đặt hàng mới của ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 11/2018 tăng mạnh và kéo theo sự lạc quan của các doanh nghiệp (DN), dù năng lực sản xuất đang chịu những áp lực vì sự tăng trưởng lượng công việc tồn đọng. Để đáp ứng khối lượng công việc lớn hơn, các công ty sản xuất nhanh chóng tuyển thêm nhân viên, giúp tốc độ tạo việc làm mới đạt mức cao. Bên cạnh đó, số lượng đơn hàng mới tăng nhanh cũng khiến nhiều DN tăng lượng hàng tồn kho đối với cả hàng hóa đầu vào và hàng thành phẩm.
IHS Markit cũng chỉ ra một điểm đáng lưu ý với ngành sản xuất Việt Nam khi giá nguyên vật liệu làm chi phí đầu vào tiếp tục tăng trong tháng 11/2018 với mức cao nhất trong 3 tháng trở lại đây. Gánh nặng chi phí buộc các nhà sản xuất phải tăng giá bán hàng.
Chỉ số PMI là một trong những thước đo quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế sản xuất mỗi quốc gia và được đánh giá trên 5 tiêu chí gồm số lượng đơn đặt hàng mới, sản lượng, việc làm, thời gian giao hàng của nhà cung cấp và tồn kho các mặt hàng mua. Kết quả chỉ số PMI dưới 50.0 cho thấy nền kinh tế sản xuất nhìn chung giảm sút; trên 50.0 là phát triển. Kết quả chỉ số 50.0 là không có sự thay đổi. Mức chênh lệch so với 50.0 càng lớn thì tốc độ thay đổi mà chỉ số báo hiệu sẽ càng lớn. Chỉ số PMI ngành sản xuất tại Việt Nam được xây dựng trên dữ liệu thu thập hàng tháng từ các nhà quản trị mua hàng tại khoảng 400 DN sản xuất Việt Nam.
Nguồn: Thanh Thanh/Báo Công Thương điện tử
ST: Hương Nguyễn

Xuất khẩu thủy sản 11 tháng đầu năm đạt 8,03 tỷ USD

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản sau khi tăng tương đối tốt 13% trong tháng 10/2018 thì sang tháng 11/2018 giảm trở lại 9,1%, đạt 799,05 triệu USD; nâng tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước 11 tháng đầu năm 2018 lên trên 8,03 tỷ USD, tăng 5,6% so với 11 tháng đầu năm 2017.

Xuất khẩu thủy sản 11 tháng đầu năm đạt 8,03 tỷ USD

Có 3 thị trường đạt kim ngạch trên tỷ USD đó là: Mỹ, EU và Nhật Bản; trong đó, xuất sang Mỹ đạt 1,48 tỷ USD, chiếm 18,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước, tăng trên 14% so với cùng kỳ năm 2017. Xuất khẩu sang EU đạt 1,31 tỷ USD, chiếm 16,4%, tăng 1,7%. Xuất sang Nhật Bản chiếm 15,8%, đạt 1,27 tỷ USD, tăng 6,7%.

Ngoài ra, một số thị trường cũng đạt kim ngạch lớn như: Trung Quốc đạt 910,43 triệu USD, chiếm 11,3%, giảm 9,8%; Hàn Quốc đạt 785,66 triệu USD, chiếm 9,8%, tăng 11,3%. Xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á nói chung đạt 615,59 triệu USD, chiếm 7,7%, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong 11 tháng đầu năm nay, có 67% số thị trường xuất khẩu thủy sản đạt mức tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, còn lại 33% số thị trường sụt giảm kim ngạch. Thị trường Campuchia đứng đầu về mức tăng trưởng, tăng 75,8%, đạt 23,2 triệu USD. Xuất khẩu sang U.A.E cũng tăng rất tốt 66,5%, đạt 69,49 triệu USD; Ấn Độ tăng 44,3%, đạt 25,92 triệu USD; Ai Cập tăng 44,7%, đạt 42,21 triệu USD; Brunei tăng 35,3%, đạt 1,54 triệu USD.

Tuy nhiên, xuất khẩu thủy sản sang Saudi Arabia lại giảm rất mạnh 76,5%, chỉ đạt 14,16 triệu USD. Xuất khẩu còn giảm mạnh ở một số thị trường: Séc giảm 46%, đạt 4,92 triệu USD; Đan Mạch giảm 31,59%, đạt 42,13 triệu USD; Indonesia giảm 24,4%, đạt 3,78 triệu USD.

So với cùng kỳ năm 2017, xuất khẩu tôm trong tháng 11/2018 tiếp tục giảm trên 19% xuống 290 triệu USD; nâng tổng kim ngạch xuất khẩu tôm 11 tháng lên gần 3,3 tỷ USD, giảm 7% so với cùng kỳ.

Xuất khẩu tôm chân trắng 11 tháng đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 69%, giảm gần 3%; xuất khẩu tôm sú chiếm 23% tương đương 745 triệu USD, giảm gần 8%. VASEP dự báo xuất khẩu tôm hết năm nay đạt khoảng 3,6 tỷ USD, giảm 5% so với năm 2017.

Xuất khẩu cá tra duy trì tăng trưởng khả quan 32% trong tháng 11/2018 đạt 212 triệu USD, đưa kết quả 11 tháng đầu năm lên trên 2 tỷ USD. Theo VASEP, xu hướng tăng này sẽ vẫn tiếp tục trong những tháng tới và dự báo sẽ đạt tổng giá trị trên 2,2 tỷ USD trong cả năm 2018, tăng 22% so với năm 2017.

Xuất khẩu cá ngừ, mực bạch tuộc và các hải sản khác có chiều hướng tăng trong thời điểm cuối năm, trong đó cá ngừ vẫn tăng 11% trong tháng 11. Mực, bạch tuộc tăng 30% đạt tương ứng 60 triệu USD và 67 triệu USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu cá ngừ và mực, bạch tuộc 11 tháng đạt tương ứng 600 triệu USD và 609 triệu USD, tăng lần lượt 11% và 7% so với cùng kỳ năm ngoái. Mỗi sản phẩm này dự kiến sẽ đem lại kim ngạch xuất khẩu 660 – 680 triệu USD trong năm nay.

Xuất khẩu thủy sản 11 tháng đầu năm 2018

ĐVT: USD

Thị trườngT11/2018+/- so với T10/2018 (%) *11T/2018+/- so với cùng kỳ (%) *
Tổng kim ngạch XK799.047.124-9,118.030.664.7865,63
Mỹ165.195.915-6,971.484.839.38014,04
Nhật Bản141.344.5144,471.270.316.1186,71
Trung Quốc90.690.794-16,52910.431.944-9,76
Hàn Quốc84.510.708-6,1785.662.27811,25
Anh24.085.917-31,18290.825.68813,58
Hà Lan17.670.799-18,37275.200.4990,76
Thái Lan28.634.9500,64269.853.97918,63
Canada18.733.957-31,4218.186.4296,7
Đức16.556.030-7,19178.653.2705,62
Australia17.375.572-11,94177.438.1047,65
Hồng Kông (TQ)14.897.731-12,6172.054.43919,11
Bỉ10.764.519-4,54137.097.287-6,72
Italia6.697.228-36,52109.516.209-20,57
Philippines7.719.690-37,75109.071.730-7,92
Malaysia11.669.5763,72104.224.17711,75
Singapore10.065.6515,16103.923.43514,47
Đài Loan (TQ)10.821.1571,93102.398.534-0,9
Pháp7.935.647-13,7598.427.9671,65
Mexico11.009.98026,5798.187.099-10,68
Israel7.634.53137,5888.126.73431,65
Nga6.159.860-35,3977.915.603-12,9
Brazil9.728.412-12,5877.583.570-18,45
Tây Ban Nha5.204.743-50,7573.743.72229,04
U.A.E3.131.538-26,5869.492.41966,48
Colombia6.036.189-12,6859.256.32417,38
Bồ Đào Nha4.256.067-25,7456.057.39329,14
Ai Cập4.222.3110,7642.213.73644,71
Đan Mạch3.451.722-31,2242.133.430-31,51
Thụy Sỹ2.278.990-7,6329.387.374-22,17
Ấn Độ2.091.621-8,8825.919.84844,32
Pakistan5.030.67352,2925.328.1124,27
Campuchia1.955.316-8,5523.202.78175,77
Ba Lan1.432.202-59,7823.001.06327,88
New Zealand2.379.115-7,4818.395.97013,63
Ukraine1.842.380-9,316.539.78013,04
Thụy Điển1.406.08747,8515.422.8066,1
SaudiArabia -10014.159.864-76,49
Iraq946.90148,998.964.329-3,41
Thổ Nhĩ Kỳ424.864-3,567.772.0820,08
Kuwait806.44862,737.641.687-2,27
Hy Lạp488.652-4,687.543.4711,24
Romania568.268-48,057.171.60714,95
Séc128.679-73,594.915.919-46,02
Indonesia396.13225,363.776.384-24,35
Brunei243.325109,381.537.31635,34

(Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Thủy Chung

Giá vàng, tỷ giá 13/12/2018: Vàng giảm mạnh xuống 36,37 triệu đ/lượng

Giá vàng thế giới tiếp tục tục tăng mạnh do đồng USD giảm trở lại; ngược lại vàng  trong nước vẫn trong xu hướng giảm mạnh, SJC còn 36,37 triệu đồng/lượng.

Giá vàng, tỷ giá 13/12/2018: Vàng giảm mạnh xuống 36,37 triệu đ/lượng

Giá vàng trong nước giảm mạnh

Vào thời điểm lúc 11h30 giá vàng SJC của Công ty vàng bạc đá quý Sài gòn SJC tại Hà Nội mua vào 36,19 triệu đồng/lượng – bán ra 36,37 triệu đồng/lượng (giảm 70.000 đ/lượng so với cuối giờ chiều hôm qua ở cả chiều mua vào và bán ra).

Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng SJC tại Hà Nội ở mức mua vào 36,20 triệu đồng/lượng – bán ra 36,30 triệu đồng/lượng (giảm 50.000 đ/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra).

Giá vàng SJC niêm yết tại Phú Quý SJC mua vào 36,20 triệu đồng/lượng – bán ra 36,29 triệu đồng/lượng (giảm 60.000 đ/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra).

Giá vàng SJC niêm yết tại Bảo Tín Minh Châu mua vào 36,21 triệu đồng/lượng (giảm 40.000 đ/lượng) – bán ra 36,28 triệu đồng/lượng (giảm 50.000 đ/lượng).

Giá vàng thế giới tăng

Sáng 13/12/2018 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.246 USD/ounce. Giá vàng giao tháng 2 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.249 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay thấp hơn 4,3% (56,5 USD/ounce) so với cuối năm 2017. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 34,5 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 1,9 triệu đồng/lượng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới tiếp tục treo cao, ở gần mức đỉnh 5 tháng do đồng USD suy yếu trở lại đôi chút và sức cầu vàng ở mức khá lớn. Giá vàng trong nước thấp do giá USD tự do và ngân hàng giảm.

Vàng thế giới trụ ở mức cao chủ yếu do đồng USD giảm trở lại và quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust vẫn đang tăng lượng vàng nắm giữ. Tính tới ngày 11/12, lượng vàng do quỹ nắm giữ đã tăng 0,43% lên 763,56 tấn, mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2018.

Vàng tăng giá trong bối cảnh nhiều thị trường tài chính bất ổn và có triển vọng không rõ ràng. Các thị trường chứng khoán biến động lên xuống thất thường do giới đầu tư gặp khó khăn trong việc đánh giá triển vọng của các nền kinh tế.

Triển vọng kinh tế thế giới khó lường do Mỹ và Trung Quốc vẫn đang đẩy mạnh đàm phán và cuộc chiến thương mại giữa 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn chưa có hồi kết.

Tại châu Âu, thỏa thuận Anh rút ra khỏi Liên minh châu Âu (Brexit) vẫn chưa ngã ngũ. EU khẳng định quan điểm cứng rắn, trong khi thủ tướng Anh vẫn chưa có cách nào để có được một phương án dung hòa giữa các bên.

Vàng treo cao còn do giới đầu tư đánh cược xu hướng đồng USD tăng giá đã chấm dứt.

Một số đại diện Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), gồm cả Chủ tịch Jerome Powell, đã phát đi tín hiệu sẽ căn cứ vào dữ liệu kinh tế khi đưa ra quyết định tiếp theo về chính sách tiền tệ. Đây là tín hiệu cho thấy, nhiều khả năng lãi suất trong năm 2019 và 2020 sẽ không tăng lên nhiều.

Tỷ giá VND/USD giảm

Tỷ giá trung tâm ngày hôm nay giảm nhẹ so với hôm qua. Ngày 13/12/2018 Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ ở mức: 22.773 đồng (giảm 2 đồng). Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 22.700 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.408 đồng (không đổi).

Các ngân hàng thương mại, sáng nay, lúc 9h10 giá mua – bán USD như sau: Ngân hàng Vietcombank giá USD được niêm yết ở mức 23.245 – 23.335 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 10 đồng ở cả 2 chiều so với ngày hôm qua.

Tại BIDV, giá USD cũng đang được niêm yết ở mức 23.255 – 23.345 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 5 đồng ở cả 2 chiều.

Tại Vietinbank, giá đồng bạc xanh được niêm yết ở mức 23.240 – 23.340 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 5 đồng ở cả 2 chiều.

Tại ngân hàng Techcombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.230- 23.340 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 5 đồng ở cả 2 chiều.

Tại ngân hàng Eximbank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.230 – 23.330 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 10 đồng ở cả 2 chiều.

Ngân hàng Đông Á niêm yết giá đồng USD ở mức 23.250 – 23.330 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 10 đồng ở chiều mua vào.

Ngân hàng HSBC niêm yết giá đồng USD ở mức 23.245 – 23.345 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 5 đồng ở cả 2 chiều.

Ngân hàng Sacombank niêm yết giá đồng USD ở mức 23.249 – 23.326 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 9 đồng ở cả 2 chiều.

Tại ngân hàng MSB niêm yết giá đồng USD ở mức 23.245 – 23.335 VND/USD (mua vào – bán ra), giảm 15 đồng ở chiều mua vào và giảm 5 đồng ở chiều bán ra.

09h30 giá USD tự do niêm yết ở mức mua vào là 23.320 đồng/USD và bán ra là 23.330 đồng/USD, giảm 10 đồng ở chiều mua vào và giảm 20 đồng ở chiều bán ra so với chiều ngày hôm qua.

Nguồn: VITIC/Vietnamnet.vn

Thủy Chung – Vinanet

TT ngoại tệ ngày 13/12/2018: Tỷ giá trung tâm, USD quốc tế đồng loạt giảm, bitcoin tăng

    Tỷ giá trung tâm và giá USD tại các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm.

TT ngoại tệ ngày 13/12/2018: Tỷ giá trung tâm, USD quốc tế đồng loạt giảm, bitcoin tă

*Đồng USD trên thị trường thế giới giảm trở lại sau phiên tăng vọt. Giới đầu tư tin tưởng đồng bạc xanh đã hết xu hướng tăng giá.
*Giá bitcoin hôm nay tăng nhẹ, vượt qua mốc 3.400 USD và sẽ rất đáng chú ý nếu bitcoin vượt qua ngưỡng kháng cự mạnh trên 3.600 USD.
Ngày 13/12/2018 Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ ở mức: 22.773 đồng (giảm 2 đồng).

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN hiện mua vào ở mức 22.700 đồng (không đổi) và bán ra ở mức 23.408 đồng (không đổi).
Sáng nay, giá USD tiếp tục sụt giảm tại hầu hết ngân hàng được khảo sát. Cụ thể, Sacombank, VietinBank, VietcomBank và Techcombank giảm lần lượt 3 đồng, 4 đồng, 5 đồng và 10 đồng trên cả hai chiều; Agribank và Eximbank giữ nguyên tỷ giá niêm yết so với cuối ngày hôm qua. Trong các ngân hàng được khảo sát, BIDV là nhà băng duy nhất niêm yết tăng tỷ giá USD trong sáng nay với mức tăng 10 đồng trên cả hai chiều mua bán.
Tính đến 10h30, giá mua USD tại các ngân hàng dao động từ 23.225 – 23.255 VND/USD, trong khi bán ra từ 23.330 – 23.345 VND/USD.
Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN
Tỷ giá áp dụng cho ngày 13/12/2018
Ngoại tệTên ngoại tệMuaBán
USDĐô la Mỹ22.70023.406
EURĐồng Euro25.11126.664
JPYYên Nhật195207
GBPBảng Anh27.87829.603
CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.23723.612
AUDĐô la Úc15.94616.932
CADĐô la Canada16.53917.562
Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định trị giá tính thuế
Ngân hàng Nhà nước thông báo tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam so với một số ngoại tệ áp dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu có hiệu lực kể từ ngày 13/12/2018 đến 19/12/2018 như sau:
STTNgoại tệTên ngoại tệTỷ giá
1EURĐồng Euro25.785,86
2JPYYên Nhật200,73
3GBPBảng Anh28.537,08
4CHFPhơ răng Thuỵ Sĩ22.947,1
5AUDĐô la Úc16.409,39
6CADĐô la Canada17.026,76
7SEKCuron Thuỵ Điển2.498,05
8NOKCuron Nauy2.652,82
9DKKCuron Đan Mạch3.454,95
10RUBRúp Nga342,48
11NZDĐô la Newzealand15.600,88
12HKDĐô la Hồng Công2.913,48
13SGDĐô la Singapore16.579,31
14MYRRingít Malaysia5.442,05
15THBBath Thái694,78
16IDRRupiah Inđônêsia1,56
17INRRupee Ấn độ316,32
18TWDĐô la Đài Loan737,77
19CNYNhân dân tệ TQuốc3.306,38
20KHRRiêl Cămpuchia5,67
21LAKKíp Lào2,67
22MOPPataca Macao2.831,65
23TRYThổ Nhĩ Kỳ4.251,37
24KRWWon Hàn Quốc20,18
25BRLRin Brazin5.833,91
26PLNĐồng Zloty Ba Lan5.998,47
Trên thị trường tự do, đà giảm của tỷ giá USD tiếp tục được nối dài trong sáng nay. Khảo sát lúc 10h30, giá USD được mua – bán ở mức 23.310 – 23.340 VND/USD; giá mua giảm 20 đồng và giá bán giảm 10 đồng so với cuối ngày hôm qua 12/12/2018.
Diễn biến giá USD trên thị trường tự do

 

Thê giới
Đầu phiên giao dịch ngày 13/12/2018 (giờ Việt Nam), trên thị trường thế giới, tỷ giá ngoại tệ biến động mạnh. Chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 97,24 điểm.
USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1344 USD; 113,39 yen đổi 1 USD và 1,2579 USD đổi 1 bảng Anh.
Đêm qua, đồng USD trên thị trường quốc tế giảm trở lại sau phiên tăng vọt. Giới đầu tư tin tưởng đồng bạc xanh đã hết xu hướng tăng giá. USD trong nước và ngân hàng đều giảm sâu.
Đồng USD giảm giá chủ yếu do những bất ổn tại châu Âu liên quan tới việc Anh rút khỏi Liên minh châu Âu EU (Brexit) chưa có diễn biến nào xấu thêm, trong khi tương lai của đồng tiền này không mấy sáng sủa khi mà Mỹ có thể ngưng tăng lãi suất.
Hiện tại, triển vọng kinh tế thế giới khó lường do Mỹ và Trung Quốc vẫn đang đẩy mạnh đàm phán và cuộc chiến thương mại giữa 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn chưa có hồi kết.
Tại châu Âu, thỏa thuận Anh rút ra khỏi Liên minh châu Âu (Brexit) vẫn chưa ngã ngũ. EU khẳng định quan điểm cứng rắn, trong khi thủ tướng Anh vẫn chưa có cách nào để có được một phương án dung hòa giữa các bên.
Giới đầu tư đánh cược xu hướng đồng USD tăng giá đã chấm dứt.
Một số đại diện Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), gồm cả Chủ tịch Jerome Powell, đã phát đi tín hiệu sẽ căn cứ vào dữ liệu kinh tế khi đưa ra quyết định tiếp theo về chính sách tiền tệ. Đây là tín hiệu cho thấy, nhiều khả năng lãi suất trong năm 2019 và 2020 sẽ không tăng lên nhiều.
Giá bitcoin hôm nay ghi nhận vào thời điểm 5h28 ở mức 3.42,52 USD, tăng 1,92% so với 24 giờ trước.
Trong 100 đồng tiền hàng đầu theo giá trị thị trường, có 80 đồng tiền tăng giá so với 24 giờ trước.
Trong top 10, có 8 đồng tiền tăng giá trong 24 giờ qua, hai đồng tiền giảm giá trong nhóm này là bitcoin cash và bitcoin SV, lần lượt giảm 1,29% và 0,71%.
Ripple tăng 1,99% lên 0,3079 USD, ethereum tăng 2,12% lên 91,29 USD. Tăng nhiều nhất trong top 10 là eos với mức tăng 7,33%.
Tổng giá trị thị trường tiền kĩ thuật số ghi nhận vào lúc 5h27 ở mức 110,66 tỉ USD, cao hơn 2,02 tỉ USD so với 24 giờ trước.
Khối lượng giao dịch 24 giờ của thị trường ghi nhận ở mức 11,56 tỉ USD, giảm 10,73% so với ngày 12/12/2018.

Hương Nguyễn

Vinanet

Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về công suất lắp đặt sản xuất xi măng

Theo Global Cement, tính đến tháng 12 năm 2018, Trung Quốc trở thành nhà sản xuất xi măng lớn nhất thế giới với công suất lắp đặt là 1.484 triệu tấn mỗi năm, tiếp theo là Ấn Độ và Việt Nam lần lượt 437 và 148 triệu tấn mỗi năm.

Mặc dù ngành xi măng Trung Quốc đang phải đối mặt với việc cắt giảm sản lượng, nhưng công suất dự kiến của quốc gia đông dân nhất thế giới này vẫn cao hơn tổng công suất của chín nước còn lại là 200 triệu tấn.

Theo thống kê, Việt Nam có tổng cộng 74 nhà máy sản xuất xi măng, hầu hết đều do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát hoặc sở hữu. Thực tế các nhà máy không hoạt động hết công suất lắp đặt, nhưng sản lượng sản xuất xi măng ở Việt Nam vẫn ở mức khá cao, và tình trạng dư thừa nguồn cung đã xuất hiện trong vòng vài năm trở lại đây.

Công suất lắp đặt (triệu tấn/năm) của các nước đứng đầu. Nguồn: Global Cement, VDSC.

Sản xuất xi măng ở Việt Nam đã tăng nhanh về sản lượng cũng như số công ty gia nhập ngành. Xét về tổng sản lượng thực tế, Việt Nam sản xuất được 78 triệu tấn trong năm 2017, con số này tăng lên 83 triệu tấn vào năm 2018 và dự kiến, tổng sản lượng sản xuất của các nhà máy năm 2019 sẽ đạt gần 90 triệu tấn.

Sản lượng sản xuất tăng cao, trong khi cầu không hấp thu được đã đẩy ngành vào tình trạng dư cung. Theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA), cả nước phải đối mặt với tình trạng dư thừa 26 triệu tấn xi măng trong năm 2017.

Lời giải cho bài toán dư cung chính là xuất khẩu, và thị trường lớn nhất chính là Trung Quốc, khi quốc gia này đã quyết định cắt giảm sản lượng xi măng nội địa 10% trong năm 2018.

Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2018, giá trị xuất khẩu xi măng Việt Nam đạt mức cao nhất trong 4 năm trở lại đây, lên mức 1,1 tỷ USD và còn sẽ tiếp tục tăng trong hai tháng cuối năm 2018.

 Giá trị xuất khẩu Clinker & Xi măng (tỷ USD) và Giá trị xuất khẩu Clniker & Xi măng. Nguồn: Tổng cục Hải quan, VDSC.

Tính đến giữa tháng 11 năm 2018, Trung Quốc là nhà nhập khẩu lớn nhất của xi măng Việt Nam, với khối lượng hơn 7,6 triệu tấn và giá trị đạt hơn 276 triệu USD. Bangladesh đứng thứ hai với khối lượng nhập gần 6 triệu tấn.

Tại khu vực Đông Nam Á, Philippines đã nhập khẩu 5,5 triệu tấn xi măng của Việt Nam trong 10 tháng đầu 2018.

Giá bán trung bình của xi măng Việt Nam thay đổi theo từng quốc gia đối tác. Các nước Đông Nam Á đang nhập khẩu xi măng với giá cao nhất. Cụ thể, Campuchia đang nhập khẩu xi măng từ Việt Nam với 51,6 USD / tấn và Philippines phải trả 46,4 USD cho mỗi tấn nhập khẩu. Trung Quốc, với sức mạnh đàm phá, chỉ dành 36,3 USD nhập khẩu một tấn xi măng từ Việt Nam.

Sản lượng và giá trị xuất khẩu theo các nước và  Giá xuất khẩu trung bình sang các nước (USD/tấn). Nguồn: Tổng cục Hải quan, VDSC

Trước đó, tháng 3 năm 2017, Trung Quốc đã cân nhắc cắt giảm 10% sản lượng than, thép và xi măng để kiểm soát ô nhiễm không khí. Xa hơn nữa, Trung Quốc cũng đề ra kế hoạch cấm mở rộng công suất các ngành công nghiệp nặng, bao gồm cả xi măng vào năm 2018. Vì vậy, sản phẩm xi măng Việt Nam tăng cơ hội bán hàng cho thị trường Trung Quốc.

Hiền Anh

Tỷ giá ngoại tệ 12.12: USD thế giới tăng ngược thị trường chợ đen

Tỷ giá ngoại tệ hôm nay đồng USD trên thị trường quốc tế bất ngờ quay đầu tăng, trong khi đó giá USD chợ đen giảm khá mạnh, bảng Anh tụt dốc.

Ảnh minh hoạ.

Giá vàng hôm nay 12/12: Vàng treo cao bất chấp USD tăng dốc

Giá vàng hôm nay 12/12 trên thế giới tiếp tục treo quanh đỉnh 5 tháng bất chấp đồng USD tăng trở lại sau những biến động bất ngờ tại châu Âu. Tuy nhiên, áp lực lên đồng bạc xanh vẫn lớn và vàng vẫn phần nào được hưởng lợi.

Mở cửa lúc 8h30 sáng 12/12, giá vàng miếng trong nước được Tập Đoàn Vàng bạc đá quý Doji niêm yết ở mức: 36,30 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,40 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 10 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ chiều phiên liền trước.

Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết giá vàng SJC ở mức 36,29 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,47 triệu đồng/lượng (bán ra), giảm 20 ngàn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với cuối giờ chiều ngày 11/12.

Tới đầu giờ sáng 12/12 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.249 USD/ounce.

Giá vàng giao tháng 2 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.253 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay thấp hơn 4,1% (53,5 USD/ounce) so với cuối năm 2017. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 34,6 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 1,8 triệu đồng/lượng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới tiếp tục tục treo quanh đỉnh 5 tháng bất chấp đồng USD tăng trở lại sau những biến động bất ngờ tại châu Âu. Tuy nhiên, áp lực lên đồng bạc xanh vẫn lớn và vàng vẫn phần nào được hưởng lợi.

Yếu tố kéo vàng đi chủ yếu do giới đầu tư tạm thời tìm tới mặt hàng này như một kênh trú bão trong bối cảnh thế giới đang ở vào một thời điểm nhạy cảm. Các thị trường tài chính đang chờ đợi phản ứng giữa Mỹ và Trung về không chỉ cuộc chiến thương mại đang hòa hoãn trong 3 tháng mà còn cả 1 cuộc chiến công nghệ.

Giới đầu tư cũng chờ đợi xem triển vọng kinh tế Mỹ và thế giới sẽ như thế nào cũng như định hướng về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Với những diễn biến gần đây, bao gồm những tín hiệu hạ nhiệt của nền kinh tế Mỹ, nhiều khả năng Fed có thể dừng chu kỳ tăng lãi suất sớm hơn dự kiến.

Tuy nhiên, đồng USD tạm thời có phiên tăng giá so với rổ tiền tệ do đồng bảng Anh tụt giảm sau những diễn biến về việc Anh rút khỏi Liên minh châu Âu EU (Brexit).

Giá vàng hôm nay 12/12: Vàng treo cao bất chấp USD tăng dốc
Giá vàng hôm nay: treo ở đỉnh 5 tháng.

 Đồng bảng tụt giảm ngay sau khi EU giữ lập trường đanh thép: khẳng định sẽ không tái đàm phán với Anh khiến nước Anh rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Thủ tướng Anh Theresa May bất ngờ tuyên bố tạm hoãn bỏ phiếu thỏa thuận Brexit theo kế hoạch với hi vọng kéo dài thêm thời gian nhằm tìm kiếm những nhượng bộ khác từ phía EU.

Các thị trường lo ngại, thời gian còn lại chưa đầy 4 tháng nữa và rất có thể Anh rời EU mà không đạt được bất cứ thỏa thuận nào. Nếu điều này diễn ra, thì cả Anh và EU sẽ thiệt hại lớn.

Hiện tại, nước Anh đang bất ổn nội bộ sâu sắc. Hàng loạt các quan chức cấp cao từ chức trong thời gian gần đây.

Về dài hạn, đồng USD được dự báo sẽ theo chiều đi xuống do nền kinh tế Mỹ phát đi những tín hiệu qua thời kỳ tăng trưởng cao điểm và hơn hết là cũng sẽ chịu tổn thất từ một cuộc chiến với Trung Quốc.

Fed sẽ khó có thể tiếp tục kế hoạch tăng lãi suất vốn định ra từ trước đó.

Vàng tạm thời là tài sản an toàn hơn so với các loại tài sản khác, trong đó có đồng USD và chứng khoán.

Để có thể xác định một hướng rõ ràng hơn đối với vàng và USD, giới đầu tư hiện đang hướng sự chú ý đến cuộc họp chính sách của Fed trong hai ngày 18-19/12 tới để dự đoán về kế hoạch tăng lãi suất tại Mỹ trong tương lai.

Theo nhiều chuyên gia, các thị trường vẫn cho rằng lãi suất sẽ tăng vào tháng 12, nhưng người ta hoài nghi về khả năng lãi suất sẽ tăng thêm nữa trong năm tới.

Trên thị trường vàng trong nước chốt 11/12 đa số các cửa hàng vàng giảm giá vàng 9999 trong nước 40-60 ngàn đồng so với phiên liền trước.

Tính tới cuối phiên giao dịch 11/12, Tập Đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá vàng SJC ở mức: 36,31 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,41 triệu đồng/lượng (bán ra). Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn niêm yết vàng SJC ở mức: 36,31 triệu đồng/lượng (mua vào) và 36,49 triệu đồng/lượng (bán ra).

Theo Doji, mặc dù những cơn sóng vàng của thị trường thế giới thời gian gần đây leo lên bậc thang mới tuy nhiên giá vàng miếng trong nước tăng khiêm tốn. Thị trường vàng trong nước diễn biến khá mờ nhạt do lượng cung cầu trên thị trường không tương xứng, trong đó lượng khách theo chiều bán vàng ra chiếm ưu thế.

V. Minh

Thị trường Lịch 2019: Hàng Việt Nam áp đảo hàng nhập khẩu Trung Quốc

Trên thị trường lịch Tết 2019, lịch Việt áp đảo về chất lượng, mẫu mã so với hàng nhập từ Trung Quốc nhờ công nghệ in ấn đã tốt hơn.

Chỉ còn chưa đầy 1 tháng nữa là bước sang năm mới Kỷ Hợi 2019 nên thời điểm này thị trường lịch Tết rất sôi động với hàng trăm mẫu mã, chủng loại, đa dạng cả về giá cả thu hút người tiêu dùng.

Kết quả hình ảnh cho lịch tết 2019

Trước những đòi hỏi ngày một cao của thị trường nên các sản phẩm lịch tết, nhất là lịch bloc luôn được các nhà sản xuất chú trọng nâng cao chất lượng in ấn, cải tiến kỹ thuật công nghệ in.

Theo anh Nguyễn Tiến Lực, kỹ sư ngành in, hiện nay lĩnh vực in lịch ở Việt Nam gần như đã chạm đến đỉnh cao nhất của công nghệ in ấn.

Cụ thể, các bloc cao cấp hiện giờ được in theo công nghệ Metalize ép màng chiếu 7 màu, ép vân, bề nổi 3D…, khắc phục nhược điểm xé lịch không đều với kỹ thuật kẹp răng cưa, ốc đầu tròn không mũ…

Tất cả nhằm bảo đảm tính thẩm mỹ cao nhất cho một sản phẩm có thời gian sử dụng liên tục trong 1 năm.

Bên cạnh đó, để tránh sự nhàm chán, đơn điệu trong các mẫu lịch, các nhà sản xuất kinh doanh lịch tết cũng đã chọn cho mình hướng đi riêng, có bản sắc nhằm thu hút sự chú ý của người tiêu dùng.

Chẳng hạn như lịch không đơn giản chỉ có ngày, tháng hay vài thông tin về thời tiết…, năm nay các đơn vị sản xuất đã tìm tòi, đưa văn hóa dân gian, văn học vào từng trang lịch treo tường.

Do vậy, thị trường lịch tết năm nay đa phần được trang trí những hoa văn, họa tiết bắt mắt, màu sắc sặc sỡ gây ấn tượng.

Nhiều mẫu lịch mang đậm yếu tố văn hóa dân gian như tài lộc, phú quý cát tường, trò chơi dân gian mừng năm mới của các dân tộc…

Đặc biệt, để chào đón năm Kỷ Hợi, một số công ty đã phát hành những bộ lịch heo vàng cát tường, heo vàng phú quý hoặc hương sen phú quý với chủ đề thường thấy trong phong thủy là cá chép và hoa sen, tượng trưng cho phúc lộc dài lâu, sự sung túc giàu sang phú quý.

Tại quầy lịch của Nhà sách Tiến Thọ (36 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội), một nhân viên bán hàng cho biết, từ 3 tuần nay nhà sách đã bày bán lịch, và nhìn chung giá lịch không có nhiều biến động, cuốn lịch bỏ túi giá thấp nhất là 5.000 đồng/quyển; mặt hàng đắt nhất là lịch bloc cực đại – 35×50 cm, giá 620.000 đồng/bloc; lịch tờ giá 50.000 đồng/tờ; lịch để bàn với chủ đề vẻ đẹp của hoa, trà đạo, nhà vườn, giá 25.000 đồng/quyển. Lịch treo tường 5 tờ, 7 tờ dao động từ 10.000-30.000 đồng/cuốn…

Để hút khách, kích cầu tiêu dùng, các công ty phát hành lịch đều chấp nhận giảm lãi thông qua các chương trình khuyến mại, giảm giá… lên đến 45 – 50%.

Không chỉ đa dạng về đề tài, mẫu lịch năm nay cũng có nhiều kích thước lớn nhỏ khác nhau … Ngoài ra, với cách lắp ráp đơn giản, người dùng sẽ không khó để chọn một cuốn bloc lịch ưng ý.

Năm nay, các sản phẩm lịch bloc đã được in ấn chất lượng cao theo công nghệ Metalize ép màng chiếu 7 màu, ép vân, bề nổi 3D… Tất cả nhằm bảo đảm tính thẩm mỹ cao nhất cho một sản phẩm có thời gian sử dụng liên tục trong 1 năm.

Chính bởi sự đa dạng về kiểu mẫu, màu sắc và kích thước nên giá bán lịch treo tường đóng lò xo bộ 5 tờ, 7 tờ có giá từ 32.000 – 42.000 đồng/cuốn, lịch để bàn chữ A từ 26.000 – 90.000 đồng/cuốn tùy kích cỡ.

Mặc dù các công ty in ấn, phát hành lịch đã có nhiều đổi mới mẫu mã nhưng sức tiêu thụ khá chậm, nhất là lịch treo tường.

Tổng Giám đốc Công ty Lịch Xuân Phương Nam Nguyễn Hà Quốc Anh cho biết, hiện các công ty, ngân hàng muốn khẳng định thương hiệu nên có xu hướng lựa chọn lịch độc quyền.

Một số công ty đã đầu tư đội ngũ thiết kế, in ấn, để hàng năm cho ra bộ lịch độc quyền dùng biếu, tặng khách hàng hoặc gửi cho một đơn vị in độc lập, giá cả cạnh tranh với những mẫu lịch phát hành đại trà.

Ngoài ra, tâm lý người tiêu dùng cũng có sự thay đổi, chẳng hạn ít lựa chọn lịch nhỏ khổ 10 x 15cm mà chuyển sang lịch khổ từ 20 x 30cm./.

Nam Giang/TTXVN

TT dầu TG ngày 10/12/2018: Dầu Brent tăng sau khi OPEC thông báo cắt giảm sản lượng

 Giá dầu quốc tế tăng trong ngày hôm nay, sau khi tổ chức OPEC và một số nhà sản xuất liên kết đồng ký cắt giảm sản lượng 1,2 triệu thùng/ngày từ tháng 1/2019.

Dầu thô Brent giao sau ở mức 61,81 USD/thùng, tăng 14 US cent hay 0,2% so với đóng cửa phiên trước.

TT dầu TG ngày 10/12/2018: Dầu Brent tăng sau khi OPEC thông báo cắt giảm sản lượng

Giá tăng vọt trong ngày thứ sáu 7/12/2018 sau khi tổ chức OPEC và một số nhà sản xuất ngoài OPEC gồm cả Nga đã thông báo họ sẽ cắt giảm sản lượng dầu 1,2 triệu thùng/ngày, trong đó các thành viên OPEC cắt giảm 800.000 thùng/ngày và các nước liên minh ngoài OPEC cắt giảm 400.000 thùng/ngày.
Dầu thô WTI giao sau của Mỹ đã ở mức 52,35 USD/thùng giảm 26 US cent hay 0,5% so với đóng cửa phiên trước, áp lực bởi ngành khoan dầu của Mỹ đang bùng nổ, không tham gia trong thỏa thuận cắt giảm.
Việc hạn chế nguồn cung của OPEC sẽ được thực hiện từ tháng 1/2019, so với mức sản lượng tháng 10/2018. Các nhà phân tích tại Bernstein Energy cho biết “kết luận quan trọng của chúng tôi là giá dầu sẽ được hỗ trợ tốt quanh mức 70 USD/thùng trong năm 2019”.
Bất chấp việc cắt giảm này, giá dầu vẫn được dự báo giảm 6 USD/thùng do Bernstein giảm dự báo tăng trưởng nhu cầu dầu thô của họ từ 1,5 triệu thùng/ngày trước đây xuống 1,3 triệu thùng/ngày trong năm 2019. Sự sụt giảm trong tăng trưởng nhu cầu do hiệu quả sử dụng nhiên liệu ngày càng tăng và do kinh tế suy giảm.
Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và là nước tiêu thụ dầu lớn thứ 4, đã điều chỉnh tăng trưởng GDP quý 3/2018 xuống -2,5%, giảm từ ước tính -1,2%.
Trong khi đó, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, Mỹ và Trung Quốc, bị kẹt trong cuộc chiến thương mại đang đe dọa tăng trưởng toàn cầu chậm lại và đánh bại tâm lý của nhà đầu tư.
Bất chấp việc cắt giảm sản lượng đã thông báo của OPEC, giá dầu thô Brent thấp hơn 29% so với mức cao nhất hồi đầu tháng 10/2018.
Nguồn: VITIC/Reuters

Năm 2019, giá cao su vẫn biến động khó lường

Trong năm tới, dự báo giá cao su thiên nhiên sẽ biến động lên xuống liên tục. Trong đó, ở giai đoạn “đình chiến” 90 ngày trong xung đột thương mại Mỹ – Trung, giá cao su sẽ có cơ hội đi lên nhờ sự ổn định của đồng USD.

Năm 2019, giá cao su vẫn biến động khó lường

Nhận định trên được ông Dar Wong, Cố vấn trưởng về chiến lược, Công ty Brain Partners & Management, đưa ra tại hội thảo “Kế hoạch hành động vì ngành cao su bền vững và dự báo giá năm 2019” do Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) tổ chức tại TPHCM chiều 7/12.
Ông Dar Wong cũng đánh giá, giá dầu là một trong những yếu tố có tác động đáng kể tới giá cao su trong năm tới. Nếu giá dầu đi lên, giá cao su sẽ có cơ hội tăng lên. Trong dài hạn (từ 3 đến 10 năm tới), nhu cầu tiêu thụ trên toàn cầu sẽ tăng lên, từ đó hỗ trợ tích cực cho giá cao su. Theo đó, giá sẽ không tăng quá cao, nhưng ở mức chấp nhận được.
Từ năm 2012 đến nay, ngành cao su thiên nhiên Việt Nam và thế giới gặp rất nhiều khó khăn do giá liên tục giảm mạnh. Giá cao su thiên nhiên bình quân trong tháng 11/2018 tiếp tục nối dài thêm chuỗi giảm giá kể từ đầu năm. Thị trường cao su đối mặt với hàng loạt yếu tố không thuận lợi như tình hình cung vượt cầu, tồn kho vẫn ở mức cao, nhu cầu cao su suy yếu tại Trung Quốc, giá dầu thế giới giảm mạnh, thị trường chứng khoán thế giới đi xuống, tâm lý nhà đầu tư rút khỏi những tài sản rủi ro do những bất ổn xung quanh vấn đề thương mại giữa Trung Quốc – Hoa Kỳ.
Ông Trần Ngọc Thuận, Chủ tịch VRA cho biết, nhờ sự nỗ lực của toàn công đồng cao su Việt Nam, trong 10 tháng năm 2018 xuất khẩu cao su thiên nhiên ước đạt 1,21 triệu tấn với giá trị khoảng 1,66 tỷ USD, đơn giá xuất khẩu bình quân khoảng 1.368 USD/tấn. So với cùng kỳ năm 2017, xuất khẩu cao su thiên nhiên 10 tháng năm 2018 tăng 13,6% về lượng nhưng giảm 7,5% về giá trị, do giá giảm 18,6%.
Điểm tích cực là Việt Nam tiếp tục giữ vững vị trí thứ hai về năng suất vườn cây, thứ ba về sản lượng, thứ tư về xuất khẩu trên thế giới. Năm 2017, diện tích cao su của cả nước đạt 969.700 ha và sản lượng đạt trên 1 triệu tấn, có triển vọng đạt 1,1 triệu tấn trong năm 2018. Năng suất bình quân năm 2017 giảm nhẹ còn 1.676 kg/ha do giá cao su giảm, nông dân phải tìm cách giảm chi phí bằng cách áp dụng các chế độ cạo giãn ngày hơn, giảm phân bón và chăm sóc ít hơn, tăng tốc độ tái canh vườn cây. Tuy vậy, năng suất cây cao su tại Việt Nam vẫn duy trì mức cao nhất trong vùng trồng cao su châu Á. Đây là niềm tự hào của ngành cao su Việt Nam từ nhiều năm nay.
Theo VRA, xu hướng phát triển bền vững đang ngày một lan rộng trong ngành cao su. Vừa qua, 11 nhà sản xuất lốp xe lớn nhất thế giới – tiêu thụ hơn 70% lượng cao su thiên nhiên toàn cầu – đã cùng nhau cam kết phát triển bền vững và công bố chính sách thu mua nguồn nguyên liệu nông sản gắn liền với chứng chỉ bền vững.
Điều này đặt ra yêu cầu đối với các doanh nghiệp cao su thiên nhiên của Việt Nam cũng phải nỗ lực thay đổi theo hướng phát triển bền vững để duy trì thị phầu lâu dài và ổn định trong bối cảnh giá cao su luôn ở mức thấp trong nhiều năm qua. Việc thực hiện tốt phát triển bền vững sẽ tạo cơ hội lớn cho doanh nghiệp trong việc nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh, thu hút khách hàng, cũng như cải thiện được năng suất và giảm chi phí nhờ sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từ đó thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trên thực tế, ngành cao su Việt Nam cũng đang nỗ lực phát triển theo hướng bền vững, ổn định về diện tích, gia tăng năng suất và hiệu quả kinh tế. Đồng thời thúc đẩy sử dụng gỗ cao su là nguyên liệu thân thiện môi trường, giảm rủi ro về thị trường và biến đổi khí hậu với những mô hình trồng xen hoặc trồng kết hợp để đa dạng nguồn thu nhập, tăng cường trữ lượng các bon, giảm hoá chất, ít phát thải khí nhà kính…
Để đáp ứng xu thế mới trong chính sách mua bán toàn cầu của ngành cao su thế giới, trong những năm gần đây Hiệp hội Cao su Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế về phát triển bền vững, chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế để cập nhật thông tin kịp thời cho hội viên cũng như giới thiệu những tài liệu hướng dẫn về phát triển bền vững và hướng đến xây dựng kế hoạch hành động cụ thể cho ngành cao su Việt Nam.
Bà Nguyễn Thị Thuý Hoa, Trưởng ban Tư vấn phát triển ngành cao su – Hiệp hội cao su Việt Nam cho biết, trên cơ sở các chính sách của Chính phủ, ngành cao su Việt Nam đã đề xuất kế hoạch hành động vì ngành cao su bền vững gồm 6 giải pháp.
Theo đó, sẽ ổn định diện tích cao su ở mức 800.000 ha, đồng thời tăng năng suất và hiệu quả kinh tế. Tái cơ cấu ngành cao su để tăng cường giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đóng cửa rừng tự nhiên, ngưng khai thác gỗ rừng, không chuyển rừng tự nhiên nghèo sang trồng cây công nghiệp. Giảm mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn, củng cố trữ lượng các-bon của rừng và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng (chương trình REDD+), thử nghiệm và phát triển những mô hình cao su sản xuất cao su bền vững. Tăng cưởng khả năng cạnh tranh của cao su thiên nhiên Việt Nam và sản phẩm gỗ cao su bằng cách đảm bảo chất lượng và nguồn nguyên liệu được chứng nhận do các tổ chức uy tín. Và cuối cùng là phát triển theo hướng bền vững và đạt chứng chỉ quốc tế.
“Hiệp hội rất cần sự hợp tác và hỗ trợ tích cực của các bên liên quan để xây dựng kế hoạch hành động dài hạn với các giải pháp hiệu quả trong sản xuất và quản lý bền vững cho ngành cao su mà không xâm lấn rừng, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để sản xuất nguyên liệu và sản phẩm có trách nhiệm, cân đối cung cầu để làm cơ sở cho giá cả hợp lý cho cả người sản xuất và người tiêu dùng” – bà Hoa nói.
Nguồn: Báo Hải quan

Giá vàng quay đầu giảm nhẹ

Sáng 11/12, giá vàng miếng SJC và Doji đều quay đầu giảm nhẹ theo đà giảm của giá vàng thế giới. Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới vẫn ở mức dưới 1,5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng quay đầu giảm nhẹ

Ảnh minh họa.

Khảo sát lúc 8h30 sáng nay (11/12) giá vàng miếng SJC tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đang niêm yết ở mức 36,34 – 36,50 triệu đồng/lượng, giảm 20 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra so với sáng hôm qua (10/12).
Chênh lệch giá mua – bán vẫn duy trì ở mức 160 nghìn đồng/lượng.
Tương tự, Tập đoàn Doji đang niêm yết giá vàng miếng ở mức 36,37 – 36,47 triệu đồng/lượng, giảm 20 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào – bán ra.

 Diễn biến giá vàng giao ngay trên thị trường New York. Biểu đồ: Kitco 
Cùng thời điểm, giá vàng giao ngay trên sàn Kitco đang được niêm yết ở mức 1.245 USD/ounce, giảm 3,3 USD, tương đương gần 0,26% so với giá khảo sát sáng 10/12.
Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank sáng nay, hiện giá vàng thế giới khoảng 35,03 triệu đồng/lượng, rẻ hơn giá vàng SJC trong nước khoảng 1,47 triệu đồng/lượng.
Phiên giao dịch ngày thứ Hai, giá vàng giao kỳ hạn giảm khi đồng USD mạnh lên.
Đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Hai, trên thị trường New York, giá vàng giao kỳ hạn tháng 2/2019 giảm 3,2 USD/ounce tương đương 0,3% xuống 1.249,4 USD/ounce.

HOÀNG HÀ

Vinafood1 dẫn đầu DN xuất khẩu gạo năm 2018

Trong cuộc làm việc với đoàn công tác của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp vừa diễn ra, ông Phan Xuân Quế , Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood1) cho biết, năm 2018, xuất khẩu gạo của doanh nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá.

Ảnh minh họa: Internet

Ảnh minh họa: Internet

Cụ thể, theo ông Quế, năm 2018, mặc dù chịu sự canh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu, song Vinafood1 dự kiến tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu cả nước về xuất khẩu gạo, với sản lượng xuất khẩu trên 1 triệu tấn, tương đương 550 triệu USD. Tổng công ty tiếp tục kinh doanh có hiệu quả, vốn nhà nước được bảo toàn và phát triển. Bên cạnh hoạt động kinh doanh, Vinafood1 đồng thời thực hiện nhiệm vụ dự trữ, lưu thông để bình ổn giá lương thực tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung…

Vinafood 1 hiện gặp một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện phương án cơ cấu lại và đề xuất Ủy ban báo cáo Bộ Tài chính và Chính phủ về kiến nghị liên quan đến xử lý tài chính, đất đai của các công ty trực thuộc…

Việt Anh

Giá dầu giảm gần 3% trước khi OPEC đưa ra quyết định về chính sách sản lượng

Trong phiên giao dịch ngày 6/12, giá dầu giảm gần 3% sau khi Tổ chức Các nước xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh kết thúc phiên họp mà chưa đưa ra quyết định về cắt giảm sản lượng dầu thô.

Giá dầu giảm gần 3%. Ảnh: reuters

Dự kiến các bên sẽ tiếp tục cuộc tranh luận về vấn đề này trong phiên họp ngày 7/12.

Cuối phiên này, tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao kỳ hạn giảm 1,4 USD (2,7%), xuống 51,49 USD/thùng. Trong khi đó, tại thị trường London, giá dầu Brent Biển Bắc giao kỳ hạn cũng mất 1,5 USD (2,4%), xuống 60,06 USD/thùng, sau khi có thời điểm rơi xuống mức 58,36 USD/thùng.

Cuộc họp kéo dài hai ngày (6-7/12) của OPEC cùng với một số nhà sản xuất dầu chủ chốt không thuộc tổ chức này như Nga, Oman và Kazakhstan nhằm bàn về chính sách sản lượng. Nội khối OPEC dường như đã đồng thuận về kế hoạch giảm sản lượng giữa bối cảnh giá dầu liên tục đi xuống trong thời gian gần đây, mất hơn 30% kể từ đầu tháng 10. Tuy nhiên, OPEC hiện vẫn đang chờ đợi quyết định từ thành viên có sức ảnh hưởng lớn nằm ngoài tổ chức này là Nga trước khi đưa ra quyết định về sản lượng cắt giảm. Các Bộ trưởng OPEC đang chờ tin tức từ Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak từ Vienna khi ông về nước để trao đổi với Tổng thống Nga Vladimir Putin. Dự kiến, ông Novak sẽ trở lại hội nghị tại Vienna vào ngày 7/12.

Đà giảm của giá dầu trong phiên này được thu hẹp nhờ số liệu mới đây cho thấy dự trữ dầu thô của Mỹ giảm trong tuần trước, lần đầu tiên kể từ tháng Chín. Tuy nhiên, Mỹ tuần trước đã trở thành nhà xuất khẩu và tinh chế ròng dầu thô lần đầu tiên kể từ năm 1973.

Minh Trang (Theo Reuters)

Quy hoạch cảng biển phục vụ tàu du lịch

Với vị trí địa lý thuận lợi, hệ thống tài nguyên du lịch phong phú và hạ tầng, dịch vụ du lịch ngày càng được đầu tư nâng cao chất lượng, Việt Nam luôn là điểm đến hấp dẫn của các hãng tàu biển quốc tế lớn.

Khách du lịch đến từ tàu biển quốc tế Super Star Virgo cập cảng tàu khách quốc tế Hạ Long trong ngày 6/12/2018. Ảnh: Báo Quảng Ninh

Trung bình mỗi năm có khoảng 500 chuyến tàu biển cập các cảng đưa gần 300.000 lượt khách du lịch đến Việt Nam, chiếm từ 2-3% lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Khách tàu biển du lịch Việt Nam đến từ nhiều thị trường khác nhau như: Châu Âu, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, đặc biệt là ở các thị trường gần như Trung Quốc và ASEAN.

Tại hội thảo quốc tế về phát triển du lịch tàu biển diễn ra chiều 6/12 tại TP. Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh), ông Nguyễn Công Bằng, Phó vụ trưởng Vụ Vận tải (Bộ GTVT) cho biết, theo Quyết định số 1037/QĐ-TTg ngày 24/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, miền Bắc sẽ xây dựng các bến chuyên dụng phục vụ tàu khách du lịch quốc tế tại Quảng Ninh để có thể đón những tàu khách cỡ lớn.

Tại hội thảo, đại diện nhiều sở, ban, ngành liên quan, các hãng lữ hành trong và ngoài nước, đại diện các hãng tàu đồng ý với việc rà soát, quy hoạch lại để có các cảng chuyên biệt cho du thuyền, các loại tàu 5 sao cỡ lớn và hiện đại nhất thế giới.

Các đại biểu cũng đánh giá về thực trạng, xu hướng của thị trường du lịch tàu biển trên thế giới và châu Á, những cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch tàu biển tại Việt Nam. Trong đó nêu rõ, để du lịch tàu biển phát triển bứt phá trong thời gian tới, Việt Nam cần có những chính sách ưu đãi thu hút đầu tư phát triển hệ thống cảng biển hiện đại, đồng bộ; tiếp tục cải tiến thủ tục hành chính, nhất là ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động xuất nhập cảnh. Tăng cường đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ, sản phẩm du lịch.

Ngoài thị trường khách truyền thống là khu vực Bắc Mỹ, châu Âu, Việt Nam cũng cần tăng cường khai thác các thị trường khách mới tiềm năng từ các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và khu vực ASEAN.

Sở hữu Di sản kỳ quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long và trên 600 di tích lịch sử, văn hóa, Quảng Ninh là địa phương có thế mạnh về phát triển loại hình du lịch tàu biển. Trung bình mỗi năm, tỉnh thu hút khoảng 100 chuyến tàu biển quốc tế đưa khách đến tham quan.

Tính đến thời điểm hiện nay, Quảng Ninh có 4 cảng đón được tàu biển quốc tế (cảng Cái Lân, cảng nổi Hòn Gai, Vinashin, cảng tàu khách quốc tế Hạ Long). Đặc biệt, cảng tàu khách quốc tế Hạ Long – cảng tàu khách quốc tế chuyên biệt đầu tiên tại Việt Nam đi vào hoạt động, mở ra một cơ hội phát triển mới cho loại hình du lịch tàu biển quốc tế đến Hạ Long trong tương lai.

Ngoài ra, địa phương này cũng đang được kì vọng là nơi thu hút lượng khách quốc tế nhờ lợi thế từ hệ thống giao thông  đã và đang tiếp tục được đầu tư đồng bộ, sẽ tạo chuỗi liên kết giữa hàng không, đường bộ và đường biển, tạo thuận lợi, rút ngắn thời gian di chuyển của khách du lịch.

CM

Giá vàng hôm nay 7/12 tăng giảm trái chiều

Giá vàng hôm nay 7/12 tăng giảm trái chiều so với phiên trước đó.

Giá vàng trong nước hôm nay biến động nhẹ. Ảnh: Đỗ Huyền/BNEWS/TTXVN

Cụ thể, trong phiên giao dịch hôm nay 7/12, giá vàng SJC trên thị trường Hà Nội thời điểm 9 giờ 18 phút được Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn niêm yết giao dịch ở ngưỡng 36,25 – 36,43 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Mức giá này giảm nhẹ 10 nghìn đồng mỗi lượng ở cả hai chiều mua và bán so với chốt phiên hôm qua.

Tại Công ty Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Minh Châu, giá vàng thương hiệu SJC được niêm yết ở mức 36,29 – 36,37 triệu đồng/lượng, mức giá này tăng nhẹ 10 nghìn đồng mỗi lượng ở chiều mua vào và chiều bán ra so với chốt phiên trước đó. Còn thương hiệu vàng Rồng Thăng Long của doanh nghiệp này được niêm yết ở mức 34,96 – 35,41 triệu đồng/lượng.

Tại Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI, thời điểm 9 giờ 03 phút, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 36,29 – 36,39 triệu đồng/lượng, mức giá này cũng tăng nhẹ 20 nghìn đồng mỗi lượng ở chiều mua vào tăng 20 nghìn đồng mỗi lượng ở chiều bán ra so với chốt phiên trước đó.

Còn Tập đoàn Phú Quý niêm yết giá vàng ở mức 36,29 – 36,39 triệu đồng/lượng, nhích nhẹ 20 nghìn đồng mỗi lượng ở cả chiều mua và bán so với chốt phiên trước đó.

Trong khi đó, trên thị trường thế giới, giá vàng ngày 3/12 tăng gần 1% và chạm mức cao nhất trong hơn ba tuần, nhờ hoạt động bán ra đồng USD sau tín hiệu tích cực về cuộc thương chiến Mỹ-Trung.

Jeff Klearman, nhà quản lý thuộc GraniteShares, nhận định thông báo từ hai nền kinh tế lớn nhất thế giới về tiến trình đàm phán giải quyết tranh chấp thương mại đã dẫn tới việc người ta bán ra đồng USD, làm đồng tiền này yếu đi và qua đó hỗ trợ giá vàng.

Thời điểm 9 giờ 07 phút sáng nay, giá vàng trên thị trường châu Á giao dịch ở mức 1.238,3 USD/ounce. Quy đổi theo tỷ giá tại Vietcombank (chưa tính thuế và các khoản phí), giá vàng trong nước hiện đắt hơn giá vàng thế giới gần 1,6 triệu đồng/lượng.

Thùy Linh/BNEWS/TTXVN

11 tháng, PVN nộp ngân sách Nhà nước hơn 108.000 tỷ đồng

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã nộp ngân sách Nhà nước hơn 108.122 tỷ đồng, vượt 46,5% kế hoạch cả năm trong 11 tháng qua.

Theo báo cáo mới nhất về tình hình sản xuất kinh doanh 11 tháng năm 2018, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã cơ bản hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu từ 3,3%-18% nhiệm vụ kế hoạch đề ra.

pvn nop ngan sach nha nuoc hon 108.000 ty dong hinh 1
Các công nhân của Vietsopetro bên giàn khoan.

Các chỉ tiêu tài chính của Tập đoàn 11 tháng đầu năm hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra và cao hơn so với cùng kỳ năm 2017. Tập đoàn đã hoàn thành kế hoạch cả năm chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước, vượt 46,5% kế hoạch năm, tổng doanh thu toàn Tập đoàn vượt 16,8% kế hoạch 11 tháng, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2017. Nhờ vào sự nỗ lực của cán bộ người lao động toàn ngành và giá dầu trung bình 11 tháng cao hơn mức kế hoạch, hầu hết các chỉ tiêu sản xuất của Tập đoàn đều hoàn thành vượt mức kế hoạch 11 tháng đề ra.

Cụ thể, tổng doanh thu toàn Tập đoàn 11 tháng đạt 542.344 tỷ đồng, vượt 16,8% so với kế hoạch 11 tháng và vượt 2,2% kế hoạch năm. Nộp ngân sách Nhà nước toàn Tập đoàn 11 tháng đạt 108.122 nghìn tỷ đồng, vượt 46,5% kế hoạch cả năm.

PVN đứng vị trí dẫn đầu khối doanh nghiệp có lợi nhuận lớn nhất Việt Nam trong Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất Việt Nam 2018 do Công ty Cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) tổ chức.

Trong năm 2018, Bộ Công Thương đã tổ chức Lễ bàn giao các Tập đoàn, Tổng Công ty do Bộ Công Thương làm đại diện chủ Sở hữu về Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp trong đó có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam.

Công ty mẹ – Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cơ bản hoàn thành sắp xếp, tái cơ cấu bộ máy điều hành. Hoàn thành hợp nhất cơ quan chuyên trách của Đảng với Ban chuyên môn có nhiệm vụ tương đồng./.

CTV Lan Lan/VOV.VN

Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, thị trường tự do cùng tiến

 Sáng nay (7/12), tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng thêm 2 đồng so với mức công bố hôm qua. Đồng USD trên thị trường tự do cũng đu theo tăng mạnh.

  • Tỷ giá trung tâm tiếp tục vọt cao, các ngân hàng tăng mạnh giá trao đổi USD
Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá trung tâm được áp dụng trong ngày 7/12 ở mức 22.764 đồng/USD, tăng 2 đồng/USD so với mức công bố hôm qua, tiếp tục chinh phục đỉnh cao nhất từ trước đến nay.
Trong biên độ dao động +/-3% theo quy định, tỷ giá sàn các ngân hàng thương mại được áp dụng trong ngày là 22.082 đồng và tỷ giá trần là 23.446 đồng/USD.

Hôm nay, các ngân hàng thương mại và thị trường tự do đều tăng giá mua – bán USD so với phiên trước. Cụ thể, lúc 9 giờ 45 tại Vietcombank niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.275 – 23.365 đồng/USD, tăng 5 đồng/USD so với giao dịch cùng thời điểm này sáng qua.
Cùng thời điểm, BIDV niêm yết giá mua – bán USD ở mức 23.280 – 23.370 đồng/USD, tăng 25 đồng/USD so với giao dịch cùng thời điểm này sáng qua.
Tại Eximbank niêm yết giá mua – bán đồng USD ở mức 23.280 – 23.360 đồng/USD, tăng 20 đồng/USD chiều mua và giữ nguyên chiều bán so với giao dịch cùng thời điểm này sáng qua.
Tại Techcombank niêm yết giá mua – bán đồng USD ở mức 23.250 – 23.360 đồng/USD, niêm yết ngang giá so với mức niêm yết trước.
Tại ACB niêm yết giá mua – bán đồng USD ở mức 23.280 – 23.360 đồng/USD, tăng 10 đồng/USD so với niêm yết phiên trước.
Chỉ có Maritime Bank niêm yết giá mua – bán đồng USD giao dịch bằng tiền mặt ở mức 23.275 – 23.365 đồng/USD, tăng 5 đồng/USD chiều mua và giảm 10 đồng/USD chiều bán.
Trên thị trường quốc tế đóng cửa vào rạng sáng nay tại thị trường Mỹ chỉ số đo lường sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt trong giỏ thanh toán thế giới tiếp tục có phiên giảm mạnh 0,4%.
Đồng đôla Mỹ trên thị trường tự do trong nước hôm nay không đi theo xu hướng thế giới mà ngược chỉ. Lúc 10 giờ tại thị trường Hà Nội, giá mua – bán USD giao dịch ở mức 23.350 – 23.380 đồng/USD, tăng 15 đồng/USD chiều mua và tăng 20 đồng/USD chiều bán so với phiên trước.
Thị trường trong nước hôm nay, các ngoại tệ mạnh đều bật tăng. Trong đó, bảng Anh tăng mạnh hôm nay đã bật tăng 150 đồng/GBP, giao dịch cùng thời điểm trên tại Vietcombank mua – bán ở mức 29.447 – 29.919 đồng/GBP.
Đồng EURO tăng 80 đồng/EUR, giao dịch Vietcombank mua – bán ở mức 26.321 – 26.794 đồng/EUR.
Đồng France Thuỵ Sỹ tăng 89 đồng/CHF, giao dịch mua – bán ở mức 23.173 – 23. 639 đồng/CHF.
Đồng đô Canada và đô Úc sau phiên giảm sâu hôm qua, hôm nay đã bật tăng nhẹ.
Yên Nhật hôm nay cũng tăng nhẹ 1 đồng/JPY so với mức giao dịch của hôm qua, ở quanh mức 201 – 208 đồng/JPY (mua – bán).

BÍCH HỜI

Lợi nhuận sản xuất xăng của Châu Á giảm xuống mức thấp nhất 7 năm

Lợi nhuận sản xuất xăng của Singapore đã giảm xuống mức thấp nhất trong 7 năm, quá thấp khiến kinh doanh nhiên liệu cho động cơ này trở thành thua lỗ.

Lợi nhuận sản xuất xăng của Châu Á giảm xuống mức thấp nhất 7 năm

Được xem là chuẩn của châu Á, chênh lệch của xăng RON 92 của Singapore so với dầu thô Brent ở mức -1,44 USD/thùng khi đóng cửa phiên 4/12/2018, thấp nhất kể từ tháng 11/2011. Nghĩa là lợi nhuận đã giảm 112,5% từ mức đỉnh trong năm 2018 đã đạt được hồi tháng 8/2018.
Xăng, một nhiên liệu ưa thích của các nhà máy lọc dầu, đã chịu áp lực mạnh từ nguồn cung đang tăng lên, và mặc dù giá dầu đã giảm 1/3 chi phí (nguyên liệu chính của nhà máy lọc dầu) kể từ đầu tháng 10/2018.
Sri Paravaikkarasu, giám đốc dầu Châu Á tại công ty tư vấn năng lượng FGE, Singapore cho biết “thị trường tự mạnh lên khi có thêm dòng chảy từ Trung Quốc với việc phát hành thêm hạn ngạch xuất khẩu gần đây”.
Chính quyền Trung Quốc đã phát hành thêm hạn ngạch xuất khẩu 2 triệu tấn nhiên liệu đã lọc trong năm nay, chủ yếu là xăng và dầu diesel, đưa hạn ngạch năm 2018 lên khoảng 48 triệu tấn.
Tại Hàn Quốc, một trung tâm lọc dầu khác của châu Á, sản lượng xăng và dự trữ cũng cao, theo Nevyn Nah thuộc công ty tư vấn năng lượng Energy Aspects. Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam giảm vì khởi động nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, sản lượng tại Trung Đông tăng.
Những tổn thất từ việc sản xuất xăng đang gây áp lực lên lợi nhuận lọc dầu tổng thể, hiện nay ở mức thấp nhất kể từ tháng 8/2016 chỉ 2,93 USD/thùng, theo số liệu của Refinitiv.
Ngoài nguồn cung dư thừa là những lo ngại về suy giảm kinh tế có thể sớm làm giảm nhu cầu nhiên liệu.
Trong một động thái bất thường, hội đồng nhà nước Trung Quốc ngày 4/12/2018 đã công bố hướng dẫn hỗ trợ việc làm khi nền kinh tế này chậm lại.
Sự sụt giảm như vậy cũng thấy ở thị trường ô tô lớn nhất thế giới, Trung Quốc, nơi doanh số ô tô mới theo hướng giảm năm đầu tiên kể từ năm 1990. Với nguồn cung tiếp tục vượt tăng trưởng nhu cầu trong những tháng tới, có những hạn chế cho bất kỳ sự phục hồi đáng kể nào ở Singapore.
Nguồn: VITIC/Reuters

TT kim loại thế giới ngày 6/12/2018: Đồng tại Thượng Hải giảm phiên thứ 4 liên tiếp

Giá kim loại màu ngày 6/12/2018 giảm, do lo ngại về nhu cầu suy yếu bởi căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc kéo dài.

TT kim loại thế giới ngày 6/12/2018: Đồng tại Thượng Hải giảm phiên thứ 4 liên tiếp

Trung Quốc và Mỹ đã thỏa thuận “đình chiến” trong cuộc chiến thương mại kéo dài nhiều tháng, với Tổng thống Mỹ Donald Trump đồng ý không tăng thuế từ ngày 1/1/2019. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo rằng, Mỹ sẽ giữ nguyên thuế nếu 2 bên không thể giải quyết sự khác biệt trước thời hạn 90 ngày.
Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,8% xuống 6.142 USD/tấn, sau khi giảm mạnh phiên trước đó.
Giá đồng kỳ hạn tháng 2/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 0,7% xuống 49.100 CNY (7.163,07 USD)/tấn.
Lĩnh vực dịch vụ của Trung Quốc tăng trưởng nhanh nhất trong 5 tháng trong tháng 11/2018, nhờ sự tăng vọt các đơn đặt hàng mới, mặc dù triển vọng cho các nhà kinh doanh trong năm tới trở nên tồi tệ tháng thứ 3 liên tiếp.
BHP BHP.AX cho biết, họ đã nhận được sự chấp thuận từ chính quyền bang Tây Australia để phát triển 1 mỏ khai thác nickel tại bang này.
Albemarle Corp ALB.N đưa ra chiến dịch vận động hành lang tích cực sau khi các nhà quản lý Chile từ chối yêu cầu thúc đẩy sản lượng lithium, cho thấy tầm quan trọng của công ty đối với nền kinh tế và lao động Chile.
Chứng khoán Mỹ và châu Á giảm trong ngày thứ năm (6/12/2018), sau khi các nhà chức trách Canada bắt giữ 1 giám đốc điều hành công ty công nghệ lớn của Trung Quốc, Huawei Technologies, gia tăng lo ngại căng thẳng hơn nữa giữa Trung Quốc và Mỹ.
Nguồn: VITIC/Reuters

Những dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của OPEC

Năm 1960, OPEC được các nước sản xuất dầu mỏ Iran, Iraq, Kuwait, Saudi Arabia và Venezuela thành lập tại Baghdad, Iraq để đối phó với việc bán phá giá của các công ty dầu mỏ lớn.

Những dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của OPEC

Trong bối cảnh giá dầu mỏ trên thị trường thế giới trong những ngày qua đã giảm xuống dưới 50 USD/thùng, mức thấp nhất trong gần 14 tháng qua, ngày 3/12, Qatar đã tuyến bố sẽ rút khỏi Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) vào tháng 1/2019.
Mặc dù vậy, trong một tuyên bố, tân Bộ trưởng Năng lượng Qatar Saad al-Kaabi cho biết quốc gia vùng Vịnh này vẫn tiếp tục sản xuất dầu mỏ, nhưng sẽ tập trung chủ yếu vào sản xuất khí đốt, lĩnh vực mà nước này đang là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Đánh giá về quyết định này, Iran cho rằng việc Qatar quyết định rời khỏi OPEC cho thấy sự thất vọng của các nhà sản xuất nhỏ đối với vai trò chi phối của Saudi Arabia và Nga trong việc quyết định cắt giảm sản lượng nhằm giúp kiểm soát giá dầu.
Đại diện của Iran tại OPEC, ông Hossein Kazempour Ardebili, nhận định: “Đây là việc rất đáng tiếc và chúng tôi hiểu sự thất vọng của họ.”
Ông cho rằng quyết định của Qatar phản ánh sự giận dữ đang gia tăng của các nhà sản xuất dầu trước cái mà ông mô tả là cách tiếp cận đơn phương của Ủy ban Giám sát chung cấp bộ trưởng của OPEC (JMMC) vốn do Saudi Arabia và Nga dẫn dắt trong việc ra quyết định cắt giảm sản lượng dầu.
Theo ông, có nhiều thành viên OPEC khác đã bày tỏ thất vọng rằng JMMC quyết định về sản lượng dầu một cách đơn phương và không có được sự đồng thuận trước của OPEC.
Qatar gia nhập OPEC năm 1961. Nước này và hiện là một trong số những nước sản xuất dầu mỏ nhỏ nhất trong OPEC, nhưng là thành viên ảnh hưởng nhất trong thị trường khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) nhờ các nhà máy lớn của họ sản xuất tổng cộng 77 triệu tấn/năm.
Nắm giữ mỏ khí đốt lớn nhất thế giới, mỏ North Field hợp tác với Iran, Qatar có kế hoạch mở rộng công xuất LNG lên 100 triệu tấn và sẽ thực hiện trước khi thị trường khí đốt trở nên quá hạn hẹp trong đầu thập kỷ tới.
Trong khi đó, Saudi Arabia hiện đang là quốc gia chi phối lớn nhất trong OPEC.
Quan hệ giữa Saudi Arabia và Qatar vẫn đang căng thẳng kể từ khi Saudi Arabia cùng 3 nước vùng Vịnh khác là Bahrain, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) và Ai Cập từ tháng 6/2017 đã cắt đứt quan hệ ngoại giao và đóng cửa các tuyến vận tải với Qatar do cáo buộc chính quyền Doha hỗ trợ khủng bố.
Tuy nhiên, Qatar luôn bác bỏ cáo buộc này, đồng thời không chấp nhận các yêu sách mà 4 nước vùng Vịnh đưa ra.
Còn OPEC, Nga và một số nhà sản xuất khẩu dầu thô lớn ngoài OPEC đã nhất trí cắt giảm sản lượng tổng cộng 1,8 triệu thùng/ngày kể từ tháng 1/2017 đến hết năm 2018, nhằm giải quyết tình trạng dư thừa nguồn cung trên thị trường và vực dậy giá dầu, vốn giảm mạnh từ mức 110 USD/thùng hồi giữa năm 2014 xuống còn 30 USD/thùng vào năm 2016.
Dưới đây là những dấu mốc quan trọng trong lịch sử của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC):
Giai đoạn mới thành lập
Ngày 14/9/1960, OPEC được các nước sản xuất dầu mỏ Iran, Iraq, Kuwait, Saudi Arabia và Venezuela thành lập tại Baghdad, Iraq. Mục đích thành lập là để đối phó với việc bán phá giá của các công ty dầu mỏ lớn.
Năm 1961, Qatar gia nhập OPEC. Tiếp theo là các nước Indonesia và Libya (1962), Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (1967), Algeria (1969), Nigeria (1971), Ecuador (1973), Gabon (1975), Angola (2007), Guinea Xích đạo (2017) và Congo (2018).
Năm 1992, Ecuador bị đình chỉ tư cách thành viên, nhưng đã tham gia trở lại vào năm 2007.
Năm 1995, Gabon rời OPEC và tham gia trở lại vào năm 2016. Indonesia bị đình chỉ tư cách thành viên từ năm 2009 đến tháng 1/2016, rồi lại bị đình chỉ tư cách thành viên vài tháng sau đó.
Năm 1965, OPEC chuyển trụ sở chính từ Geneva (Thụy Sĩ) đến Vienna (Áo).
Khủng hoảng giá dầu
Năm 1973, trong cuộc chiến Arab-Israel, 6 nước Arab trong OPEC đẩy giá dầu tăng vọt. Dầu mỏ trở thành vũ khí chính trị khi các nhà sản xuất Arab tuyên bố cấm vận xuất khẩu sang các nước hỗ trợ Israel, đặc biệt là Mỹ và Hà Lan, gây ra cuộc khủng hoảng giá dầu trên toàn thế giới.
Đến cuối năm 1973, OPEC đã tăng giá gấp đôi, lên tới 11,65 USD/thùng.
Tháng 3/1975, OPEC tổ chức hội nghị thượng đỉnh đầu tiên tại Algiers, thủ đô của Algeria.
Tháng 12/1975, một nhóm biệt kích do Ilich Ramirez Sanchez cầm đầu bắt giữ 70 người làm con tin, trong đó có 11 bộ trưởng dầu mỏ tại trụ sở OPEC ở Vienna. Ba người trong số đó đã bị sát hại.
Năm 1979, cuộc cách mạng Hồi giáo nổ ra ở Iran. Việc Iran ngừng xuất khẩu mỏ đã gây ra cuộc khủng hoảng giá dầu thứ hai trên toàn cầu. Khi đó, giá dầu mỏ tăng lên tới 40 USD/ thùng.
Năm 1980, cuộc chiến giữa hai thành viên OPEC là Iran và Iraq lại tiếp tục đẩy giá dầu tăng thêm.
Trần sản lượng
Năm 1982, OPEC bắt đầu thiết lập trần sản lượng cho các thành viên nhằm kiểm soát giá tăng lên. Tuy nhiên, các nước thành viên không tuân thủ qui định về hạn ngạch này một cách nghiêm túc.
Năm 1986, với sự xuất hiện của các nước sản xuất dầu lửa mới ngoài OPEC, cuộc chiến giá dầu đã nổ ra, đẩy giá dầu giảm xuống còn dưới 10 USD/thùng. OPEC khi đó đã phải tái lập chế độ hạn ngạch.
Năm 1990, Iraq đưa quân vào Kuwait dẫn đến cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Iraq bị đình chỉ tư cách thành viên hệ thống phân bổ hạn ngạch của OPEC.
Năm 2003, Iraq được khôi phục tư cách thành viên đầy đủ của OPEC.
Trong giai đoạn 2005-2006, giá dầu tăng đột biến. Đây được coi là cuộc hoảng giá dầu lần thứ ba. Khi đó, giá mỗi thùng tăng lên đến 75 USD. Vào cuối năm 2006, nhằm kiểm soát giá dầu, OPEC đã hai lần cắt giảm sản lượng liên tiếp.
Tới năm 2008, khủng hoảng kinh tế thế giới và tình trạng bất ổn tại nhiều khu vực sản xuất dầu đã làm rung chuyển thị trường. Vào tháng Bảy, giá dầu thô vượt ngưỡng 140 USD/thùng trước khi lao xuống mức 32 USD/thùng.
Năm 2011, OPEC xóa bỏ hạn ngạch đối với từng nước, để các nước tự giác tuân thủ mức trần cho cả tổ chức là 30 triệu thùng/ngày.
Cung vượt cầu
Năm 2014, dù cung vượt cầu, OPEC vẫn không cắt giảm sản lượng. Quyết định do các nước thành viên vùng Vịnh đưa ra với mong muốn duy trì thị phần của OPEC trong bối cảnh bùng nổ sản lượng dầu khí đá phiến của Mỹ.
Quyết định này dẫn tới việc giá dầu giảm tới một nửa trong vòng sáu tháng. Một số nước thành viên lệ thuộc dầu mỏ như Algeria, Nigeria và Venezuela đã bị ảnh hưởng nặng nề.
Năm 2016, giá mỗi thùng dầu giảm xuống còn khoảng 30 USD, khiến hàng loạt công ty dầu mỏ lớn phải cắt giảm nhân sự.
Tháng 11/2016, OPEC nhất trí cắt giảm sản lượng 1,2 triệu thùng/ngày, đưa sản lượng của khối này xuống còn 32,5 triệu thùng/ngày. Tới tháng 12, 11 nước ngoài OPEC trong đó có Nga cũng đồng ý giảm sản lượng. Giá dầu tăng mạnh.
Tháng 11/2018, giá dầu lại giảm 22% trong vòng một tháng xuống dưới 60 USD/thùng./.
Nguồn: Vietnamplus/TTXVN

Nhập khẩu than đá 10 tháng đầu năm 2018 tăng rất mạnh

10 tháng đầu năm 2018, cả nước nhập khẩu 17,34 triệu tấn than đá, trị giá 2,05 tỷ USD, tăng 48,8% về lượng và tăng 71,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Nhập khẩu than đá 10 tháng đầu năm 2018 tăng rất mạnh

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu than đá vào Việt Nam sau khi sụt giảm liên tục từ tháng 6 đến tháng 8/2018, thì bắt đầu từ tháng 9/2018 tăng trở lại 31,9% về lượng và tăng 36,9% về kim ngạch; tháng 10/2018 tăng tiếp 8,5% về lượng và tăng 13,3% về kim ngạch, đạt 2,17 triệu tấn, tương đương 268,56 triệu USD.

Cộng chung cả 10 tháng đầu năm 2018, cả nước nhập khẩu 17,34 triệu tấn than đá, trị giá 2,05 tỷ USD, tăng 48,8% về lượng và tăng 71,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Giá than nhập khẩu trong tháng 10 tăng nhẹ 4,5% so với tháng trước đó, nhưng giảm 3,3% so với cùng tháng năm ngoái, đạt 123,9 USD/tấn, tính trung bình cả 10 tháng đầu năm giá than tăng 15,2% so với cùng kỳ, đạt 118,1 USD/tấn.

Australia, Indonesia và Trung Quốc là 3 thị trường lớn nhất cung cấp than đá cho Việt Nam; trong đó than nhập khẩu từ Australia chiếm 26% trong tổng lượng và chiếm 33,8% trong tổng kim ngạch nhập khẩu than của cả nước, đạt 4,52 triệu tấn, tương đương 692,52 triệu USD, tăng 47,6% về lượng và tăng 89,6% về trị giá so với cùng kỳ. Giá nhập khẩu cũng tăng 28,5%, đạt 153,1 USD/tấn.

Nhập khẩu than từ thị trường Indonesia chiếm 50% trong tổng lượng và chiếm 31,2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu than của cả nước, đạt 8,67 triệu tấn, tương đương 638,27 triệu USD, tăng rất mạnh 92,2% về lượng và tăng 115,4% về trị giá so với cùng kỳ. Giá  nhập khẩu từ thị trường này tăng trên 12%, đạt trung bình 73,6 USD/tấn.

Than nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc tuy giảm 19,7% về lượng nhưng tăng 37,3% về kim ngạch, đạt 742.183 tấn, trị giá 255,19 triệu USD, chiếm gần 4,3% trong tổng lượng và chiếm 12,7 trong tổng kim ngạch nhập khẩu than của cả nước. Giá nhập trung bình tăng rất mạnh 71%, đạt 343,8 USD/tấn.

Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu than từ thị trường Nga 1,98 triệu tấn, trị giá 210,04 triệu USD, giảm 2,8% về lượng nhưng tăng 5,6% về kim ngạch. Nhập khẩu từ thị trường  Malaysia 275.464 tấn, trị giá 15,69 triệu USD, tăng 85,6% về lượng và tăng 110,8% về kim ngạch. Nhập khẩu than từ Nhật Bản 20.128 tấn, trị giá 6,91 triệu USD, tăng rất 272,3% về lượng và tăng 321% về kim ngạch.

Nhập khẩu than đá 10 tháng đầu năm 2018

Thị trường10T/2018+/- so với cùng kỳ (%)*
Lượng (tấn)Trị giá (USD)LượngTrị giá
Tổng cộng17.340.9642.047.545.49548,871,4
Australia4.522.577692.522.59047,5589,55
Indonesia8.670.330638.273.96292,2115,35
Trung Quốc742.183255.189.677-19,7437,31
Nga1.984.259210.037.510-2,825,62
Malaysia275.46415.693.07985,59110,8
Nhật Bản20.1286.914.493272,26321,42

 (*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Lĩnh vực sản xuất Việt Nam dẫn đầu ASEAN

Chỉ số nhà quản trị mua hàng PMI (Purchasing Managers Index) tháng 11/2018 của Việt Nam do Nikkei – IHS Markit (Công ty dịch vụ tài chính độc lập toàn cầu) mới công bố cho thấy số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh, từ mức 53,9 điểm của tháng 10/2018 lên 56,5 điểm trong tháng 11. Đây cũng là mức cao kỷ lục kể từ tháng 3/2011 đến nay, đứng đầu các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Lĩnh vực sản xuất Việt Nam dẫn đầu ASEAN

Chỉ số PMI tháng 11/2018 của Việt Nam dẫn đầu các nước Đông Nam Á, điều này cho thấy nền sản xuất của Việt Nam phát triển lạc quan. Ngoài Việt Nam, những nước có chỉ số PMI tăng trong tháng 11 là Philippines, Myanmar và Indonesia. Ngược lại, ngành sản xuất của Thái Lan, Malaysia, và Singapore đều chứng kiến sự sụt giảm chỉ số PMI.
Theo IHS Markit, số lượng đơn đặt hàng mới của ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 11/2018 tăng mạnh và kéo theo sự lạc quan của các doanh nghiệp (DN), dù năng lực sản xuất đang chịu những áp lực vì sự tăng trưởng lượng công việc tồn đọng. Để đáp ứng khối lượng công việc lớn hơn, các công ty sản xuất nhanh chóng tuyển thêm nhân viên, giúp tốc độ tạo việc làm mới đạt mức cao. Bên cạnh đó, số lượng đơn hàng mới tăng nhanh cũng khiến nhiều DN tăng lượng hàng tồn kho đối với cả hàng hóa đầu vào và hàng thành phẩm.
IHS Markit cũng chỉ ra một điểm đáng lưu ý với ngành sản xuất Việt Nam khi giá nguyên vật liệu làm chi phí đầu vào tiếp tục tăng trong tháng 11/2018 với mức cao nhất trong 3 tháng trở lại đây. Gánh nặng chi phí buộc các nhà sản xuất phải tăng giá bán hàng.
Chỉ số PMI là một trong những thước đo quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế sản xuất mỗi quốc gia và được đánh giá trên 5 tiêu chí gồm số lượng đơn đặt hàng mới, sản lượng, việc làm, thời gian giao hàng của nhà cung cấp và tồn kho các mặt hàng mua. Kết quả chỉ số PMI dưới 50.0 cho thấy nền kinh tế sản xuất nhìn chung giảm sút; trên 50.0 là phát triển. Kết quả chỉ số 50.0 là không có sự thay đổi. Mức chênh lệch so với 50.0 càng lớn thì tốc độ thay đổi mà chỉ số báo hiệu sẽ càng lớn. Chỉ số PMI ngành sản xuất tại Việt Nam được xây dựng trên dữ liệu thu thập hàng tháng từ các nhà quản trị mua hàng tại khoảng 400 DN sản xuất Việt Nam.
Nguồn: Thanh Thanh/Báo Công Thương điện tử

Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, thu thuế đạt hơn 284.000 tỉ đồng

Tổng cục Hải quan cho biết nhờ giá dầu thô tăng mạnh số thu thuế xuất nhập khẩu của toàn ngành Hải quan đến hết ngày 3.12 đã đạt hơn 284.503 tỉ đồng, vượt 1.503 tỉ đồng so với chỉ tiêu dự toán thu NSNN qua thuế xuất nhập khẩu năm 2018 được giao.

WB gợi ý giải pháp để Việt Nam thành quốc gia thu nhập trung bình cao

Chuyên gia WB gợi ý một số vấn đề Việt Nam cần ưu tiên để trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao.

Tại Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam 2018 sáng nay (5/12), ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho rằng, hành trình trở thành một nền kinh tế hiện đại hoá, công nghiệp hoá của Việt Nam mới chỉ mới bắt đầu. Những thành tựu trong quá khứ không đảm bảo cho sự thành công trong tương lai.

wb goi y giai phap de viet nam thanh quoc gia thu nhap trung binh cao hinh 1
Ông Ousmane Dione – Giám đốc Quốc gia WB Việt Nam – tham dự Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam 2018 được tổ chức tại Hà Nội, sáng nay (5/12).

Trong nước, Việt Nam sẽ phải giải quyết những cản trở mang tính cấu trúc đang gia tăng, bao gồm dân số già hóa nhanh, tăng trưởng năng suất chậm và đầu tư thấp, cũng như chi phí môi trường lên quá trình phát triển ngày càng lớn.

Trong khi xử lý những cản trở này, Việt Nam cũng sẽ cần phải lựa chọn hướng đi trong một bối cảnh thế giới đang thay đổi. Điều quan trọng trong quá trình đất nước chuyển sang chu kỳ chiến lược và kế hoạch phát triển tiếp theo được ông Ousmane Dione nhấn mạnh là phải nhìn nhận tồn đọng và thúc đẩy tiềm năng tăng trưởng, không chỉ là chất mà còn là lượng.

Tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển

Báo cáo Việt Nam 2035 đưa ra khát vọng: Thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ với mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, đạt 10 nghìn USD/người/năm tính theo giá hiện hành.
Khát vọng này được thực hiện thông qua chương trình cải cách thể chế và các chính sách hỗ trợ dựa trên ba trụ cột chính: Thịnh vượng về kinh tế đi đôi với bền vững về môi trường; Công bằng và hòa nhập xã hội; Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình của Nhà nước.

Để thực hiện thành công khát vọng trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình cao như đã hình dung trong báo cáo Việt Nam 2035, ông Ousmane Dione lưu ý: Việt Nam cần ưu tiên thực hiện một số giải pháp, trong đó có việc thúc đẩy mạnh mẽ để phát triển khu vực tư nhân trong nước, bởi khu vực này sẽ trở thành động lực chính nhằm tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế.

Điều này đòi hỏi phải tiếp tục nỗ lực để loại bỏ những trở ngại cho doanh nghiệp tư nhân và tăng cường môi trường pháp lý. Song song với đó, Việc Nam phải cải cách doanh nghiệp Nhà nước, tập trung vào việc áp dụng thông lệ quốc tế tốt nhất trong quản trị doanh nghiệp, thông qua Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước mới thành lập, đồng thời thúc đẩy và tăng cường cổ phần hoá và thoái vốn.

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng cần chuyển từ số lượng sang chất lượng, tập trung vào đầu tư công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn, chú ý đến khai thác mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Điều này sẽ giúp khu vực tư nhân trong nước tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu, Giám đốc WB Việt Nam chỉ rõ.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng cả về chất và lượng. Đứng trước những khó khăn về tài chính, việc giải phóng nguồn đầu tư tư nhân có thể có ý nghĩa to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu đầu tư cao của Việt Nam.

Ông Ousmane Dione cũng gợi ý, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư vào vốn nhân lực, đặc biệt là trong bối cảnh công nghệ đột phá thay đổi nhanh chóng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đầu tư vào nhân lực đòi hỏi một phương pháp tiếp cận theo toàn bộ chu kỳ với những nỗ lực phối hợp hiệu quả để cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng, đặc biệt là ngay từ thời thơ ấu, giáo dục suốt đời và đào tạo kỹ năng.

Một vấn đề cũng không kém phần quan trọng được đại diện WB chỉ ra là, Việt Nam cần quan tâm đến các vấn đề môi trường do sự tăng trưởng nhanh chóng đang tạo ra chi phí môi trường ngày càng lớn. Những vấn đề môi trường ngày càng tăng này không chỉ tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, mà còn có khả năng ảnh hưởng đến tăng trưởng trong dài hạn.

Để thực hiện thành công các nội dung ưu tiên này, theo ông Ousmane Dione, cần những thể chế của nhà nước có năng lực và hiệu quả. Cùng với đó, ông cũng nhấn mạnh việc cần phải huy động và sử dụng những nguồn lực khan hiếm của mình một cách hiệu quả để tài trợ cho một chương trình phát triển đầy tham vọng.

Tạo sức hút đối với các nhà đầu tư

Cũng “hiến kế” cho Việt Nam trong cải cách và phát triển, ông Sudhir Shetty – Chuyên gia kinh tế trưởng khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của WB – nhấn mạnh đến sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua cải cách liên tục để tạo sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

wb goi y giai phap de viet nam thanh quoc gia thu nhap trung binh cao hinh 2
Việt Nam được đánh giá là một trong những điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. (Ảnh minh họa)

Ông Sudhir Shetty góp ý, Việt Nam cần giảm bớt mức độ dễ bị tổn thương trong ngắn hạn từ các tác động bên ngoài với nền kinh tế. Đồng thời, phải tăng cường tính sẵn sàng, bao gồm cả các giải pháp liên quan đến chính sách tài khóa.

Việt Nam cần tiếp tục cải cách nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh, trong đó có cải cách về chính sách thương mại và đầu tư. Xây dựng kỹ năng cho người lao động, bao gồm các kỹ năng nhận thức bậc cao và kỹ năng số, thông qua mở rộng tiếp cận giáo dục sau phổ thông, chuyên gia WB nêu rõ.

Theo ông Sudhir Shetty, việc nâng cao kỹ năng là điều rất quan trọng, giúp nguồn nhân lực có tính cạnh tranh, thích ứng với sự thay đổi về nghề nghiệp và công nghệ trên thế giới mà Việt Nam cần đặc biệt quan tâm.

Chuyên gia của WB cũng khuyến nghị, Việt Nam tăng cường tính bao trùm sự phát triển và cải cách đến mọi vùng miền, mọi tầng lớp trong xã hội, chú trọng đến mở rộng dịch vụ việc làm và tiếp cận công nghệ số./.

Trần Ngọc/VOV.VN

Đà Nẵng là thị trường tiềm năng tiêu thụ thực phẩm an toàn

TP Đà Nẵng hiện được xem là thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp, hợp tác xã cung cấp sản phẩm nông sản an toàn tìm kiếm thị trường.

Mới đây, tại Đà Nẵng, Ban Quản lý An toàn thực phẩm, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Nam, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đăk Lắk tổ chức Hội nghị “Kết nối chuỗi cung ứng nông sản an toàn giữa doanh nghiệp của TP Đà Nẵng với doanh nghiệp tỉnh Quảng Nam, Đắk Lắk.

da nang la thi truong tiem nang tieu thu thuc pham an toan
Đà Nẵng hiện được xem là thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp, hợp tác xã cung cấp sản phẩm nông sản an toàn tìm kiếm thị trường

Đà Nẵng hiện được xem là thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp, hợp tác xã cung cấp sản phẩm nông sản an toàn tìm kiếm thị trường. Cụ thể, mỗi năm, TP Đà Nẵng tiêu thụ khoảng 35.000 tấn thịt. Nguồn gia súc gia cầm nhập vào TP để giết mổ chủ yếu từ các tỉnh: Bình Định (70%), Quảng Ngãi (15%), Quảng Nam (10%), Phú Yên,…. và thịt nhập khẩu từ nước ngoài ước tính khoảng 10.000 tấn/năm (từ các nước Mỹ, Hàn Quốc, Braxin,..); khoảng 140.000 tấn rau củ quả các loại, trong đó lượng rau do thành phố tự sản xuất khoảng 9.000 tấn, còn lại nhập từ các tỉnh và nhập khẩu khoảng 131.000 tấn.

Từ năm 2016 – 2018, TP Đà Nẵng đã tổ chức ký kết cung ứng nông sản an toàn với 6 tỉnh là các địa phương có cung ứng sản lượng lớn các sản phẩm rau, trái cây và thịt cho TP; xác nhận chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn cho 09 cơ sở kinh doanh thực phẩm trên địa bàn TP.

Với sự tham gia của 40 doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, phân phối nông sản đến từ Đắk Lắk, Quảng Nam, Đà Nẵng, Hội nghị chính là cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất của 2 tỉnh Quảng Nam, Đắk Lắk giới thiệu sản phẩm an toàn, đạt tiêu chuẩn Vietgap, Global gap đến người tiêu dùng và các doanh nghiệp phân phối trên địa bàn TP Đà Nẵng.

Trong đó, sản phảm của các doanh nghiệp đến từ Đăk Lăk bao gồm: Tiêu hạt; Cà phê rang xay, cà phê nhân xô; Hạt Macca, tinh dầu Macca; trà thảo mộc, gạo thảo dược; trái cây đông lạnh, quả bơ tươi; rau, củ, trái cây tươi; thịt heo và sản phẩm từ thịt heo. Sản phẩm của các doanh nghiệp đến từ Quảng Nam: Gà tươi; dầu phụng ép nguyên chất; bánh tráng, gạo an toàn; rau củ tươi; nước mắm truyền thống.

An Nhiên

Vàng trong nước ngược chiều với thế giới

Giá vàng trong ngày hôm nay (5-12) biến động ngược chiều khi mà vàng trong nước giảm thì giá vàng thế giới vẫn tăng mạnh.

vang trong nuoc nguoc chieu voi the gioi

Cụ thể, kết thúc phiên giao dịch cuối ngày tại Mỹ, giá vàng thế giới đứng ở mức 1.238 USD/oz, tăng hơn 8 USD so với chốt phiên trước. Giá vàng giao tháng 2-2019 tăng hơn 7 USD/oz lên 1.246,6 USD/oz, cao nhất trong 5 tháng trở lại đây.

Đầu phiên sáng nay (5-12), lúc 8g30 giá vàng thế giới giao ngay tại thị trường châu Á ở quanh mức trên 1.236 USD/oz, tăng hơn 3 USD/oz so với giao dịch cùng thời điểm này sáng qua.

Còn tại thị trường trong nước, giá vàng SJC tại Cty VBĐQ Sài Gòn sáng nay (5-12), giá mua vào đang ở mức 36,32 triệu đồng/lượng; giá bán ra là 36,48 triệu đồng/lượng, giảm 20.000 đồng/lượng so với phiên trước trong khi chênh lệch giá mua – bán giữ ở mức 160.000 đồng/lượng.

Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng đầu giờ sáng nay ở mức 36,35 – 36,45 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). So với phiên trước, giá vàng được điều chỉnh giảm 30.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua – bán. Mức chênh lệch giá bán vàng đang cao hơn giá mua 100.000 đồng/lượng.

CK

Việt Nam nổi lên là nước xuất khẩu đang phát triển mạnh

 – Trong suốt 30 năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng trung bình gần 7%/năm. Nhờ đó, thu nhập bình quân đầu người đã tăng gần gấp 5 lần. Việt Nam ngày nay đã nổi lên là nước xuất khẩu đang phát triển mạnh. 

Thông tin trên được ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam chia sẻ tại Diễn đàn cải cách và Phát triển 2018: “Tầm nhìn mới, động lực mới cho tăng trưởng kinh tế trong kỷ nguyên mới”, diễn ra sáng nay (5/12) tại Hà Nội.
Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế từng bước cải thiện
Theo ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành quả quan trọng. Trong đó, diện mạo kinh tế Việt Nam đã thay đổi hẳn, đời sống người dân được cải thiện, tỷ lệ nghèo đói giảm mạnh. Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
“Tầm vóc, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế từng bước cải thiện, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao”, ông Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh.
Bằng chứng, đến hết năm 2017, quy mô dân số đạt khoảng 94 triệu người, đứng thứ 14 trên thế giới; quy mô nền kinh tế đạt khoảng 224 tỷ USD, xếp thứ 45 ; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 2.300 USD, xếp thứ 134; tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2017 đạt 6,81% và dự kiến năm 2018 có thể đạt cao hơn; chỉ số phát triển con người (HDI) đứng thứ 116/189 quốc gia; hệ số bất bình đẳng về phân phối thu nhập (GINI) ở mức tích cực, 0,43 điểm.
Bên cạnh đó, các chỉ số về năng lực cạnh tranh quốc gia và môi trường kinh doanh đạt nhiều tiến bộ đáng khích lệ. Năm 2017, năng lực cạnh tranh xếp hạng 55/137, tăng 5 bậc; môi trường kinh doanh xếp hạng 68/190, tăng 14 bậc; đổi mới sáng tạo xếp hạng 47/127, tăng 12 bậc. Trong nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp, Việt Nam đã vươn từ vị trí thứ ba năm 2016 lên vị trí thứ nhất.
Đồng tình với quan điểm này, ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam chia sẻ, trong suốt 30 năm qua, nền kinh tế đã tăng trưởng trung bình gần 7%/năm. Nhờ đó, thu nhập bình quân đầu người đã tăng gần gấp 5 lần. Việt Nam ngày nay đã nổi lên như một nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp và là nước xuất khẩu đang phát triển mạnh. Sự tăng trưởng của Việt Nam cũng có tính bao trùm, với tỷ lệ nghèo đã giảm xuống dưới 7%, so với mức hơn 60% vào cuối những năm 1980.
Cải cách để thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân trong nước
Bên cạnh những kết quả đạt được, ông Nguyễn Chí Dũng cho rằng, nền kinh tế Việt Nam những năm tới hứa hẹn cả những thách thức và cơ hội đan xen. Một số kịch bản kinh tế đã được đưa ra với triển vọng tăng trưởng trung bình của Việt Nam ước đạt 6,85% trong các năm 2018 – 2020.
Mặc dù vậy, Chính phủ vẫn luôn ý thức được những thách thức và khó khăn, cả những vấn đề nội tại cũng như những tác động khách quan từ bên ngoài có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Theo người đứng đầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, câu hỏi lớn đặt ra hiện nay là làm thế nào để tận dụng triệt để được mọi cơ hội, nhất là cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vượt qua được các khó khăn, thách thức, làm rõ các động lực tăng trưởng mới với tầm nhìn phát triển trong kỷ nguyên mới gắn liền với tư duy đổi mới, cải cách để tìm ra phương án tốt nhất cho bài toán tăng trưởng và phát triển của Việt Nam, hướng tới tăng trưởng bứt phá, phát triển nhanh và bền vững…
Đưa ra đề xuất của Ngân hàng thế giới, ông Ousmane Dione cho rằng, cải cách để thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân trong nước sẽ cần phải được đẩy mạnh mạnh mẽ, để trở thành động lực chính nhằm tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế.
Cùng với đó, theo ông Ousmane Dione, mặc dù hiện tại còn nhiều hạn chế về tài chính, nhưng cần tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vốn có ý nghĩa rất quan trọng cho tăng trưởng trong tương lai. Một lần nữa, cần quan tâm không chỉ số lượng, mà là vấn đề chất lượng.
“Chúng ta không thể không nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu tư vào vốn nhân lực, đặc biệt là trong bối cảnh công nghệ đột phá thay đổi nhanh chóng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Như vậy, đầu tư vào vốn nhân lực sẽ đòi hỏi một phương pháp tiếp cận theo toàn bộ chu kỳ với những nỗ lực phối hợp hiệu quả để cải thiện công tác chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng, đặc biệt là ngay từ thời thơ ấu, giáo dục suốt đời và đào tạo kỹ năng”, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đề xuất.
Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết, sự tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam đang tạo ra chi phí môi trường ngày càng lớn. Những vấn đề môi trường ngày càng tăng này không chỉ tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, mà còn có khả năng ảnh hưởng đến tăng trưởng trong dài hạn. Hoạt động quản lý tài sản tự nhiên của Việt Nam và xây dựng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu có ý nghĩa rất quan trọng để đảm bảo sự tăng trưởng bền vững trong các lĩnh vực then chốt như nông nghiệp, chế biến thực phẩm và du lịch.
Theo ông Ousmane Dione, để thực hiện 4 nội dung ưu tiên về khu vực tư nhân, cơ sở hạ tầng, vốn nhân lực và tăng trưởng xanh, sẽ cần những thể chế của nhà nước có năng lực và hiệu quả. Do đó, sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ, ban ngành cũng như giữa các cơ quan trung ương và địa phương hiện nay quan trọng hơn bao giờ hết.
Minh Ngọc

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm biến đổi ngành ngân hàng thế giới như thế nào?

Việc áp dụng công nghệ Big Data và AI giúp một số ngân hàng giảm thời gian thẩm định khách hàng từ nhiều ngày xuống chỉ còn vài phút.

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm biến đổi ngành ngân hàng thế giới như thế nào?

Vinanet -Việc áp dụng công nghệ Big Data và AI giúp một số ngân hàng giảm thời gian thẩm định khách hàng từ nhiều ngày xuống chỉ còn vài phút.
Cụm từ “ngân hàng” (bank) xuất phát từ tiếng Ý là “banco”, có nghĩa là “chiếc ghế băng dài”. Nguồn gốc của từ này là để chỉ hoạt động của những nhà buôn bán tiền tệ tại các cảng ở Genoa, Venice và Naples thường ngồi trên một chiếc ghế băng dài gần cảng hay chợ để cấp vốn cho những thương gia và những người kinh doanh. Đó là khi mà hoạt động ngân hàng bắt đầu manh nha.
Ở Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập hay bất kỳ xã hội cổ đại nào có các hoạt động giao thương, các nhà ngân hàng cũng xuất hiện và hoạt động theo cùng một cách. Qua thời gian dài, các ngân hàng thương mại trở thành trung gian nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng là cá nhân hay doanh nghiệp. Trong bất kỳ nền kinh tế nào, các ngân hàng luôn có vị thế vững chắc so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Tuy nhiên, kể từ sau cuộc Khủng hoảng tài chính 2008 tới nay, các ngân hàng thương mại cổ điển dường như đang gặp phải khó khăn để tiếp tục tăng trưởng. Theo số liệu McKinsey, ROE của 1000 ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất thế giới đã giảm từ 17 – 18% năm 2007 xuống còn 8 – 9% vào năm 2017, tăng trưởng doanh thu hàng năm bình quân 5 năm qua chỉ là 2% so với mức 5 – 6% của giai đoạn trước.
Sự suy giảm tăng trưởng của các ngân hàng truyền thống đến từ nhiều nguyên nhân. Trong đó, xu hướng phát triển mạnh mẽ của các thành tựu công nghệ trong hơn một thập kỷ trở lại đây cũng đang mở rộng tầm ảnh hưởng của nó ra nhiều ngành nghề, bao gồm ngành tài chính ngân hàng. Hầu hết nghiên cứu của các tổ chức tư vấn lớn trên thế giới về tác động của cuộc cách mạnh 4.0 đều chỉ ra rằng, tài chính ngân hàng là một trong những ngành chịu nhiều tác động sâu rộng nhất của các đột phá công nghệ trong thời đại này.
Vị thế của khách hàng đã thay đổi
Trong suốt nhiều thế kỷ, ngân hàng được biết đến với các tòa nhà đồ sộ, kín đáo và những các bước thủ tục phê duyệt phức tạp mà người vay tiền cần phải trải qua để có được một khoản vay. Cùng với hàng tá thủ tục phiền hà, cán bộ ngân hàng luôn yêu cầu các khoản vay cần có tài sản bảo đảm với giá trị thường lớn hơn đáng kể so với giá trị khoản vay và được định giá bởi các cơ quan độc lập. Ở giai đoạn này, dù là khách hàng có nhu cầu vay tiền, gửi tiền hay sử dụng bất kỳ dịch vụ tài chính nào khác từ ngân hàng, họ cũng phải tìm đến các chi nhánh và chờ đợi được ngân hàng đáp ứng nhu cầu như một sự ban ơn. Đây là giai đoạn Bank 1.0.
Khoảng thế kỷ trước, ngân hàng nhận ra mình không phải là người duy nhất để khách hàng có thể cho vay, nhận tiền gửi và cung cấp dịch vụ thanh toán. Các bên cho vay khác xuất hiện như công ty tài chính, cửa hàng cầm đồ hay các bên trung gian kết nối người cho vay với người vay tiền. Khách hàng cũng có thể đầu tư trái phiếu, chứng chỉ quỹ thay cho gửi tiết kiệm. Dịch vụ thanh toán cũng được cung cấp bởi nhiều công ty trung gian sử dụng công nghệ hiện đại. Khi khách hàng có nhiều sự lựa chọn, nhu cầu của họ cũng tăng lên. Điều này khiến cho ngân hàng buộc phải thay đổi mình. Họ tích cực mở rộng mạng lưới chi nhánh, quảng bá hình ảnh, giới thiệu sản phẩm dịch vụ mới và chủ động tiếp cận khách hàng. Tuy vậy, trong giai đoạn Bank 2.0 này, khách hàng vẫn thường phải tới chi nhánh ngân hàng để được thỏa mãn nhu cầu của mình.
Hiện nay, các tiến bộ vượt bậc của công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo cùng những thành tựu khoa học kỹ thuật khác của cuộc cách mạng 4.0 đang thay đổi một cách căn bản các hoạt động cốt lõi của ngân hàng. Sự phổ biến của điện thoại thông minh, mạng internet đã giúp các ngân hàng tích hợp phần lớn dịch vụ của mình trên các thiết bị di động thay vì yêu cầu khách hàng phải đích thân tới chi nhánh. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của giai đoạn Bank 3.0, theo mô tả của Brett King trong cuốn sách cùng tên rất nổi tiếng của mình. Trong giai đoạn này, ngân hàng thực sự coi khách hàng là trung tâm định hướng cho các hoạt động của mình. Và ngân hàng thực sự là một loại hành động để thực hiện, chứ không phải là một nơi chốn cụ thể.
AI và Big Data thay đổi cách thức vận hành một ngân hàng
Trước kia, quá trình thẩm định khách hàng được thực hiện một cách thủ công, qua nhiều bước và tốn kém thời gian. Các hồ sơ vay vốn hoặc khoản thanh toán từ khi đệ trình tới khi được phê duyệt có thể phải trải qua nhiều cuộc họp kéo dài trong nhiều ngày. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của công nghệ lưu trữ và phân tích dữ liệu, ngân hàng có thể nhanh chóng so sánh, đánh giá tín dụng đối với khách hàng. Việc áp dụng công nghệ Big Data và AI giúp một số ngân hàng giảm thời gian thẩm định khách hàng từ nhiều ngày xuống chỉ còn vài phút.
Mạng lưới dữ liệu liên kết và công nghệ nhận diện danh tích khách hàng thông qua các trang mạng xã hội thậm chí còn có thể giúp ngân hàng xác định được khách hàng đang ở đâu, làm gì và có các mối quan hệ nào. Điều này giúp quá trình quản lý sau giải ngân trở nên hiệu quả hơn. Các ngân hàng cũng áp dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn để lựa chọn vị trí thuận lợi nhất khi mở chi nhánh mới.
Sự tiến hóa của tiền tệ
Bitcoin là cú shock làm thay đổi hoàn toàn khái niệm về tiền tệ và đe dọa sự tồn tại của các ngân hàng trung ương. Mặc dù hiện tại giá Bitcoin cũng như các loại tiền mật mã khác đang sụt giảm mạnh so với mức đỉnh tạo lập được hồi đầu năm 2018, nhưng ý tưởng về Bitcoin đã giúp hiện thực hóa lý thuyết về một hệ thống tiền tệ phi tập trung mà nhà kinh tế học nổi tiếng Hayek từng đề xuất trong thế kỷ trước.
Tiền tệ bắt đầu xuất hiện từ thời cổ đại trong các khu vực dân cư nhỏ dưới dạng đồ vật như vỏ sò, lá cây,… Khi nền giao thương trong các quốc gia phát triển, tiền tệ được đồng nhất bằng kim loại có giá trị như vàng, bạc. Tiền giấy và tài khoản ngân hàng xuất hiện khi quy mô của nền kinh tế và giá trị của các giao dịch tăng lên nhanh chóng bởi lúc này, việc sử dụng tiền xu kim loại trở nên tốn kém nguồn lực và nguy hiểm. Đó là lúc các ngân hàng xuất hiện và hoạt động như các trung gian thanh toán và quản lý tài khoản của các bên tham gia giao dịch. Trong tất cả các giai đoạn phát triển của tiền tệ nêu trên, tiền luôn được phát hành và quản lý bởi ngân hàng trung ương thông qua hệ thống phân phối là các ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, với ý tưởng về Bitcoin, chúng ta đang ở một bước ngoặt lịch sử phát triển tiền tệ. Các đồng tiền phi tập trung được kiểm soát bởi chính những người tham gia giao dịch mà không thông qua trung gian. Quy mô nguồn cung tiền cũng tự động tăng lên theo quy mô các giao dịch trong nền kinh tế. Khi đó, các ngân hàng trung ương, thậm chí là các ngân hàng thương mại với vai trò trung gian thanh toán bù trừ sẽ không còn cần thiết. Đó là quan ngại của bà Christine Lagarde, Giám đốc điều hành Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, trong Hội nghị về Fintech tổ chức tại Singapore hồi giữa tháng 11/2018.
Rõ ràng, tốc độ phát triển của khoa học công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc ngành tài chính nói chung cũng như các ngân hàng thương mại nói riêng. Trước yêu cầu cấp bách, một số ngân hàng đã chấp nhận thay đổi và tìm kiếm cách thức phù hợp để theo kịp xu hướng. Những ngân hàng tin rằng các bản chất cổ điển của ngân hàng vẫn chưa bị tác động rất có thể phải chịu hậu quả chưa thể lường trước được trong tương lai gần.

Nguồn: CafeF/Thời đại

Xuất khẩu thủy tinh và sản phẩm thu về trên 830 triệu USD

Là mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu khá cao trong nhóm hàng thủ công mỹ nghệ, chỉ đứng sau mặt hàng gỗ và sản phẩm, thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh đã đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước trên 830 triệu USD trong 10 tháng đầu năm 2018, giảm 0,07% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu thủy tinh và sản phẩm thu về trên 830 triệu USD

Tính riêng tháng 10/2018 kim ngạch mặt hàng này đạt 82,79 triệu USD, tăng 10,1% so với tháng 9/2018.

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh được xuất khẩu chủ yếu sang các nước Đông Nam Á, chiếm 61,6% tỷ trọng, tăng 9,86% so với cùng kỳ. Trong đó, Singapore và Malaysia là hai thị trường đạt kim ngạch cao nhất, đạt lần lượt 262,08 triệu USD; 225,11 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tốc độ xuất khẩu sang Singapore lại suy giảm 11,3%, nhưng tăng 41,4% ở thị trường Malaysia, riêng tháng 10/2018 thì xuất sang Singapore tăng 16,42% đạt 28,92 triệu USD và Malaysia tăng 61,91% đạt 24,68 triệu USD; nếu so với tháng 10/2017 thì Singapore giảm 20,46% nhưng Malaysia tăng 46,92%.
Thị trường đạt kim ngạch đứng thứ ba là Hàn Quốc 90,55 triệu USD, giảm 8,05% so với cùng kỳ 2017, riêng tháng 10/2018 tăng 5,86% so với tháng 9/2018 và giảm 65,5% so với tháng 10/2017 đạt 5,02 triệu USD.
Ngoài ra các thị trường khác như Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan… cũng nhập khẩu thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh từ Việt Nam.
Nhìn chung, 10 tháng đầu năm 2018 kim ngạch xuất sang các thị trường với mức độ tăng trưởng chiếm phần lớn 54,54%.
Đáng chú ý, thời gian này thị trường Philippines tăng mạnh nhập khẩu mặt hàng này từ Việt Nam, tuy chỉ đạt 17,27 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng gấp 2,8 lần (tức tăng 182,45%), riêng tháng 10/2018 xuất sang thị trường Philippines đạt 4,25 triệu USD, tăng 46,7% so với tháng trước đó và tăng gấp 7,35 lần (tức tăng 635,69%) so với tháng 10/2017. Ở chiều ngược lại, thị trường Trung Quốc tuy có vị trí và khoảng cách địa lý gần với Việt Nam, nhưng giảm nhiều nhất 52,02% tương ứng với 28,1 triệu USD, mặc dù tháng 10/2018 xuất sang đây tăng 6,24% so với tháng 9/2018 đạt 5,35 triệu USD, nhưng giảm 20,44% so với tháng 10/2017.
Thị trường xuất khẩu thủy tinh và sản phẩm từ thủy tinh 10 tháng năm 2018
Thị trường

 

T10/2018 (USD)+/- so với T9/2018 (USD)*T10/2018 (USD)+/- so với cùng kỳ 2017 (%)*
Singapore28.921.01616,42262.080.529-11,3
Malaysia24.680.32461,91225.110.53141,4
Hàn Quốc5.028.5425,8690.557.322-5,05
Nhật Bản6.668.750-44,1475.687.6986,48
Hoa Kỳ5.353.3836,2453.423.763-1,28
Trung Quốc1.421.210-42,4428.101.251-52,02
Philippines4.254.35346,717.273.947182,45
Đài Loan484.597-22,29.444.089-46,52
Thái Lan558.03380,55.349.85843,31
Canada541.791-26,214.842.1363,34
Campuchia159.515-26,832.561.91534,76
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)

Hương Nguyễn – Vinanet

Xây dựng Phương Thảo trúng gói thầu gần 84 tỷ đồng của Than Cọc Sáu

Công ty CP Than Cọc Sáu thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) vừa cho biết, Công ty TNHH Thương mại dịch vụ và Xây dựng Phương Thảo là nhà thầu trúng Gói thầu số 01 Cung cấp lốp đặc chủng phục vụ sản xuất thuộc Dự án Mua sắm lốp chuyên dùng phục vụ sản xuất quý IV/2018 và quý I/2019 của Công ty với giá trúng thầu 83.903 triệu đồng (giá gói thầu 86.330 triệu đồng, đạt tỷ lệ tiết kiệm 2,8%).

Ảnh minh họa: Internet

Ảnh minh họa: Internet

Theo Quyết định số 194/QĐ-TCS ngày 19/11/2018 phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu thì thời gian thực hiện hợp đồng là 140 ngày, loại hợp đồng trọn gói.

Công ty CP Than Cọc Sáu cho biết, có 2 nhà thầu nằm trong danh sách xếp hạng nhà thầu, ngoài nhà thầu trúng thầu còn có Công ty CP Du lịch và Thương mại – Vinacomin nhưng nhà thầu này xếp hạng 2 (không được lựa chọn trúng thầu).

Công ty TNHH Thương mại dịch vụ và Xây dựng Phương Thảo có địa chỉ tại TP.HCM. Trong vòng 3 năm trở lại đây, công ty này được công khai trúng 2 gói thầu  đều do công ty thành viên hoặc Vinacomin làm chủ đầu tư.

Khánh Ngọc

11 tháng năm 2018, 6,5 tỷ USD vốn FDI rót vào bất động sản Việt Nam

Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tính đến hết tháng 11, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản đạt 6,5 tỷ USD, chiếm 21,3% tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam.

11 tháng năm 2018, 6,5 tỷ USD vốn FDI rót vào bất động sản Việt Nam

Bất động sản tiếp tục đứng thứ 2 về hút vốn ngoại sau ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là 30,8 tỷ USD, giảm 7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, số dự án được giải ngân trị giá 16,5 tỷ USD, tăng 3% cùng kỳ.

Thống kê có 108 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Nhật Bản đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư gần 8 tỷ USD, chiếm 26% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc và Singapore lần lượt ở vị trí thứ hai và thứ ba với tỷ trọng 22% và 13%.

Theo địa bàn đầu tư, nhà ĐTNN đã đầu tư vào 59 tỉnh thành phố, trong đó Hà Nội thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với tổng số vốn đăng ký 6,3 tỷ USD, chiếm 20% tổng vốn đầu tư. TP HCM đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký 5,6 tỷ USD, chiếm 18%.

Lĩnh vực bất động sản cho thấy sức hút lớn đối với các nhà đầu tư ngoại. Đánh giá từ các chuyên gia, dòng vốn FDI tiếp tục bổ sung nguồn vốn quan trọng cho lĩnh vực bất động sản trong xu thế ngân hàng đang dần hạn chế cấp tín dụng cho hoạt động này. Từ đó giúp nguồn cung vẫn phong phú, đa dạng và theo chuẩn quốc tế.

Theo đánh giá của Cục Đầu tư nước ngoài, thì chính sách thương mại Mỹ – Trung căng thẳng như hiện nay sẽ có khả năng ảnh hưởng tới đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới.

Cụ thể, việc Mỹ áp thuế với Trung Quốc có thể dẫn tới xu hướng chuyển dịch đầu tư từ Trung Quốc sang các quốc gia ổn định hơn. Với ưu thế về vị trí địa lý, chính sách, Việt Nam có thể sẽ là ưu tiên khi Trung Quốc chuyển hướng đầu tư.

Đây vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức đối với Việt Nam bởi cùng với xu hướng chuyển dịch đầu tư nêu trên, Việt Nam cần có đối sách thận trọng trong việc cấp phép và kiểm soát đầu tư, đảm bảo có chọn lọc.

Minh Anh

Giá vàng trượt dốc không phanh

Giá vàng hôm nay 29/11 sụt giảm nghiêm trọng khi đồng USD đang vào đà lên giá mạnh và sẽ còn khiến giá vàng tụt thêm trong những phiên giao dịch cuối tuần

Thị trường vàng trong nước, chốt phiên chiều qua, tập đoàn Doji niêm yết vàng miếng ở mức 36,32 – 36,42 triệu đồng/lượng. Công ty SJC niêm yết vàng 99,99 ở mức 36,29 – 36,45 triệu đồng/lượng.

Bảng giá vàng 9999, vàng SJC, giá vàng 24K, 18K, 14K, 10K cuối ngày 29/11:

Đơn vị tính: Ngàn đồng/lượng

LoạiMuaBán
TP. Hồ Chí Minh
Vàng SJC 1 Kg36.29036.450
Vàng SJC 10L36.29036.450
Vàng SJC 1L – 10L36.29036.450
Vàng SJC 5c36.29036.470
Vàng SJC 0.5c, 1c, 2c36.29036.480
Vàng nhẫn SJC 99,99 5p,1c,2c,5c34.70035.100
Vàng nhẫn SJC 99,99 0,5 chỉ34.70035.200
Vàng nữ trang 99,99% (vàng 24K)34.35035.050
Vàng nữ trang 99% (vàng 23,7K)34.00334.703
Vàng nữ trang 75% (vàng 18K)25.04026.440
Vàng nữ trang 58,3% (vàng 14K)19.18620.586
Vàng nữ trang 41,7% (vàng 10K)13.36714.767
Hà Nội
Vàng SJC36.29036.470
Đà Nẵng
Vàng SJC36.29036.470

Nguồn: SJC

Theo Doji, giá vàng trong nước tiếp tục giảm điểm trong khi thị trường thế giới dịch chuyển trong biên độ hẹp và không để lại dấu ấn nổi bật. Tham gia thị trường trong phiên phần lớn là nhà đầu tư theo nhu cầu bán vàng ra.

Trên thế giới tới đầu giờ sáng 29/11 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.213 USD/ounce.

Giá vàng giao tháng 2 năm 2019 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.219 USD/ounce. Trên sàn Kitco giao dịch ở mức 1220.70 – 1221.70 USD/ounce.

Giá vàng hôm nay thấp hơn 6,9% (89,5 USD/ounce) so với cuối năm 2017. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 33,6 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 2,9 triệu đồng/lượng so với vàng trong nước.

Giá vàng thế giới tiếp tục giảm nhanh do đồng USD tăng trở lại bất chấp tổng thống Mỹ Donald Trump tỏ ra thất vọng tột độ với người mà ông đã phải phá vỡ truyền thống của nước Mỹ để chủ tịch Fed giữ 2 nhiệm kỳ. Ông Trump đã gạt bỏ người phụ nữ đầu tiên dẫn đầu Fed trong lịch sử 100 năm.

Vàng giảm giá còn do mặt hàng có quan hệ mật thiết với vàng là dầu tiếp tục giảm mạnh và đang gần trở về ngưỡng 50 USD/thùng.

Áp lực bán ra của những nhà đầu tư lớn cũng khiến vàng giảm giá.

SPDR Gold Trust – quỹ đầu tư vàng lớn nhất thế giới trong ngày 26/11 đã giảm lượng vàng nắm giữ 0,15% xuống còn 761,74 tấn.

TRẦN HUYỀN (tổng hợp)

PVN – GAS: Ký thỏa thuận về cung cấp khí từ mỏ TUNA

PVN và Premier Oil Tuna B.V (POT, Indonesia) đã ký MOU về việc cung cấp khí từ cụm mỏ Tuna, Indonesia cho thị trường Việt Nam. Hiện, toàn bộ quyền lợi và trách nhiệm của PVN với tư cách là Bên Mua của MOU sẽ được chuyển sang cho PV GAS.

PVN – GAS: Ký thỏa thuận về cung cấp khí từ mỏ TUNA
Theo tin từ Tổng Công ty Khí Việt Nam – CTCP (PV GAS, mã GAS), được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ về chủ trương đàm phán với đối tác Indonesia trong lĩnh vực khí, ngày 10/11/2017, tại Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Premier Oil Tuna B.V (POT, Indonesia) đã ký kết Biên bản Ghi nhớ (MOU) về việc cung cấp khí từ cụm mỏ Tuna, Indonesia cho thị trường Việt Nam.
Trên cơ sở MOU đã ký này, ngày 21/11/2018, tại trụ sở của POT (Indonesia), PVN, GAS và POT phối hợp tổ chức ký kết Thỏa thuận chuyển nhượng Biên bản Ghi nhớ nêu trên.

Theo đó, kể từ ngày ký Thỏa thuận chuyển nhượng này, toàn bộ quyền lợi và trách nhiệm của PVN với tư cách là Bên Mua của MOU sẽ được chuyển sang cho GAS. POT tiếp tục giữ vai trò là công ty nhận được sự uỷ quyền của các Chủ mỏ khí TUNA để ký kết và thực hiện các nội dung hợp tác thỏa thuận với PVN và GAS.

GAS và POT sẽ bắt đầu đàm phán Thỏa thuận khung mua bán khí (HOA GSA) ngay trong tháng 01/2019 với mục tiêu hoàn thành đàm phán và ký kết HOA GSA trong Quý III/2020 và dòng khí Tuna đầu tiên sẽ về Việt Nam vào Quý III/2024 và khối lượng khí tối thiểu đạt 3,3 triệu m3 khí /ngày.

Cụm mỏ khí Tuna nằm trên vùng biển có độ sâu khoảng 110 m nước thuộc Indonesia giáp ranh với Việt Nam về phía Tây Nam mỏ Lan Tây, gồm mỏ Kuda Laut và Singa Laut có trữ lượng thu hồi dự kiến trên 10 tỷ m3 khí.

Việc đàm phán thành công Hợp đồng mua bán khí từ mỏ Tuna sẽ giúp GAS bổ sung thêm hơn 10 tỷ m3 khí vào nguồn cung khí đang suy giảm để cấp cho các hộ tiêu thụ khí tại khu vực Đông Nam Bộ kể từ năm 2024 và tạo tiền đề cho việc nhập khẩu khí bằng đường ống về Việt Nam từ các khu vực lân cận và kết nối với các nguồn khí khác trong tương lai.

HỒNG QUÂN

Giá cà phê hôm nay 28/11: Tăng 400 đồng/kg

Giá cà phê hôm nay 28/11 tăng 400 đồng, mỗi kg cà phê đã trở lại mức giao dịch 35.000 đồng. Cà phê quốc tế tiếp tục trầm lắng trước bối cảnh thu hoạch tại các nước.

Giá cà phê Robusta trên sàn ICE Europe – London giao tháng 11 giao dịch ở mức 1.637 USD/tấn, và kỳ hạn giao tháng 1 giao dịch ở mức 1.640 USD/tấn.

Giá cà phê Arabica trên sàn ICE US – New York kỳ hạn giao ngay tháng 12 tăng 0,372% ở mức 107,4 cent/lb và kỳ hạn giao tháng 3 ở mức 112,3 cent/lb tăng 1,336%.

Theo khảo sát, giá cà phê nguyên liệu trong nước giao dịch ở mức từ 35.000 – 35.600 đồng/kg. Giá cà phê nhân xô thấp nhất 35.000 đồng/kg tại Lâm Đồng và cao nhất 35.6 đồng/kg tại Gia Lai.

Giá cà phê hôm nay 28/11: Tăng 400 đồng/kg
Cà phê đang mùa thu hoạch (Ảnh: Lương Bằng)

Giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% tại cảng Tp.HCM giao dịch ở mức 1.532 USD/tấn, trừ lùi 100 USD/tấn (FOB).

Cà phê liên tục rớt giá, đặc biệt là vụ cà phê năm nay mất cả mùa lẫn giá, khiến nhiều người dân Mường Ảng, Điện Biên lao đao. Niên vụ 2018 năng suất cà phê ở Mường Ảng chỉ ước đạt 8 tạ/ha, sản lượng cà phê trấu khoảng 2.500 tấn; giảm hơn 3 lần so với niên vụ 2017. Điều này khiến các hộ dân trồng cà phê tại đây đang gặp nhiều khó khăn.

Chủ trương của huyện vẫn sẽ tiếp tục duy trì ổn định những diện tích cà phê hiện có. Bởi đây vẫn là loại cây trồng mang lại lợi nhuận lớn, giải quyết nhu cầu việc làm cho nhiều lao động trên địa bàn. Theo tính toán, hằng năm, thu nhập cho người lao động nhân công tại các vườn cà phê lên đến trên 100 tỷ đồng.

Dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) tại Mumbai cho biết, sản lượng cà phê niên vụ 2018 – 2019 tại Ấn Độ được dự báo đạt 5,2 triuệ bao 60 kg, vì những trận mưa gió mùa lớn ảnh hưởng đáng kể tới mùa vụ tại các vùng trồng cà phê ở Karnataka và Kerala.

Tiêu thụ cà phê năm mùa vụ 2018 – 2019 dự báo đạt 1,25 triệu bao 60 kg (tương đương 75.000 tấn). Ước tính của ngành cho thấy tiêu thụ cà phê vẫn dao động trong khoảng 1,16 triệu – 1,25 triệu bao 60 kg (tương đương 70.000 – 75.000 tấn).

Nam Hải 

Việt Nam kỳ vọng xuất khẩu gỗ và lâm sản vượt mốc 9 tỷ USD

Sau 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu, ngành Lâm nghiệp luôn giữ được tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững. Đặc biệt, nhờ việc tháo gỡ rào cản, mở rộng thị trường, xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tăng liên tục.

Xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản năm 2018 có thể vượt đích 9 tỷ USD
Xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản năm 2018 có thể vượt đích 9 tỷ USD
Tăng trưởng nhanh, bền vững

Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), sau 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu, ngành Lâm nghiệp với sự đồng hành, nỗ lực vượt khó của cộng đồng doanh nghiệp và nông dân, đã đạt được nhiều kết quả rõ nét, bứt phá và khả quan.

Hiệu quả hoạt động của ngành và thu nhập, đời sống của người dân đã được nâng cao. Lâm nghiệp phát triển nhanh, bền vững gắn với bảo vệ môi trường, khẳng định vị thế là một ngành kinh tế vì môi trường.

Theo đó, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng nhanh, giai đoạn 2010 – 2013 bình quân là 4,82%, đến giai đoạn 2013 – 2018, trị số này đã đạt bình quân 6,5 %/năm, vượt mục tiêu đề ra hơn 2 %.

Diện tích rừng tăng đều và ổn định, từ trên 12,3 triệu ha với độ che phủ rừng 37% năm 2004 tăng lên trên 14 triệu ha với độ che phủ rừng 40,84% năm 2015, đến năm 2017 đã đạt 41,45% và năm 2018 ước đạt 41,65%.

Năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng không ngừng được nâng lên. Đến năm 2017, tổng diện tích rừng trồng gỗ lớn của cả nước đạt 130 ngàn ha, chiếm 3,65% diện tích rừng trồng cả nước. Hàng năm ngành lâm nghiệp đã góp phần phủ xanh thêm diện tích trên 235 ngàn ha rừng tập trung, trong đó trên 90% là rừng sản xuất.

Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng 5 năm qua đã tăng hơn 2,25 lần, từ 8 triệu m3 năm 2013 lên 18 triệu m3 năm 2017. Tỷ trọng nguyên liệu gỗ sản xuất trong nước cung cấp cho công nghiệp chế biến đã tăng từ 66% năm 2012 lên khoảng 80% năm 2017.

Cùng đó, công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản phát triển mạnh với nhiều thành phần kinh tế, với trên 15.400 cơ sở kinh doanh gỗ và sản phẩm gỗ. Ngoài ra có hơn 340 làng nghề, mỗi năm tiêu thụ 4 triệu m3 gỗ nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm cung cấp cho thị trường nội địa…
Đến năm 2017, tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững là gần 220.000 ha, chiếm 3,38% trong tổng số rừng sản xuất của cả nước.

Mở cửa thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu

Theo ông Phạm Văn Điển, Phó Tổng cục Trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), năm 2018 là năm tiếp tục thành công của ngành Lâm nghiệp trong việc tháo gỡ các rào cản, thúc đẩy mở cửa các thị trường xuất, nhập khẩu gỗ.

Đến nay, ngành đã có sự hợp tác với 28 đầu mối và tổ chức lâm nghiệp quốc tế, trong đó có 2 Công ước và nhiều Hiệp định, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế.
Đặc biệt, ngày 19/10/2018, tại Brussel (Bỉ), Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã ký Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT).

“Hiệp định này là sự ghi nhận nỗ lực không mệt mỏi, là sự thừa nhận vị thế và uy tín của Lâm nghiệp Việt Nam, nó thúc đẩy và hỗ trợ tiến trình phát triển đang lên của ngành lâm nghiệp. Thực thi hiệp định cũng là sự kết nối hơn 3 triệu ha rừng trồng là rừng sản xuất cùng đông đảo lực lượng chủ rừng và doanh nghiệp ở Việt Nam với chuỗi giá trị toàn cầu kỹ tính và có đẳng cấp để tạo nguồn thu bền vững, tăng giá trị gia tăng và có hiệu quả cao cho chủ rừng, người dân, doanh nghiệp của nước ta” -ông Điển nói.

Theo lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp, năm 2017, ngành Lâm nghiệp đã xác lập một kỷ lục mới khi ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu đã mang về trên 8 tỷ USD, vượt trước 3 năm so với mục tiêu đề ra của Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020. Việt Nam cũng đã vươn lên trở thành nước đứng thứ 5 trên thế giới, đứng thứ 2 châu Á và lớn nhất ASEAN về xuất khẩu gỗ.

Từ Hiệp định VPA/FLEGT, uy tín và hình ảnh ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam trên toàn cầu được nâng lên. Ngoài EU, ngành gỗ Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng các thị trường khác như Canada, Nga, Anh, Úc, Nhật Bản, góp phần thực hiện mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt từ 12-13 tỷ USD vào năm 2020, vươn lên đứng thứ 4 thế giới.

Theo Tổng cục Lâm nghiệp, cơ cấu hưởng lợi từ rừng có sự chuyển dịch bứt phá là một trong những điểm sáng của quá trình tái cơ cấu ngành. Việc khai thác gỗ từ rừng tự nhiên đã dừng lại, thay vào đó là nguồn thu hàng năm từ lâm sản ngoài gỗ (ước tính trên 1,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ đạt trên 330 triệu USD/năm); thu từ gỗ rừng trồng sản xuất (nguồn thu chính) và thu từ dịch vụ môi trường rừng (giai đoạn 2011-2017 đạt trên 8.000 tỷ đồng).

Xi măng và clinker vào nhóm xuất khẩu “tỷ USD”

Số liệu của Tổng cục Hải quan cho biết, xuất khẩu (XK) clinker và xi măng trong 10 tháng đầu năm 2018 tăng mạnh cả về sản lượng và kim ngạch, đạt trị giá 1,01 tỷ USD với sản lượng xuất khẩu 26,2 triệu tấn.

Xuất khẩu xi măng và clinker tăng mạnh. Ảnh minh họa: Internet

Xuất khẩu xi măng và clinker tăng mạnh. Ảnh minh họa: Internet

Đến hết tháng 10, sản lượng XK mặt hàng này tăng 73% so với cùng kỳ và tăng 90% về giá trị. Số liệu cập nhất mới nhất từ Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, XK clinker và xi măng của Việt Nam tính riêng trong nửa đầu tháng 11/2018 đạt gần 1,6 triệu tấn với giá trị kim ngạch XK đạt 65,7 triệu USD, nâng tổng mức xuất khẩu từ đầu năm tới ngày 15/11/2018 lên mức 27,8 triệu tấn đạt trị giá 1,07 tỷ USD.

Trung Quốc hiện là thị trường XK xi măng và clinker lớn nhất của Việt Nam khi nước này đã NK tới hơn 7,6 triệu tấn xi măng và clinker trong 10 tháng qua với tổng kim ngạch lên tới 277 triệu USD.

Xuân Yến

Kỳ vọng đồng USD tăng gây bất lợi cho giá vàng

Môi trường với các yếu tố hỗ trợ cho đồng USD và không tốt cho giá vàng dự kiến sẽ ngày một rõ nét hơn trong tháng tới.

Kỳ vọng đồng USD tăng gây bất lợi cho giá vàng

Ảnh: MarketWatch

Phiên giao dịch ngày thứ Ba, giá vàng giảm phiên thứ 3 liên tiếp. Chỉ số đồng USD mạnh lên khi mà đồng euro và đồng bảng Anh yếu đi. Giới đầu tư dõi theo những thông tin liên quan đến tiến trình Anh đàm phán để rời khỏi Liên minh châu Âu (EU).
Các chỉ số chứng khoán Mỹ biến động khá nhiều, tuyên bố mới nhất từ Tổng thống Donald Trump không khỏi khiến giới đầu tư lo lắng về khả năng khó có một giải pháp trong ngắn hạn cho vấn đề căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc.
Thị trường New York, giá vàng giao kỳ hạn tháng 12/2018 giảm 5,90USD/ounce tương đương 0,5% xuống 1.216,50USD/ounce. Giá vàng giao kỳ hạn tháng 2/2019 giảm 5,20USD/ounce tương đương 0,4% xuống 1.223,50USD/ounce.
Chỉ số đồng USD, chỉ số đo biến động của đồng USD so với 6 loại tiền tệ lớn khác, tăng 0,3%. Đồng euro và đồng bảng Anh đồng loạt hạ giá so với đồng USD. Đồng USD mạnh lên thường khiến cho nhu cầu đối với hàng hóa định giá bằng USD giảm sút.
EU đã chấp thuận cho Anh rời khỏi EU. Sau khi Nghị viện Anh thông qua chính sách này, Anh sau đó sẽ có thể tập trung vào việc đàm phán về mối quan hệ thương mại và an ninh với EU khi Anh chính thức rời khỏi EU vào tháng 3/2018. Thủ tướng Anh, bà Theresa May, hiện đang đối đầu với nhiều khó khăn trong việc giành được sự ủng hộ của nghị viện.
Đồng USD tăng giá sau khi phó chủ tịch Fed, ông Richard Clarida, khẳng định chính sách lãi suất của Fed cần phải nhắm đến mục tiêu đảm bảo tăng trưởng kinh tế và rằng việc nâng lãi suất dần dần sẽ đáp ứng tốt nhất những mục tiêu này.
Môi trường với các yếu tố hỗ trợ cho đồng USD và không tốt cho giá vàng dự kiến sẽ ngày một rõ nét hơn trong tháng tới, tuy nhiên kỳ vọng của tốc độ thay đổi lãi suất trong năm sau đã thay đổi, theo khẳng định của chủ tịch Fed, ông Jerome Powell.
Trưởng bộ phận chiến lược tại ACLS Global, ông Marshall Gittler, chỉ ra cả chủ tịch Fed và phó chủ tịch Fed đều có những bài phỏng vấn gây sốc thị trường, từ khi Fed đưa ra tuyên bố sau cuộc họp của ủy ban thị trường mở, kỳ vọng nâng lãi suất đã thay đổi.
TRUNG MẾN

TT cà phê ngày 21/11: Ảm đạm với giá liên tiếp sụt giảm

Giá cà phê nhân xô các tỉnh Tây Nguyên ngày 21/11/2018 lùi thêm 100 đồng xuống  34.800 – 35.500 đồng/kg (lúc 9h sáng). Tại cảng TPHCM, giá cà phê xuất khẩu loại 2, tỷ lệ đen vỡ 5% giao dịch tại 1.525 USD/tấn (FOB), trừ lùi ở mức 100 USD/tấn.

TT cà phê ngày 21/11: Ảm đạm với giá liên tiếp sụt giảm

Tham khảo giá cà phê nhân xô tại Việt Nam  

TT nhân xôGiá trung bìnhThay đổi
FOB (HCM)1.525Trừ lùi: -100
Đắk Lăk35.500-100
Lâm Đồng34.800-100
Gia Lai35.300-100
Đắk Nông35.300-100
Hồ tiêu57.0000
Tỷ giá USD/VND23.290+20
Đơn vị tính: VND/kg|FOB: USD($)/tấn

Nguồn: Diễn đàn của người làm cà phê

Thị trường cà phê trong nước vẫn theo diễn biến của thị trường robusta thế giới. Cụ thể, giá thấp nhất chốt ở 34.800 đồng/kg tại Lâm Đồng và cao nhất ở 35.500 đồng/kg tại Đắk Lăk.

Lượng tiêu thụ cà phê robusta trên toàn cầu được dự báo sẽ tăng lên mức kỷ lục trong mùa này nhờ nhu cầu cà phê hòa tan tăng mạnh ở các thị trường đang phát triển. Đây là một thông tin tốt đối với các nông dân Việt Nam. Họ vừa đón tin vui trong tháng 10/2018, khi giá cà phê trong nước tăng vọt 10% vì các hợp đồng chuẩn toàn cầu hồi phục trở lại.

Báo cáo từ Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho biết, giá cà phê thế giới đảo chiều xu hướng giảm trong 4 tháng với chi số tổng hợp ICO trung bình hàng tháng tăng 13,3% so với tháng 9 lên 111,21 US cent/pound trong tháng 10.

Intimex đã xây thêm ba nhà máy xử lý robusta với tổng công suất 180.000 tấn, qua đó nâng tổng công suất lên 750.000 tấn. Công ty này dự báo, doanh số nước ngoài của Intimex sẽ tăng trưởng 20% lên mức cao nhất mọi thời đại tại 510.000 tấn trong năm nay.

Cà phê hữu cơ Campuchia đang ghi nhận nhu cầu gia tăng đáng kể sau khi diện tích đất trồng tăng 50% trong hầu hết năm 2018 nhờ sự thay đổi khẩu vị của người dân Phnom Penh.

Với 48 ha diện tích đất, một tổ chức gồm 40 hộ nông dân, đang nhận được hỗ trợ kĩ thuật từ CEDAC tại Mondulkiri, sản xuất 22 tấn cà phê hữu cơ và được Timor, công ty kí kết hợp đồng với người nông dân, phân phối trên thị trường.

Cũng liên quan tới cà phê, chủ tịch kiêm CEO của Coca Cola, ông James Quincey cho biết thương vụ mua lại chuỗi cà phê Costa của Anh với giá 5,1 tỷ USD không phải là nỗ lực của công ty trong việc cạnh tranh với Starbucks mà để tạo ra trải nghiệm cà phê mới cho khách hàng.

Phạm Hòa

Giá dầu thế giới 22/11 phục hồi nhẹ sau thông dự trữ xăng của Mỹ giảm mạnh

Giá dầu thế giới ngày 22/11 đồng loạt phục hồi sau khi Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) công bố thông tin dự trữ xăng của Mỹ trong tuần kết thúc vào ngày 16/11 đang ở mức thấp nhất kể từ tháng 12/2007.

Ảnh minh họa.

Đầu giờ ngày 22/11, theo giờ Việt Nam, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 1/2019 trên sàn New York Mercantile Exchanghe ở mức 54,71 USD/thùng, tăng 8 cent trong phiên. Nếu so với cuối giờ sáng 21/11, giá dầu WTI giao tháng 1/2019 đã tăng 1,28 USD/thùng.

Cùng thời điểm, giá dầu brent giao tháng 1/2019 đứng ở mức 63,53 USD/thùng, tăng 5 cent trong.

Còn theo ghi nhận trên ifcmarketc, đầu giờ sáng 22/11, giá dầu WTI được giao dịch ở mức thấp nhất là 54,65 USD/thùng và cao nhất là 54,71 USD/thùng. Với dầu brent, giá dầu brent được giao dịch ở mức thấp nhất là 63,74 USD/thùng và cao nhất là 63,80 USD/thùng.

Giá dầu thế giới phục hồi nhẹ sau khi EIA phát đi thông tin dự trữ xăng của Mỹ trong tuần kết thúc vào ngày 16/11 đang ở mức thấp nhất kể từ tháng 12/2007; dự trữ các sản phẩm chưng cất cũng giảm 77 ngàn thùng.

Cùng theo EIA thì dự trữ dầu thô tại các kho cảng Cushing, Oklahoma, trung tâm vận chuyển dầu WTI, giảm 116 ngàn thùng – tuần giảm đầu tiên trong 9 tuần.

Theo giới phân tích, giá dầu thế giới còn được hỗ trợ bởi thông tin OPEC và các nước đồng mình, trong đó có Nga, đang cân nhắc cắt giảm nguồn cung từ 1 – 1,4 triệu thùng/ngày vào cuộc họp vào ngày 6/12 tới.

Hà Lê

Tỷ giá ngoại tệ ngày 22/11: Giá USD trong nước tiếp tục tăng

Sáng nay, giá USD tại thị trường trong nước tiếp tục tăng so với phiên hôm qua trong khi chỉ số USD Index trên thị trường thế giới giảm.

Tỷ giá trung tâm VND/USD hôm nay được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 22.733 đồng/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua. Với biên độ +/-3% đang được áp dụng, tỷ giá trần mà các ngân hàng áp dụng hôm nay là 23.413 VND/USD và tỷ giá sàn là 22.052 VND/USD.

Ngân hàng Nhà nước niêm yết giá bán ra USD ở mức 23.363 đồng/USD; giá mua vào vẫn duy trì 22.700 đồng/USD.

Hôm nay, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá giữa VND và CNY ở mức 1 CNY đổi 3.274,56 VND, tăng 5 đồng so với hôm qua.

Trên thị trường tự do, giá mua – bán USD hiện đang là 23.415- 23.425 đồng/USD, ngang giá cùng thời điểm sáng qua.

Giá USD tại nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục tăng so với cùng thời điểm hôm qua. Trong đó, tại Vietcombank, giá USD đang là 23.305-23.395 VND/USD, tăng 15 đồng; VietinBank niêm yết giá 23.307-23.397 VND/USD, tăng 17 đồng; BIDV niêm yết giá 23.305-23.395 VND/USD, tăng 15 đồng.

Chỉ số USD Index trên thị trường thế giới đo lường biến động đồng đô la Mỹ với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) sáng nay đang ở mức 96,60 điểm, thấp hơn mức 96,72 điểm cùng thời điểm sáng qua. Chỉ số giá USD hôm qua dao động trong biên độ từ 96,41 điểm đến 96,73 điểm.

Theo Bloomberg, hiện USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1388 USD; 113,01  Yen đổi 1 USD và 1,2774 USD đổi 1 bảng Anh; 1 USD đổi được 6,934 Nhân dân tệ (CNY)./.

PV/VOV.VN

Đồng USD yếu đẩy giá vàng thế giới đi lên

Giá vàng tăng lên mức cao của hai tuần trong phiên ngày 21/11 do đồng USD xuống giá, cùng với sự không chắc chắn về tốc độ nâng lãi suất của Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang hỗ trợ kim loại quý này.

Đồng USD yếu đẩy giá vàng thế giới đi lên. AFP/TTXVN

Trên sàn giao dịch kim loại COMEX (Mỹ), giá vàng kỳ hạn giao tháng 12/2018 tăng 6,8 USD (0,6%) lên 1.228 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.226,61 USD/ounce, sau khi đạt mức cao nhất kể từ ngày 7/11 là 1.230,07 USD/ounce trước thềm kỳ nghỉ lễ Tạ ơn.

Đồng USD đã phải chịu sức ép trong tuần này bởi những bình luận thận trọng của các quan chức Fed về khả năng kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại đã làm gia tăng những nghi ngại đối với tốc độ nâng lãi suất. Những nghi ngại này xuất phát từ số liệu cho thấy lượng đơn xin trợ cấp thất nghiệp hàng tuần đã tăng lên mức cao của hơn bốn tháng và lượng đơn đặt hàng mới đối với tư liệu sản xuất của Mỹ đã bất ngờ đi ngang trong tháng 10/2018.

Chiến lược gia về thị trường Bob Haberkorn thuộc RJO Futures cho hay với tình hình biến động gần đây trên các thị trường chứng khoán và những số liệu không mấy khả quan từ Mỹ, nhiều nhà đầu tư đang đặt câu hỏi liệu Fed có tiếp tục duy trì kế hoạch nâng lãi suất sau cuộc họp tháng 12 tới hay không và điều đó đang hỗ trợ cho vàng.

Chỉ số đồng USD, thước đo đánh giá đồng bạc xanh với rổ tiền tệ chính, đã giảm xuống khoảng 96,70 điểm. Đồng USD yếu thường khiến vàng trở nên hấp dẫn hơn đối với những nhà đầu tư nắm giữ đồng tiền khác.

Trong khi đó, Jeffrey Christian, một thành viên của CPM Group, cho biết từ nay đến cuối năm, giá vàng có thể sẽ được giao dịch trong khoảng thấp nhất là 1.180-1.200 USD/ounce và khoảng cao nhất là 1.240 -1.250 USD/ounce.

Trên thị trường kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 1,3% lên 14,50 USD/ounce. Kim loại quý này đã đạt mức cao nhất kể từ ngày 8/11 là 14,55 USD/ounce trong phiên trước đó. Giá palladium giao ngay tăng 0,9% lên 1.149,99 USD/ounce, còn giá bạch kim giao ngay cũng tăng 0,9% lên 845,50 USD/ounce.

Minh Hằng (Theo Reuters)

TT kim loại thế giới ngày 21/11/2018: Đồng giảm phiên thứ 2 liên tiếp

Giá đồng tại London ngày 21/11/2018 giảm, do chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang trước cuộc họp giữa 2 người đứng đầu nền kinh tế hàng đầu thế giới vào tuần tới.

TT kim loại thế giới ngày 21/11/2018: Đồng giảm phiên thứ 2 liên tiếp

Chính quyền Mỹ cho biết, Trung Quốc đã thất bại trong việc thay đổi thực tiễn “không công bằng”, thêm vào đó là căng thẳng trước cuộc họp vào cuối tháng này giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London giảm 0,2% xuống 6.170 USD/tấn, trong khi các kim loại cơ bản trên sàn Thượng Hải giảm, giá đồng kỳ hạn giao sau giảm 1,3% xuống 49.150 CNY (7.077,24 USD)/tấn.
Giá dầu Mỹ duy trì ổn định trong ngày thứ tư (21/11/2018) sau khi giảm hơn 6% trong phiên trước đó, được hậu thuẫn từ báo cáo dự trữ dầu thô thương mại của Mỹ bất ngờ giảm.
Sản lượng nhôm sơ chế toàn cầu trong tháng 10/2018 tăng lên 5,414 triệu tấn so với 5,301 triệu tấn tháng 9/2018, số liệu từ Viện Nhôm Quốc tế (IAI) cho biết.
Nhà sản xuất thép hàng đầu Nhật Bản Nippon Steel & Sumitomo Metal Corp chịu ảnh hưởng bởi thị trường thép châu Á suy yếu, do chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang, có thể khiến nhu cầu thép tại nước nhập khẩu hàng đầu – Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á – suy giảm.
Mexico dự kiến Washington bắt đầu nâng thuế thép và nhôm vào cuối tháng này, khi Canada, Mexico và Mỹ sẽ ký một thỏa thuận thương mại mới, đại sứ Mexico cho biết.
Chứng khoán châu Á giảm trong ngày thứ tư (21/11/2018), chịu áp lực bởi chứng khoán phố Wall bán tháo và giá dầu thô giảm mạnh do lo ngại tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
Nguồn: VITIC/Reuters

TT thép xây dựng: Giá giảm ở miền Bắc, miền Nam ổn định

Nhu cầu yếu, sức tiêu thụ chậm, để khuyến khích các nhà sản xuất thép xây dựng phía Bắc đã áp dụng các chương trình chiết khấu khiến giá thép trên thị trường giảm và phổ biến từ 100.000 – 150.000 đồng/tấn so với tháng 9, tùy theo từng chủng loại sản phẩm. Trong khi đó, tại các tỉnh phía Nam giá tương đối ổn định.

TT thép xây dựng: Giá giảm ở miền Bắc, miền Nam ổn định

Ngược với nhu cầu, sản lượng thép trong tháng 10/2018 tăng mạnh, cụ thể thép thô tăng 63,6% ước đạt 1,844 triệu tấn; thép cán đạt 525,600 tấn, tăng 10,5%; thép thanh, thép góc ước đạt 494.100 tấn, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 10 tháng đầu năm 2018, sản lượng sản xuất các sản phẩm này tăng lần lượt 40,5%, 6,6% và 6,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Dự báo, từ nay tới cuối năm, thị trường thép trong nước ổn định. Bộ Công Thương cũng khuyến nghị các doanh nghiệp ngành thép cần nâng cao năng lực cạnh tranh, tự chủ các nguồn nguyên liệu sản xuất ngay trong nước. Đồng thời, nỗ lực khép kín từ khâu đầu vào đến sản xuất để loại trừ dần nguồn gốc xuất xứ từ các nước nhằm giảm đến mức thấp nhất khả năng bị điều tra chống bán phá giá.
Ngược lại với thị trường nội địa, tình hình xuất-nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2018 sôi động, nhập khẩu đã suy giảm trong khi xuất khẩu tăng mạnh.
Cụ thể, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 10 tháng đầu năm 2018 cả nước nhập khẩu 11,46 triệu tấn sắt thép, tổng kim ngạch 8,36 tỷ USD, giảm 9,8% về lượng nhưng tăng 11,7% về kim ngạch so với 10 tháng đầu năm ngoái. Trong đó, riêng tháng 10/2018 nhập khẩu 1,13 triệu tấn, tương đương 852,88 triệu USD, tăng trên 8% cả về lượng và trị giá so với tháng 9/2018. So với cùng tháng năm trước thì giảm 8,2% về lượng nhưng tăng 7,7% về kim ngạch.
Giá sắt thép nhập khẩu trong tháng 10/2018 đạt 753,2 USD/tấn, tăng 0,1% so với tháng 9/2018 và tăng 17,4% so với tháng 10/2017. Tính trung bình cả 10 tháng đầu năm đạt 729,2 USD/tấn, tăng 23,9% so với 10 tháng đầu năm 2017.
Sắt thép chủ yếu được nhập nhiều từ thị trường Trung Quốc, chiếm 46% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước, đạt 5,32 triệu tấn, trị giá 3,83 tỷ USD, giảm 13% về lượng nhưng tăng 9,9% về kim ngạch so với cùng kỳ. Giá nhập khẩu tăng 26,3%, đạt trung bình 720,8 USD/tấn. Riêng tháng 10/2018 nhập khẩu 520.509 tấn sắt thép từ thị trường này, đạt 377,65 triệu USD, tăng 15,6% về lượng và tăng 13,4% về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó.
Ngược lại, xuất khẩu sắt thép trong 10 tháng đầu năm 2018 tăng rất mạnh 38,2% về lượng và tăng 53% về kim ngạch so với 10 tháng đầu năm 2017, đạt 5,24 triệu tấn, trị giá 3,84 triệu USD. Riêng tháng 10/2018 đạt 654.330 tấn, tương đương 453,25 triệu USD, tăng 13,6% về lượng và tăng 11,2% về kim ngạch so với tháng 9/2018 và cũng tăng mạnh 35,8% về lượng và tăng 39,9% về kim ngạch so với tháng 10/2017.
Giá sắt thép xuất khẩu trung bình trong 10 tháng đầu năm tăng 10,7% so với cùng kỳ, đạt 731,6 USD/tấn. Riêng tháng 10/2018 giá xuất khẩu giảm 2% so với tháng 9/2018 nhưng tăng 3% so với cùng tháng năm 2017, đạt 692,7 USD/tấn.
Thị trường xuất khẩu chủ lực là Campuchia, chiếm 21% trong tổng lượng và chiếm 18,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước, đạt 1,1 triệu tấn, tương đương 712,77 triệu USD, tăng mạnh 51,8% về lượng và tăng 75% về kim ngạch so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu sang thị trường này tăng 15,3%, đạt trung bình 645,3 USD/tấn. Riêng tháng 10/2018 đạt 128.805 tấn, tương đương 82,19 triệu USD, tăng 6% về lượng và tăng 5,3% về kim ngạch so với tháng trước đó.
Thông tin liên quan
– Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành 2 quyết định về việc giữ nguyên việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số sản phẩm thép mạ và thép hình chữ H có xuất xứ từ Trung Quốc và Hàn Quốc. Trong thời hạn 60 ngày trước khi kết thúc 01 năm kể từ ngày có Quyết định này, các bên liên quan theo quy định tại Điều 59 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, có thể nộp hồ sơ yêu cầu rà soát.
– Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế Malaysia (MITI) vừa công bố kết luận điều tra sơ bộ vụ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời đối với một số sản phẩm sắt/thép cuộn hợp kim và không hợp kim cán phẳng mạ hoặc tráng kẽm có xuất xứ Việt Nam và Trung Quốc.
MITI kết luận, hàng hóa bị điều tra đang bán phá giá vào Malaysia và gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Theo đó, MITI sẽ tiếp tục vụ việc điều tra và sẽ áp thuế chống bán phá giá tạm thời đối với sản phẩm bị điều tra từ Việt Nam ở 0 – 15,69% và từ Trung Quốc là 0 – 16,13% trong thời gian 120 ngày kể từ ngày 8/11.

Hương Nguyễn – Vinanet

Xuất khẩu thủy sản 10 tháng đầu năm đạt gần 7,3 tỷ USD

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản sang các thị trường trong 10 tháng đầu năm 2018 đạt 7,24 tỷ USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2017.Xuất khẩu thủy sản 10 tháng đầu năm đạt gần 7,3 tỷ USD

Trong đó riêng tháng 10/2018 đạt 879,16 triệu USD, tăng 13% so với tháng 9/2018 và tăng 3% so với tháng 10/2017.

Mỹ vẫn là thị trường dẫn đầu về tiêu thụ thủy sản các loại của Việt Nam, đạt 1,32 tỷ USD, chiếm 18,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Riêng tháng 10/2018 xuất khẩu sang Mỹ đạt 177,58 triệu USD, tăng 9,4% so với tháng liền kề trước đó và cũng tăng 30,6% so với cùng tháng năm 2017.

EU là thị trường tiêu thụ thủy sản lớn thứ 2 của Việt Nam, đạt trên 1,22 tỷ USD, chiếm 16,8%, tăng 4,1%. Riêng tháng 10/2018 đạt 133,44 triệu USD, tăng 5,7% so với tháng 9/2018 nhưng giảm 18,8% so với tháng 10/2017.

Đứng vị trí thứ 3 về kim ngạch là thị trường Nhật Bản, chiếm 15,6%, đạt trên 1,13 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ; trong đó tháng 10/2018 đạt 135,3 triệu USD, tăng 8,3% so với tháng 9/2018 và tăng 9,9% so với tháng 10/2017

Tiếp sau đó là thị trường Trung Quốc chiếm 11,4%, đạt 823,82 triệu USD, giảm 9,4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tháng 10/2018 lại tăng mạnh 30,5% so với tháng 9/2018, đạt 108,63 triệu USD, nhưng giảm 16% so với cùng tháng năm ngoái.

Nhìn chung, xuất khẩu thủy sản trong 10 tháng đầu năm 2018 sang đa số các thị trường tăng trưởng về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017; trong đó xuất khẩu tăng mạnh ở các thị trường như: Campuchia tăng 79%, đạt 21,35 triệu USD; U.A.E tăng 74,9%, đạt 66,42 triệu USD; Ấn Độ tăng 52%, đạt 23,83 triệu USD; Ai Cập tăng 41,8%, đạt 38,06 triệu USD.

Ngược lại, xuất khẩu thủy sản sang thị trường Saudi Arabia giảm mạnh nhất 74,2%, chỉ đạt 14,16 triệu USD. Bên cạnh đó, xuất khẩu cũng giảm mạnh ở Indonesia, Séc và Đan Mạch, với mức giảm lần lượt 28,8%, 42,4% và 33% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017.

Xuất khẩu thủy sản 10 tháng đầu năm 2018

ĐVT:USD

Thị trườngT10/2018+/- so với T9/2018(%)*10T/2018+/- so với cùng kỳ (%)*
Tổng kim ngạch XK879.163.42712,957.237.496.5085,82
Mỹ177.577.9829,431.319.761.72511,83
EU133.438.4165,651.219.244.9934,08
Nhật Bản135.296.7438,311.129.051.8425,65
Trung Quốc108.633.54430,49823.821.510-9,36
Hàn Quốc90.005.05822,48701.490.68812,2
Anh34.999.301-4,46266.739.77714,47
Hà Lan21.647.877-5,73257.529.6996,52
Thái Lan28.452.4964,33241.222.52917,12
Canada27.308.9625,39199.452.4727,03
Đức17.839.35017,2162.097.2408,54
Australia19.730.9265,95160.302.10011,04
Hồng Kông (TQ)17.045.37512,54157.157.69820,86
Bỉ11.276.291-4,44126.482.157-4,22
Italia10.550.7079,07102.843.048-18,52
Philippines12.401.10827,89101.352.039-1,96
Singapore9.572.1175,2993.873.07415,03
Malaysia11.251.16519,9692.681.06410,58
Đài Loan (TQ)10.616.7669,0891.577.377-1,32
Pháp9.200.814-1,9690.492.3203,04
Mexico8.698.70419,9987.264.809-11,55
Israel5.548.985-14,6280.492.20331,87
Nga9.534.445135,2271.755.743-11
Tây Ban Nha10.568.45325,968.538.97928,47
Brazil11.128.28947,9167.855.158-21,07
U.A.E4.265.433-19,1866.420.51974,87
Colombia6.912.3426,9553.220.13515,95
Bồ Đào Nha5.731.2088251.809.08831,09
Đan Mạch5.018.48630,2338.681.708-33,06
Ai Cập4.190.4114,1138.056.22441,77
Thụy Sỹ2.467.27015,6927.248.304-22,69
Ấn Độ2.295.51735,9723.828.22751,98
Ba Lan3.561.12925,9921.568.86026,48
Campuchia2.138.022-9,1721.349.84079,11
Pakistan3.303.42235,3320.306.45215,95
New Zealand2.571.46093,7216.016.85512,52
Ukraine2.031.23320,8714.697.40012,6
Saudi Arabia61.75059,8114.159.864-74,24
Thụy Điển951.011-14,414.016.71911,4
Iraq635.556-10,118.017.427-7,24
Thổ Nhĩ Kỳ440.557-0,157.347.2197,19
Hy Lạp512.627129,827.054.8197,64
Kuwait495.5749,496.835.239-4,96
Romania1.093.92314,546.603.3398,71
Séc487.239309,424.787.240-42,38
Indonesia316.000-47,353.380.252-28,82
Brunei116.21385,41.293.99130,84

(*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)

Thủy Chung – Vinanet

Xuất khẩu gỗ và lâm sản: Cầm chắc 9 tỷ USD

Giữ vững đà tăng trưởng tốt suốt từ đầu năm đến nay, XK gỗ và lâm sản trong 10 tháng đầu năm đã gần bằng kỷ lục của cả năm ngoái. Đó là cơ sở để tin rằng XK gỗ và lâm sản trong cả năm nay chắc chắn sẽ đạt mục tiêu 9 tỷ USD.

Theo Bộ Công Thương, trong tháng 10 vừa rồi, XK gỗ và sản phẩm gỗ sang các thị trường chính đều tăng mạnh. Dẫn đầu là thị trường Hoa Kỳ với trị giá đạt 389 triệu USD, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm 2017; Nhật Bản đạt 104,45 triệu USD, tăng 22%; Trung Quốc đạt 115,141 triệu USD, tăng 10,7%; Hàn Quốc đạt 86,531 triệu USD, tăng 38,4% … Nhờ vậy, XK gỗ và sản phẩm gỗ trong tháng 10 đạt 845,4 triệu USD, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Qua đó, đưa tổng giá trị XK gỗ và sản phẩm gỗ trong 10 tháng đầu năm lên 7,221 tỷ USD, tăng tăng 15,6%. Trong đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 5,05 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2017.

Với nhóm sản phẩm mây, tre, cói và thảm, số liệu của Tổng cục Hải quan, cho thấy, trong tháng 10, giá trị XK đạt 32,728 triệu USD, tăng 25,3% so với tháng 10/2017. Tính ra, trong 10 tháng đầu năm nay, XK mây, tre, cói và thảm đã đạt 278,389 triệu USD, tăng tới 26,7% so cùng kỳ năm ngoái và đã vượt giá trị XK của cả năm 2017 (271,916 triệu USD).

Như vậy, trong 10 tháng đầu năm nay, giá trị XK gỗ và nhóm mây, tre, cói và thảm đã đạt khoảng 7,5 tỷ USD. Đấy là chưa tính giá trị XK của những lâm sản khác ngoài nhóm mây, tre, cói và thảm. Ông Nguyễn Tôn Quyền, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho hay, nếu tính hết giá trị XK của cả các lâm sản khác, thì trong 10 tháng qua, giá trị XK của ngành lâm nghiệp đã đạt trên 7,6 tỷ USD.

Sản xuất đồ gỗ XK

Theo dự báo của Bộ Công Thương, với đà tăng trưởng hiện tại, XK gỗ và sản phẩm gỗ trong cả năm nay có thể đạt 8,85 tỷ USD, tăng hơn 1 tỷ USD so với năm ngoái (năm 2017 XK gỗ và sản phẩm gỗ đạt kỷ lục 7,7 tỷ USD). XK các lâm sản khác ngoài gỗ ước đạt khoảng vài trăm triệu USD. Bởi vậy, đến giờ này, đã có thể khẳng định chắc chắn rằng XK gỗ và lâm sản ngoài gỗ trong năm nay sẽ cầm chắc 9 tỷ USD.

Dự báo nói trên của Bộ Công Thương là có cơ sở. Trước hết, đó là cơ sở thực tế từ việc XK gỗ và nhóm mây, tre, cói và thảm trong năm nay luôn giữ được đà tăng trưởng tốt ở 2 con số. Bên cạnh đó, những tháng cuối năm, nhu cầu NK đồ nội thất, nhất là ở thị trường Mỹ, thường tăng mạnh để phục vụ cho nhu cầu xây cất, sửa sang nhà cửa. Mỹ là thị trường lớn nhất của đồ gỗ Việt Nam, đạt 3,119 tỷ USD trong 10 tháng qua (chiếm 43,2% tổng giá trị XK đồ gỗ Việt Nam). Việt Nam lại đang chiếm 20% giá trị NK đồ nội thất của Mỹ (trong 9 tháng đầu năm nay, giá trị NK đồ nội thất của Mỹ lên tới 14,4 tỷ USD). Do đó, việc Mỹ tăng mạnh NK đồ nội thất trong những tháng cuối năm sẽ có những tác động rất tích cực tới tăng trưởng XK đồ gỗ của Việt Nam.

Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, 3 tháng cuối năm luôn là thời điểm XK mạnh nhất, là thời vụ chính của ngành gỗ và lâm sản. Hiện nay, hầu hết các DN đều đã có đủ đơn hàng XK trong những tháng còn lại của năm, tập trung vào 5 thị trường chính là Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Với giá trị XK đã đạt được trong 10 tháng và căn cứ vào các đơn hàng XK, con số 9 tỷ USD XK của ngành lâm nghiệp chắc chắn sẽ đạt được.

Nhiều cơ hội cho 2019

Theo Bộ Công Thương, XK gỗ và sản phẩm gỗ năm 2019 dự báo tiếp tục tăng trưởng khả quan. Trước hết, gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đang được nhiều thị trường NK lớn chú ý tới.

Lâu nay, khi NK đồ nội thất bằng gỗ từ các nước ngoài EU, nguồn cung chủ yếu cho EU đến từ Trung Quốc (chiếm khoảng 50% giá trị NK đồ nội thất bằng gỗ ngoài EU). Việt Nam là nguồn cung đứng hàng thứ 2. Trong 8 tháng đầu năm 2018, NK đồ nội thất bằng gỗ từ Việt Nam vào EU, chiếm 12,3% tổng trị giá NK đồ nội thất bằng gỗ từ các thị trường ngoài EU. Theo Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (ITTO), trong thời gian gần đây, khả năng cạnh tranh của Trung Quốc trên thị trường đồ nội thất bằng gỗ của EU gặp nhiều khó khăn do giá cả tăng và các luật mới về kiểm soát ô nhiễm ở Trung Quốc.

Trong khi đó, ngành công nghiệp đồ nội thất của Việt Nam đang được các nhà nhập khẩu EU quan tâm, do sự phát triển về mặt kỹ thuật hơn so với các nước ở châu Á và ngày càng có khả năng cung cấp các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng cao cho châu Âu, với nguồn nguyên liệu được nhập khẩu chủ yếu từ Mỹ và châu Âu. Đây là cơ hội lớn để doanh nghiệp XK đồ nội thất bằng gỗ của Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang EU trong thời gian tới.

Hiệp định VPA/FLEGT giữa Việt Nam và EU đã được ký kết, sẽ giúp tăng cường quản trị rừng, giải quyết tình trạng khai thác gỗ bất hợp pháp và thúc đẩy gỗ của Việt Nam XK sang EU, mở rộng thị phần XK gỗ của Việt Nam ra thị trường thế giới.

Căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc được đánh giá là sẽ mở ra cơ hội đối với gỗ và sản phẩm gỗ XK của Việt Nam, đặc biệt là đồ nội thất. Hồi tháng 9, việc Chính phủ Mỹ tuyên bố áp mức thuế 10% lên nhiều loại hàng hóa của Trung Quốc, trong đó có mặt hàng đồ nội thất bằng gỗ, chưa có tác động tiêu cực tới việc NK đồ nội thất bằng gỗ từ Trung Quốc vào Mỹ.

Cụ thể, NK đồ nội thất bằng gỗ của Mỹ từ Trung Quốc trong 9 tháng đầu năm đạt 6,66 tỷ USD, tăng 6,4% so cùng kỳ 2017. Gần đây, khi Mỹ tuyên bố đánh thuế 25% lên nhiều hàng hóa NK từ Trung Quốc, trong đó có đồ nội thất bằng gỗ, với thời hạn bắt đầu áp dụng là 1/1/2019, các nhà nhập khẩu Mỹ đã tăng NK đồ nội thất bằng gỗ từ Trung Quốc nhằm tránh mức thuế nói trên. Tuy nhiên, theo khảo sát mới nhất từ các công ty sản xuất đồ nội thất của Trung Quốc, trong tháng 9/2018, số đơn hàng mới xuống thấp nhất trong vòng hai năm qua. Vì vậy, nhiều hãng sản xuất đồ nội thất của Trung Quốc đã ngừng kế hoạch mở rộng và hạn chế đầu tư mới. Đây chính là cơ hội tốt cho các công ty sản xuất đồ gỗ nội thất của Việt Nam.

XK mây, tre cói và thảm có khả năng lần đầu tiên vượt mốc 300 triệu USD

Nhóm hàng mây, tre, cói và thảm năm nay tăng trưởng mạnh

Sau 8 năm luôn đạt giá trị XK ở mức trên 200 triệu USD, đến năm nay, nhóm hàng mây, tre, cói và thảm đang đứng trước cơ hội lần đầu tiên chạm mốc XK 300 triệu USD. Cụ thể, vào năm 2010, với mức tăng trưởng vượt trội (tăng 84,6% so với năm 2009), lần đầu tiên, XK mây, tre, cói và thảm vượt mốc 200 triệu USD và đạt 203,109 triệu USD. Nhưng trong 7 năm liên tiếp sau đó, từ 2011-2017, tăng trưởng XK của nhóm hàng này qua từng năm lại chỉ rất khiêm tốn, chưa bao giờ đạt 2 con số, thậm chí có năm còn tăng trưởng âm. Trong 3 năm gần nhất, tăng trưởng nhóm hàng mây, tre, cói và thảm rất thấp: Năm 2017 đạt 271,916 triệu USD, tăng 3,5%; 2016 đạt 262,795 triệu USD, tăng 1,1%; 2015 đạt 259,831 triệu USD, tăng 3,8%.

Chính vì vậy, mức tăng trưởng 26,7% trong 10 tháng đầu năm nay của nhóm hàng mây, tre, cói và thảm là rất ấn tượng. Với đà tăng trưởng tốt, nhiều khả năng khi kết thúc năm nay, lần đầu tiên nhóm hàng mây, tre, cói và thảm vượt mốc XK 300 triệu USD, qua đó, đóng góp không nhỏ vào mục tiêu 9 tỷ USD của ngành lâm nghiệp.

EU là thị trường lớn nhất của mây, tre, cói và thảm Việt Nam khi đạt 79,13 triệu USD trong 9 tháng đầu năm, chiếm 32,2% tổng giá trị XK nhóm hàng này. Tiếp đó là Mỹ với 48,4 triệu USD; Nhật Bản đạt 45,862 triệu USD; Hàn Quốc 13 triệu USD, Úc 11 triệu USD…

Ngành gỗ xuất siêu hơn 5,3 tỷ USD

10 tháng đầu năm nay, trong khi XK gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,221 tỷ USD, thì giá trị NK gỗ và sản phẩm gỗ là 1,871 tỷ USD. Như vậy, trong 10 tháng qua, ngành gỗ đã xuất siêu 5,359 tỷ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, giá trị xuất siêu của ngành gỗ đã tăng gần 1 tỷ USD (10 tháng đầu năm 2017, ngành gỗ xuất siêu 4,453 tỷ USD). Trong các mặt hàng nông sản XK chủ lực, giá trị xuất siêu của gỗ và sản phẩm gỗ chỉ đứng sau thủy sản (hơn 5,8 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm nay).

THANH SƠN